Doanh nghệp chưa "mặn
mà" với trọng tài thương
mại
Để giải quyết tranh chấp thương mại, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam vẫn
chọn toà án mà bỏ qua trọng tài thương mại.
Toà án quá tải!
Theo ông Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt
Nam (VIAC), các tranh chấp thương mại hiện vẫn đang diễn ra với chiều
hướng tăng dần về số lượng vụ việc, với nội dung ngày càng phức tạp, mức
độ tranh chấp ngày càng quyết liệt khiến cho các cơ quan chức năng, cụ thể
là toà án dường như luôn trong tình trạng “quá tải”.
Ông Phạm Tuấn Anh, Chánh toà án kinh tế Toà án Nhân dân Hà Nội, cho
biết, trong hai năm trở lại đây, mỗi năm toà án Hà Nội thụ lý và giải quyết
hơn 150 vụ. Theo ông, con số các vụ tranh chấp thương mại sẽ còn tiếp tục
gia tăng khi các quan hệ kinh tế được mở rộng, đa dạng và phức tạp hơn.
Cụ thể, chỉ riêng trong 3 tháng đầu năm 2007 thôi, toà án kinh tế Hà Nội đã
thụ lý khoảng 80 vụ. Với đà này, ông ước tính, năm nay, con số giải quyết
các vụ tranh chấp thương mại có thể lên đến 200 vụ. Đó là ở Hà Nội, còn ở
Tp.HCM, con số này có khả năng còn gấp 5 lần.
Trong khi đó, điều 1 của Nghị định 116/CP của Thủ tướng Chính phủ ban
hành ngày 5/9/1994 đã quy định rõ: Trọng tài thương mại có thẩm quyền
giải quyết các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế, tranh chấp giữa các công
ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau,
trọng tài thương mại chỉ xét xử một lần, thủ tục đơn giản, đảm bảo giải
quyết nhanh, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp. Thậm chí không cần phải
mở phiên họp xét xử trực tiếp mà có thể giải quyết ngay trên cơ sở tài liệu,
chứng cớ do các bên cung cấp, không cần sự có mặt của các bên liên quan.
Một điểm nữa khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới lựa chọn trọng tài
thương mại là tính linh hoạt, đảm bảo tốt hơn quyền tự định đoạt của các
bên. Nghĩa là các bên có quyền tự quyết định chọn hình thức tổ chức trọng
tài cũng như trọng tài viên mà mình ưa thích; có quyền lựa chọn địa điểm,
thời gian sao cho tiện với doanh nghiệp. Điều này ở toà án, đấy là công việc
của thẩm phán và doanh nghiệp phải tuân theo.
Ngoài ra, một điểm nữa, theo ông Huệ, trong các vụ tranh chấp giữa các bên
có quốc tịch khác nhau, thường xử lý thông qua trọng tài thương mại, đặc
biệt là của một nước thứ ba để đảm bảo tính khách quan trong việc giải
quyết. Bởi trọng tài thương mại không đại diện cho quyền lực nhà nước, độc
lập trong xét xử và ra phán quyết, không có sự ràng buộc với các bên liên
quan nào cả.
Điểm cuối cùng là, theo công ước New York năm 1958, những phán quyết
của trọng tài thương mại được công nhận và cho thi hành ở nước ngoài.
Trong khi đó, phán quyết của toà án chỉ có hiệu lực thi hành trong phạm vi
quốc gia.
nhưng thiếu trọng tài
Rõ ràng, với những ưu thế trên, trọng tài thương mại là một phương pháp
giải quyết các tranh chấp có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, nếu so với toà
án mỗi năm giải quyết hàng ngàn vụ tranh chấp thì xử lý thông qua trọng tài
thương mại chỉ vỏn vẹn 30 vụ mỗi năm.
Tại sao lại có độ “vênh” quá lớn như vậy? Liệu có phải thực sự các doanh
môn sâu về lĩnh vực đó mới giải quyết được.
Chính vì vậy, theo pháp lệnh trọng tài thương mại mới ban hành năm 2003,
điều kiện này được giảm xuống còn 5 năm và mở rộng đối tượng ra các lĩnh
vực chuyên môn khác.
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, cơ hội làm ăn với thế giới rất
nhiều và chắc chắn một điều tranh chấp là không tránh khỏi. Để giải quyết
vụ việc một cách nhanh chóng, doanh nghiệp cần có sự hiểu biết sâu về vấn
đề này và quan trọng hơn là khi có tranh chấp xảy ra cần tìm đến tổ chức
trọng tài nào để giải quyết, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp.