1
The nominalist turn in theorizing power
Pertti Alasuutari, European Journal of Cultural Studies, 13:4, pp. 403-417, 2010.
Cuộc chuyển đổi duy danh trong xây dựng lập lý thuyết về quyền lực
Pertti Alasuutari
Đại học Tampere
Người dịch: TS. Đoàn Thị Tuyến.
Với thuật ngữ nghiên cứu văn hóa chúng tôi đề cập đến nghiên cứu liên ngành và đa ngành, đến sự can thiệp đối với các
mối tương quan giữa thực hành văn hóa và liên hệ xã hội và tổ chức quyền lực. (Association for Cultural Studies, 2009)
Quyền lực là một khái niệm chủ yếu trong nghiên cứu văn hóa. Ví dụ, các qui tắc của Association for Cultural Studies [Hiệp hội
nghiên cứu văn hóa], một tổ chức hướng đến thiết lập và thúc đẩy một cộng đồng nghiên cứu văn hóa toàn thế giới, phát biể
u
rằng:
Tương tự, ‘Mục tiêu và ý định’ của Tập san European Journal of Cultural Studies [Tập san nghiên cứu văn hóa Châu Âu] đ
ã
phát biểu rằng Tập san sẽ ‘tham gia vào các thảo luận có tính phê bình về các tương quan quyền lực liên quan tới phạm vi giới
tính, giai cấp, tình dục, tộc người và các điểm vi mô và vĩ mô của xung đột chính trị’.
Tuy nhiên, quyền lực là gì? Thật khó mà định nghĩa được; nó cũng chủ yếu giống như khái niệm là dành cho nghiên cứu văn
hóa và các ngành khoa học xã hội nói chung. Cho nên trong nhiều tình huống nó bị bỏ ngỏ không được định nghĩa, mặc
định
rằng thính giả đã biết nó nghĩa là gì. Như được nhắc tới trong lời mời viết bài cho hội thảo quốc tế mang tên ‘Power: Forms,
Dynamics and Consequences’ [Quyền lực: các dạng thức, động lực học và hệ quả] tổ chức 9/2008 ở Tampere, Phần lan, một
b
ài
phát biểu then chốt định hình phần cơ bản của chủ đề đặc biệt này: đối với các nhà khoa học xã hội quyền lực, ở những chừng
n đây đã chứng kiến một mối quan tâm ngày
càng tăng đối với thảo luận quyền lực là gì và nó hoạt động như thế nào. Ví dụ, một tập san mới, Journal of Power [Tạ
p
chí về quyền lực], đã được ra đời vào năm 2008. Cuộc hội thảo về quyền lực diễn ra năm 2008, mà được dự định tổ chức
hai năm một lần. là một ví dụ khác. Sự chú ý được mở rộng dành ưu tiên cho chủ đề quyền lực có lẽ xuất phát từ những
cơ chế mới về quyền lực và sự cai trị, trong đó liên tục thách thứ
c những cách hiểu cũ về các mối quan hệ quyền lực.
Một cập nhật trong cách hiểu của chúng ta về quyền lực là cần thiết; tuy nhiên, như Mitchell Dean nhấn mạnh trong bài
viết của ông về chủ đề này, chúng ta cần tham gia tạo nên các khái niệm mà thỏa mãn được trải nghiệm hiện tại và
những gì mới lạ hoặc khác biệt ở trải nghiệm đó, và không cần tuyên bố là phổ biến hay phổ
quát. Rút cuộc, những khái
niệm và trải nghiệm như vậy có thể thúc đẩy các lý thuyết của chúng ta về quyền lực.
N
hững bài viết trong số báo đặc biệt này được gắn với công việc ấy. Suy ra từ những lý thuyết về quyền lực đang tồn tại
cũng như các dữ liệu dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm sống về cơ chế hiện tại của nó, chúng có đóng góp đáng kể tới
việc hiểu các mối quan hệ quyền lực. Dựa trên những bài viết và những xu hướng khác trong vi
ệc nghiên cứu và tạo r
a
các lý thuyết quyền lực tôi biện luận rằng, tiếp theo gợi ý của Foucault để là duy danh (nominalistic) liên quan đế
n
quyền lực, chúng ta đang chứng kiến một chiều hướng duy danh. Một lập luận như thế không được tuyệt đối đưa r
a
trong bất kỳ bài viết nào ở số ra đặc biệt này. Tuy nhiên, cách giải thích này – sẽ được nói chi tiết trong những phần tiế
p
theo bên dưới – là phù hợp với những luận điểm mà các tác giả đã nêu.
Một số độc giả của chúng tôi có thể đặt câu hỏi thẳng thắn rằng liệu những bài viết trong số ra đặc biệt này có đại diện
cho nghiên cứu văn hóa. Đến từ nhiều ngành học khác nhau, các tác giả chắc chắn sẽ viết theo những cách thức và góc
nhìn mà không phải là những điều thường thấy trong sự uyên bác về
nghiên cứu văn hóa. Tuy nhiên, bởi vì quyền lực
sẽ ở vị trí để thực hiện nguyện vọng của chính mình bất chấp sự kháng cự, không tính đến nền tảng trên đó cái khả năng có
thể xảy ra này ngừng lại’ (1978: 53) – tuy nhiên với ông, chỉ riêng vũ lực thì không cấu thành quyền lực. Mặc dù Webe
r
công nhận rằng sự đe dọa và việc dùng sức mạnh vũ lực như một cách bảo vệ trật tự xã hội hiện ra ở trong cùng, bạo lực
thô bạo là giải pháp cuối khi mà những giải pháp khác đã thất bại. Với lý do đó, Weber đã suy luận, sự hợ
p
pháp hóa
quyền lực là câu hỏi có tính phê phán: không có một vài xử sự chấp thuận từ những người khác, thì không có quyền lực.
Cách Weber định nghĩa quyền lực đã từng được gọi là cách tiếp cận phân biệt bởi vì quyền lực, trong trường hợ
p
này,
thường được hiểu như là một trò chơi zero-sum: một số lượng cố định của quyền lực có thể được phân phát giữa những
người tham gia. Nghĩa là, nếu A có quyền đối với B, để B có quyền, A phải chịu mất một chút (Mann, 1986). Tuy nhiên,
như Parsons đã lưu ý, một định nghĩa như thế giới hạn quyền lực với khía cạ
nh phân biệt của nó. Có một khía cạnh tập thể
thứ hai về quyền lực, nhờ đó những cá nhân chung sức có thể nâng cao quyền lực chung của họ đối với các nhóm thứ
b
a
hoặc trạng thái ban đầu (Parsons, 1960). Như Michael Mann (1986) chỉ ra, trong hầu hết các mối quan hệ xã hội - cả hai
khía cạnh của quyền lực – phân biệt và tập thể, hoặc lợi dụng và thực dụng – có hiệu lực đồng thời và hòa quyện vào nhau.
Được so sánh với lý thuyết về quyền lực của Weber and Parson, mà được gọi là các lý thuyết nguồn lực theo nghĩa rằng
chúng thừa nhận quyền lực như một nguồ
n lực mà các chủ thể hành động có thể có trong tầm tay, lý thuyêt ‘tính xê dịch
(dislocational)’ về quyền lực của Foucault mở rộng phạm vi, bởi vì các chủ thể hành động không còn được xem như
b
ên
ngoài quyền lực như thể một nguồn lực. Thay vào đó, Foucault thừa nhận bản sắc của chủ thể hành động có liên can đến
một mạng lưới các mối quan hệ quyền lực như thể ít nhất là một phần được cấu thành bởi những mối quan hệ đó. Theo
đấu tranh’ (Foucault, 1982: 794). Thứ hai, ông bỏ bạo lực sơ khai (plain violence) ra khỏi định ngh
ĩ
a
quyền lực của ông. Điều này là bởi vì một mối quan hệ bạo lực tác động lên cơ thể hoặc sự vật, trong khi một mối quan
hệ quyền lực là một phương thức hành động mà tác động lên các hành động của người khác: ‘một hành động chống lại
một hành động, dựa trên các hành động đang tồn tại hoặc những hành động mà có thể xuất hiện ở hiệ
n tại hoặc tương
lai’ (Foucault, 1982: 789). Hơn nữa, mặc dù không rõ ràng liệu Foucault đã muốn nói như vậy, theo cách giải thích củ
a
Kusch, Foucault mặc nhiên công nhận rằng mối quan hệ giữa A và B là được thể chế và hợp lý hóa ở một mức độ nào
đó. Theo Kusch, ông cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tầm vĩ mô của những phức cảm chiến lược, mặc dù trong các
phân tích theo kinh nghiệm của chính Foucault chúng được kết nối với nhau một cách trơn tru với tình tiết sách lược vi
mô. Hence Heiskala gợi ý một khái niệm tĩnh và rộng hơ
n về quyền lực, trong đó đề cập đến toàn bộ các mối quan hệ
giữa A và B (tương tự) như là các mối quan hệ quyền lực, không kể liệu chúng là hiện thân của việc đo đếm chiến lược
hoặc là thể chế ở bản chất hoặc được hợp lý hóa. Với việc mở rộng đối với cách tiếp cận cấu trúc về quyền lự
c của
Foucault như vậy, ‘mỗi một quan hệ xã hội là một quan hệ quyền lực và, vì vậy, quyền lực thực sư là ở “khắp mọi nơi”’
(Heiskala, 2001: 250).
Không giống với Kusch, có thể được lập luận chắc chắn rằng bản thân Foucault có một khái niệm rộng về quyền lực
như vậy trong đầu. Ông có kết nối quyền lực với các tình huống chiến lược và chiến thu
ật liên quan với chúng, tu
y
nhiên, ý niệm về chiến lược của ông không đòi hỏi có một nhà chiến lược tỉnh táo. Các tình huống chiến lược giống
như một hiện tượng nổi bật đối với ông, giống như là được nhắc tới trong đoạn trích sau:
Không có quyền lực mà được thực hành không với một chuỗi mục tiêu và mục đích. Tuy nhiên điều này không có nghĩa rằng nó
xảy ra như một kết quả của quyết định hoặc lựa chọn của một chủ thể cá nhân . . .sự hợp lý của quyền lực được đặc trưng bởi các
chiến thuật mà thường khá là rõ ràng ở mức độ giới hạn nơi chúng được khắc ghi (thuy
m
là quan hệ quyền lực hoặc có thể được biện luận là để có một khía cạnh quyền lực, khái niệm ấy mất đi ý ngh
ĩ
a
hoặc trải nghiệm được thổi phồng của nó. Nói về quyền lực cũng trở nên tương tự như nói về các hệ thống xã hội
và tương tác của con người trong các dạng thức khác nhau. Đây là nơi mà chiều hướng duy danh trong tạo lậ
p
lý
thuyết về quyền lực trở thành hiện thực.
Cách tiếp cận duy danh
Foucault đã nhận ra các vấn đề liên quan tới việc đưa ra một định nghĩa bao quát về quyền lực và tưởng tượng về
nó như một cái thống nhất, như là một sự vật riêng rẽ ngoài kia trong thế giới. Như ông đã phát biểu trong bài
giảng của mình vào ngày 8 thang 3 năm 1978:
Tôi biết rõ rằng có người nói tất cả những gì chúng ta làm khi nhắc đến quyền lực là phát triển một bản thể luận vòng tròn và
nội tại về quyền lực. (Foucault, 2007: 247–8)
Đó là tại sao đôi khi ông viết ‘Quyền lực’ trong những dấu ngoặc có vẻ hăm dọa, do vậy mà duy trì khoảng cách
với nó như thể một khái niệm phân tích. Thay vì tạo ra một bản thể học về quyền lực, ông gợi ý tới một cách tiế
p
cận trên danh nghĩa:
Và ‘quyền lực’, tới mức là thường trực, lặp lại, trì trệ, và tự sản sinh, chỉ là tác động toàn diện nảy sinh từ toàn bộ những tính
lưu động này, sự trùng khớp dựa trên cơ sở từng cái một và lần lượt tìm kiếm nắm giữ xu hướng của chúng. Một thứ cần phải
trên danh nghĩa, không còn nghi ngờ gì: quyền lực không phải là một thể chế, và không phải là một cấu trúc; nó c
ũng không
phải là một sức mạnh cụ thể được phú cho chúng ta; nó là một cái tên qui cho cho một tình huống chiến lược phức tạ
p
trong
một xã hội cụ thể. (Foucault, 1980[1978]: 93)
Một trong những lý do khiến Foucault đấu tranh và giữ khoảng cách với việc nhìn nhận quyền lực như một khái
được chỉ với điều kiện nó giấu giếm một phần quan trọng của bản thân nó. Thành công của nó tỷ lệ thuận với khả năng che
giấu đối với chính các cơ chế của nó. Liệu quyền lực có được chấp nhận nếu nó hoàn toàn là yếm thế? Với nó, (giữ) bí mậ
t
không nằm trong bản chất của sự lạm dụng; nó là không thể thiếu được đối với quá trình hoạt động của nó. Không phải chỉ bởi
vì quyền lực áp đặt việc giữ bí mật đối với những ai nó thống trị, mà bởi vì có lẽ là gần như tuyệt đối cần thiết cho cái sau: liệ
u
họ có chấp nhận nó nếu họ không coi nó như một giới hạn không đáng kể đặt trên dục vọng của họ, bỏ lại một đơn vị đo sự t
ự
do – song không đáng kể– không bị đụng chạm? quyền lực giống như một giới hạn thuần túy tấn công sự tự do, ít ra là trong
xã hội của chúng ta, là dạng thức chung của tính chất có thể chấp nhận được của nó. (Foucault, 1980[1978]: 86)
Theo Foucault, một lý do cho vị trí thống trị của ý niệm pháp lý về quyền lực là sự thật lịch sử: những thể chế to
lớn của quyền lực được phát triển ở thời Trung cổ ở Châu Âu hoạt động giống như là một nguyên tắc của quyền
lợi mà tốt hơn mọi tuyên bố không giống nhau về các quyền lực đang xung đột, do đó biện minh cho vị trí củ
a
chúng bằng nhận diện nguyện vọng của nó với luật lệ, và hành động thông qua các cơ chế về sự cấm chỉ và
p
hê
chuẩn:
Luật lệ không đơn giản chỉ là một thứ vũ khí được vận dụng khéo léo bởi những ông vua; đó chính là phương thức biểu lộ
của hệ thống quân chủ và đồng thời là một dạng thức của tính chất có thể chấp nhận của quyền lực. Ở các xã hội phương tây
từ thời Trung cổ, các thực hành quyền lực từng luôn được dựng thành công thức dưới dạ
ng luật.
Bất chấp những cố gắng được thực hiện sau này để thoát khỏi phạm vi ảnh hưởng pháp lý từ thể chế quân chủ v
à
để giải thoát cán sự của chính quyền khỏi pháp lý, theo Foucault sự biểu trưng quyền lực vẫn là then chốt trong
hệ thống đó. Quá trình hoạt động của những phương pháp mới của quyền lực
bối cảnh may mắn theo phép phân tích, trong đó những người thảo luận pha trộn các viễn cảnh
p
hân tích và qui
chuẩn. Tuy nhiên, ông phản đối quan điểm cho rằng quyền lực là một khái niệm được tranh giành về bản chất.
Bằng cách thay vì gợi ý rằng quyền lực là một khái niệm giống với gia đình, ông đề xuất rằng chúng ta không
cần ý kiến cho rằng có một cách sử dụng đúng đắn và duy nhất của khái niệm. Tiếp theo lý thuyết ba chiều cạnh
về quyền lực của Steven Lukes (2004[1974]) và ứng d
ụng thuật ngữ của Stuart Clegg (1989) được dựa trên nó,
Haugaard gợi ý rằng có ba thành viên của gia đình quyền lực – chia đoạn (episodic), bố trí (dispositional) v
à
thẩm thấu (systemic):
Quyền lực episodic nói đến sử dụng quyền lực mà được kết nối với tổ chức. Quyền lực dispositional có nghĩa là sức chứa cố
hữu của một tác nhân có thể có, không kể đến việc liệu chúng vận hành sức chứa hay không. Quyền lực systemic ám chỉ cách
các hệ thống xã hội cho trước hội ý những khác biệt về quyền lực dispositional với các tác nhân, và do đó cấu trúc nên những
khả năng hành động. (Haugaard, p. 000 in this issue).
Từ một viễn cảnh phương pháp luận dân tộc học, gợi ý của Haugaard cho rằng quyền lực là một khái niệm giống
với gia đình được sử dụng trong ba cách này có nghĩa rằng đó là một giải thích về những gì ‘các thành viên’
muốn nói khi họ nói về quyền lực, hoặc mô tả cái gì đó như một ví dụ của các quan hệ quyền lực. Nói một cách
khác, sự giải thích cho rằng cách dùng quen thuộc củ
a thuật ngữ ‘quyền lực’ có thể được nắm bắt bởi ba dạng
thức sử dung của nó – nhưng liệu có phải những điều này là những gì Haugaard thực sự muốn nói trong gợi ý củ
a
ông?
Ít ra là rất rõ ràng ngay từ ban đầu rằng ‘các thành viên’ trong trường hợp này không phải là bất kỳ cá nhân nào,
bởi vì cả ba cách dùng quen thuộc này của quyền lực khó mà nắm bắt được toàn bộ các dạng có liên quan. Thừa
nhận một định nghĩa có tính chất sách vở: cộng thêm các ý nghĩa mà ít nhiều bao bọc cái nhìn ba chiều cạnh đề
cập ở trên, có nhiều những cách dùng khác. Thay vì
luận quyền lực. Ví dụ, như ông đã chỉ ra, cách hiểu hẹp hòi về quyền lực như là những giới hạn bên ngoài
đơn thuần với tự do đ
ã giúp che giấu một phần đáng kể của việc thực hiện chức năng quyền lực. Theo
nghĩa đó, sự phơi bày của các dạng thức tinh vi khác nhau của chính quyền cũng có thể được xem như là
các động thái chính trị, phản chiến lược trong trò chơi. Vì vậy gợi ý của ông cho rằng quyền lực là ‘cái tên
qui cho một tình huống chiến lược phức tạp trong một xã hội cụ thể’ có thể
được giải thích để nói rằng
việc gắn quyền lực cho một tình huống là một động thái mang tính chiến lược. Bằng cách làm như vậy
nhà nghiên cứu – hoặc bất kỳ chủ thể hành động nào làm thế - chính trị hóa tình huống, nghi ngờ các giới
hạn hiển nhiên và những cái bị phơi bày trong đó mà từng được nhìn thấy và thảo luận, bao gồm các ý
niệm quyền lực được tuyển dụng.
Khi chúng ta nhìn nhậ
n nghiêm túc quan điểm đặt ra trong các phân tích về đời sống xã hội của Foucault
mà thể chế hóa các mối quan hệ giữa các các chủ thể hành động khác nhau cũng cấu thành các bản sắc của
những người nắm giữ các vị trí khách quan khác nhau, nó trở nên rõ ràng là bất kỳ một tình huống nào
cũng có thể bị nghi ngờ theo nhều cách. Mặc dù nguồn lực cơ bản thường được thèm khát bởi mọi chủ thể
hành động, chúng ta luôn đượ
c định hình theo một số cách bởi các thể chế đang tồn tại như thể là các đối
tượng mơ ước, và vì vây bất kỳ khát vọng do bản thân chúng ta hay những người khác đều có thể được
gợi lên như thể các chuyển dịch chiến lược và tương phản bởi phản chiến lược trong trò chơi quyền lực
hiện tại mãi mãi.
Để lấy một ví dụ cho những phức tạ
p liên quan, chúng ta hãy sử dụng chính kiến về bản sắc liên quan tới
đồng tính luyến ái. Phong trào đồng tính nam và đồng tính nữ ở Mỹ từng giành được vị trí bá chủ trong các
diễn ngôn công khai với câu chuyện vượt ra khỏi phòng họp kín. Theo đó, trước những năm1970, khi
những người đồng tính luyến ái đầu tiên bắt đầu công khai xu hướng giới tính của họ, tất cả họ đã phải trải
qua một cuộc sốn bí mậ
t. Họ phải che dấu con người đích thực của họ. Việc đưa ra công khai đánh dấu
tính xác thực và là hành động mở đầu cho tự do. Tuy nhiên, những gì được biết đến như là ‘lý thuyết đồng
tính luyên ái’ lại thách thức câu chuyện về tự do như vậy. Cái nhìn này chỉ ra rằng
p
đến cách tiếp cận duy danh đối với quyền lực. Trong chừng mực đối lập mà chúng lộ rõ, một mặt cả hai qua
n
điểm phương pháp luận dân tộc học và phe phái đều cố gắng đối phó với một vấn đề chung hoặc nảy sinh t
ừ
một sự chắc chắn chung, theo đó việc tạo ra một bản thể học về quyền lực là một sự nghiệp phù phiếm. Giải
pháp phương pháp luận dân tộc học là để đặt câu hỏi đó sang một bên và thay vào đó tìm hiểu theo lối kinh
nghiệm việc các thành viên nói về những gì và khi nào thì họ nói về ‘quyền lực’, và nói chuyện quyền lực
như vậy có các chức năng và tác dụng gì. Cách tiếp cậ
n phe phái là để nắm lấy các khái niệm tồn tại về quyền
lực như là một điểm xuất phát và để tiếp tục cuộc thảo luận bằng cách chỉ ra những mâu thuẫn và thiếu só
t
của chúng, nhận biết đầy đủ rằng các cách nhìn được có được trong cuộc thảo luận ấy là không khác so với
những tuyên bố trước đó. Như Foucault (1972) diễn giải khi nói về các diễn ngôn, chúng không chỉ là suy sé
t
học thuật tuột khỏi khỏi xã hội, mà có thể còn đóng góp cho sự hình thành các mục tiêu biết nói.
Bằng cách kết hợp cả hai cách giải thích này, tôi đề xuất rằng quan điểm duy danh của Foucault có ngh
ĩ
a
rằng tốt nhất là từ bỏ cố gắng tạo ra một lý thuyết tổng quát về quyền lực và thay vào đó tập trung nghiên cứ
u
các điều kiện xã hội cụ thể từ các viễn cảnh liên quan tới những gì người ta thường ám chỉ quyền lực và cai
trị. Nghĩa là, để diễn giải Foucault: chúng ta nên nghiên cứu các tình huống chiến lược phức tạp trong một xã
hội cụ thể.
Điều này cũng là những gì Foucault đã cố đưa ra khi ông giới thiệu cái gọi là cơ cấu cai trị tâm lý
(govern-mentality framework). Coi bảng phả hệ và tình trạ
ng hiện tại của các dạng thức được sắp đặt về hạnh
kiểm con người hiện đại như là điểm khởi đầu và mục tiêu của nghiên cứu, ông đã không cố gắng để xác định
quyền lực nói chung, để hiểu bằng cách nào ‘hạnh kiểm của hạnh kiểm’ được thực hiện ‘trong phần thế giới
của chúng ta’. Môn phân tích chính quyền được tạo ra trên cơ sở
lệ được nhắc đến như là sự cai trị, quyền lực hoặc thống trị. Mặt khác, nó thể hiện một cách nhìn thiên đảng
phái, công nhận rằng phân tích một hiện tượng trong phạm vi cơ cấu governmentality là cần thiết cho một động
thái chính trị. Tuy nhiên, nó không có nghĩa rằng một môn phân tích về sự cai tri sẽ cho phép ai đó nói về cách
loại bỏ toàn bộ dạng th
ức của thống trị, như thể nó có khả năng đứng ngoài các quan hệ quyền lực. Hơn thế,
một môn phân tích về sự cai trị là có tính chính trị theo nghĩa là bằng cách làm rõ ràng các dạng thức của sự hợ
p
lý và suy nghĩ mà vốn có ở các cách thức thực hành khác nhau, nó có thể bỏ đi đặc tính hiển nhiên của những
thực hành đó (Dean, 1999).
Chiều hướng duy danh được minh họa bởi sự uyên bác dồi dào về governmentality này ở mức độ nào đó là
khác với việc tạo ra các lý thuyết về quyền lực trước đây. Môn phân tích về sự cai trị không nghiên cứu về
quyền lực trong xã hội mà, như từng được thả
o luận ở đây, dễ dàng kết thức trong một thế bế tắc khi ai đó cố
gắng tách khía cạnh quyền lực ra khỏi phần còn lại của xã hội. Thay vào đó, nó nghiên cứu các xã hội ở viễn
cảnh sự cai tri. Khi các xã hội, hoặc các thể chế cụ thể tồn tại trong chúng ở những thời điểm cụ thể trong lịch
sử, được tiếp cận từ
viễn cảnh đó, nó có nghĩa rằng chúng được nhận biết như những cách thức thực hành khác
biệt được thiết kế cho các mục đích của cai trị, mặc dù các lôgic nội tại và tác động sau chót của chúng là
không thể làm thay đổi hình dạng thành các mục đích rõ ràng của bất cứ chủ thể hành động nào (Dean, 1999).
Một sự thay đổi về tiền đồ từ nghiên cứu quyền lực trong xã hội tới xã hộ
i như vậy – hoặc các thể chế nằm
trong nó – như là một tác động của các cách thức và phương tiện cai trị, ví dụ, nhà nước là một thực thể rõ ràng
ổn định bị nghi ngờ và xem như là có tính tạm thời.
11
Điều này được diễn tả rõ ràng trong một bài giảng của Foucault:
Điều gì sẽ xảy ra nếu nhà nước không là gì khác ngoài một cách thức của cai trị? . . . Khi đó chúng ta có thể sẽ phải nói
rằng nhà nước không phải là dạng quái vật máu lạnh có trong lịch sử và tiếp tục lớn mạnh và phát triển như một loại sinh
lý thuyết của chúng ta về quyền lực. (p. 000 in this issue)
N
hững bài viết về vấn đề này của Buduru và Pal, Lippert và Sulkunen có thể nói rằng là để gắn với nhiệm v
ụ
được kêu gọi bởi Dean. Họ thách thức những sự thật tồn tại về quyền lực theo cách riêng của họ.
Bài viết của Lippert khám phá hai thể chế khác nhau như thể ‘những phương kế quyền lực’: địa hạt có cải
thiện về thương mại (BID) và sự phê chuẩn. Những thí dụ trường hợp này khá là khác nhau giữa cái này với
cái kia ở nhiều cách thức không giống nhau tuy nhiên cũng có các đặc trưng thống nh
ất. Trong cả hai trường
hợp, một số lượng lớn các dạng thức quyền lực được bện vào nhau theo cách mà trong đó thể chế hoạt động.
Cũng trong cả hai trường hợp, phương kế quyền lực vận hành ở đường biên giữa xã hội dân sự và nhà nước,
dịch chuyển ở cả hai.
12
Ý tưởng then chốt trong BID từng là để xử lý vấn đề free rider đang đe dọa việc kinh doanh’ cố gằng để
p
hát
triển một địa hạt thương mại: toàn bộ cơ sở kinh doanh không tham gia phải chịu các khoản phí nhưng lại được
lợi từ những chiến dịch. Giải pháp BID là ở chỗ thành phố địa phương thu tiền từ những cơ sở kinh doanh trong
phạm vi địa hạt và nộp lại cho BID. Một mặt, đây là ‘hạnh kiểm của hạnh kiểm’ trong nghề thầu khoán tự do
mới
vượt trội, nhưng mặt khác nó là có định hướng nhà nước. Về mặt các dạng thức quyền lực liên quan,
ở
khía cạnh nào đó các BID làm ví dụ minh họa cho sự cai trị theo chủ nghĩa tự do ở một khoảng cách xa nhưng,
ví dụ, quyền lực của họ để ‘đánh thuế’ hiệu quả, in ấn ‘tiền’, và dựng hoặc phá hủy các luật lệ của hạnh kiểm,
lại tạo ra những sự tự do thành thị mới. Do vậy, hai quyền lực – một tự do mới và một quốc chủ – có th
ể được
thoáng thấy trong các thực hành BID.
Quyền bảo hộ giáo hội cung cấp một ví dụ thú vị khác cho việc giải thích bằng cách nào các dạng thức của
cạnh thứ ba’ của quyền lực mà được nêu ra bởi Lukes – sự đồng thuận mặc dù là sản phẩm vô thức và vô hình
về các đối tượng cho phép – quyền lực bằng khế ước vận hành xuyên qua lối nói hoa mĩ rằng các giao kèo
nhằm mục đích làm cho quyền lực là hữu hình, minh bạch và có trách nhiệm và trên cơ sở c
ủa sự đồng thuận
được báo trước và tỉnh táo. Thật vậy rõ ràng bởi vì điều này, quyền lực bằng khế ước có khả năng ‘chứng tỏ
một phần quan trọng của bán thân nó’ mà, theo Foucault (1980[1978]), là một điều kiện then chốt cho sự chị
u
đựng của các quan hệ quyền lực. Quyền lực bằng khế ước hoàn toàn thích hợp với xã hội hiện tại nơi mà tổ
chức là một giới hạn của phẩm giá và giá trị con người, một nguyên tắc lệ thuộc với xã hội, và một cơ sở nền
tảng cho các phần thưởng khác nhau. Trên thực tế, Sulkunen kết luận, dạng thức kế ước là một ảo ảnh. từ
quan
điểm dựa trên luật pháp, các giao kèo giữa các khách hàng thuộc nhóm phúc lợi xã hội và nhà nước có lẽ là
không có giá trị, và trong nhiều trường hợp các giả định về quyền tự trị trong phần của khách hàng làm nghiêng
sự cân bằng quyền lực thậm chí là hơn thế theo hướng thiên vị các nhà công tác xã hội. Thật vậy quyền lực
bằng khế ước thực sự có các hệ quả. Nó che đậy các mối quan hệ xã hội như là các thỏ
a thuận tình nguyện,
trong khi trên thực tế chúng là sản phẩm của các tình huống trong đó các tác nhân chỉ có thể tham gia hạn chế.
Cuối cùng, Buduru và Pal giới thiệu một cơ chế khác của sự kiểm soát và kỷ luật – các chỉ báo cai trị – mà
được sử dụng để đo hoạt động của các sự cai trị và chất lượng của các thể chế công cộng. Tuy nhiên, ở một
khía cạnh cụ thể nào đó chúng là tươ
ng tự với
13
quyền lực bằng khế ước, trong đó nhấn mạnh các lựa chọn của chính các chủ thể hành động và tổ chức. Các chỉ
báo cai trị đóng góp cho sự hội tụ chính sách và hình thành của nhà nước toàn cầu hóa, nhưng chủ yếu thông
qua sự năng động của cai trị mềm dẻo và kết hợp lỏng lẻo: các chỉ báo đo chất lượng và sự thi hành, nhưng lại
là chủ thể hành độ
ng nhà nước mà được trông đợi để chấp nhận các hệ quả và tiến hành đổi mới khi cần thiết.
nhìn nhận về quyền lực. Vào đầu và giữa những năm 1970, ông quan niệm các quan hệ quyền lực
như thể được bao gồm những sức mạnh không tương xứng có liên quan cuộc đấu tranh thiệ
n
chiến chống lại lẫn nhau. Tuy nhiên, sau này ông bắt đầu nghi ngờ cách hiểu này và những nghi
ngờ của ông về nó đã không giảm bớt cho đến cuối những năm 1970. Theo cách giải thích củ
a
Hoffman, quan điểm chiến đấu của ông vào đầu những năm 1970 duy trì việc gia nhập của ông
vào mô hình chiến tranh, và thái độ chính trị thận trọng của ông sau này ở thập kỷ mà đánh dấu s
ự
nghi ngờ của ông đối với mô hình này.
Tài liệu tham khảo
Association for Cultural Studies (2009) ‘The Rules and By-laws of the ACS’. [Accessed 14 May
2010: http://cultstud.org/index.php?id=6] Burchell, G., C. Gordon and P. Miller (eds) (1991) The
F
oucault Effect: Studies in Governmentality.
Chicago, IL: University of Chicago Press. Callon, M. and F. Muniesa (2005) ‘Peripheral Vision:
Economic Markets as Calculative Collective
Devices’, Organization Studies 26(8): 1229–50. Carroll, P. (2006) Science, Culture, and Modern
State Formation. Berkeley: University of California
Press.
14
Clegg, S. (1989) Frameworks of Power. London: Sage.
Dean, M. (1999) Governmentality: Power and Rule in Modern Society. London: Sage.
Dean, M. (2002) ‘Powers of Life and Death Beyond Governmentality’, Cultural Values 6 (1–2):
119–38.
Dean, M. and B. Hindess (1998) Governing Australia: Studies in Contemporary Rationalities o
f
Hacking, I. (1975) The Emergence of Probability: A Philosophical Study of Early Ideas abou
t
P
robability, Induction and Statistical Inference. Cambridge: Cambridge University Press.
Hacking, I. (1990) The Taming of Chance. Cambridge: Cambridge University Press.
Heiskala, R. (2001) ‘Theorizing Power: Weber, Parsons, Foucault and Neostructuralism’, Socia
l
Science Information 40(2): 241–64.
Hoffman, M. (2007) ‘Foucault’s Politics and Bellicosity as a Matrix for Power Relations’,
P
hilosophy and Social Criticism 33(6): 756–78.
Inda, J.X. (ed.) (2005)
A
nthropologies of Modernity: Foucault, Governmentality, and Life
P
olitics. Oxford: Blackwell.
Kusch, M. (1991) Foucault’s Strata and Fields: An Investigation into Archaeological an
d
Genealogical Science Studies. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers.
Law, J. and R.J. Williams (1982) ‘Putting Facts Together: A Study of Scientific Persuasion’,
Social Studies of Science 12(4): 535–58.
Lukes, S. (2004 [1974]) Power: A Radical View. Houndmills: Palgrave Macmillan.
15
Mann, M. (1986) The Sources of Social Power Volume 1: A History of Power from the Beginning
to A.D. 1760. Cambridge: Cambridge University Press. Parsons, T. (1960) Structure and Process
in Modern Societies. Glencoe: Free Press. Porter, T.M. (1986) The Rise of Statistical Thinking,