LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " THỰC NGHIỆM ƯƠNG CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus, Bloch, 1792) TRONG AO Ở VÙNG ĐẤT NHIỄM PHÈN HÒA AN- PHỤNG HIỆP- HẬU GIANG" pot - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ĐẶNG NHƯ Ý THỰC NGHIỆM ƯƠNG CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas
testudineus, Bloch, 1792) TRONG AO Ở VÙNG ĐẤT
NHIỄM PHÈN HÒA AN- PHỤNG HIỆP- HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. DƯƠNG NHỰT LONG
Ths. NGUYỄN HOÀNG THANH 2009

i
LỜI CẢM TẠ Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
vô cùng biết ơn:
- Thầy Dương Nhựt Long, thầy Nguyễn Hoàng Thanh đã tận tình dìu dắt,
ii
TÓM TẮT
Đề tài “Thực nghiệm ương cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch,
1792) trong ao ở vùng đất nhiễm phèn Hòa An- Phụng Hiệp- Hậu Giang” đã
được tiến hành nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu đa dạng thực nghiệm Hòa
An- Hậu Giang nhằm góp phần nâng cao kĩ thuật ương cá rô đồng trong điều
kiện ao nhiễm phèn và đáp ứng nhu cầu con giống cho phong trào nuôi thủy
sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Qua thời gian thực hiện thí nghiệm ương cá rô đồng trong điều kiện ao
nhiễm phèn, rút ra một số kết quả như sau:
Các yếu tố thủy lí: nhiệt độ dao động từ 28- 32,5
0
C; pH dao động từ 7-
8,5; hàm lượng oxygen dao động từ 3- 6 ppm và các yếu tố thủy hóa: N-NH
4
+

có hàm lượng dao động từ 0,5- 1ppm; P-PO
4
3-
có hàm lượng dao động từ 0,1-
0,5ppm. Các yếu tố môi trường được khảo sát đều phù hợp cho cá sinh trưởng
và phát triển. Trọng lượng của cá giống khi thu hoạch của nghiệm thức I (500
con/m
2
) là 3,84± 0,41 g/con thấp hơn so với nghiệm thức II (1000 con/m
2
) là

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu chung 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Nội dung 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1.1 Đặc điểm sinh học của cá rô đồng 3
2.1.2 Các nghiên cứu về cá rô đồng trong và ngoài nước 7
2.1.3 Một số yêu cầu kỹ thuật đối với cá bột trước khi thả nuôi 9
2.1.4 Ương cá rô đồng 9
2.1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ương nuôi cá rô đồng 11
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Vật liệu nghiên cứu 13
3.2 Phương pháp nghiên cứu 13
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 13
3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lí số liệu 15
3.3.1 Mẫu nước 14
3.3.2 Mẫu cá 14
3.3.3 Các chỉ tiêu tăng trưởng 14
3.3.4 Hạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi 14
3.3.5 Tính toán, xử lí số liệu 14
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN: 16
4.1 Các yếu tố môi trường: 16
4.1.1 Các yếu tố thủy lý: 16
4.1.2 Các yếu tố thủy hóa: 20
4.2 Tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá rô đồng: 22
4.2.1 Tăng trưởng: 22
4.2.2 Tỉ lệ sống: 25

v
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Tuổi thành thục của cá rô đồng theo một số tác giả 6
Bảng 2.2: Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên theo một số tác giả 6
Bảng 2.3: Sức sinh sản tuyệt đối của cá rô đồng theo một số tác giả 7
Bảng 2.4: Thức ăn và khẩu phần ăn của cá rô đồng 10
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu kĩ thuật ương nuôi cá rô đồng theo một số tác giả. 11
Bảng 4.1: Hiệu quả kinh tế của mô hình 26
vi
DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch, 1792) 3
Hình 3.1 Cải tạo ao đầu vụ nuôi 14
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ trong ao nuôi 17
Hình 4.2 Biến động pH trong ao nuôi 18
Hình 4.3 Biến động Oxygen trong ao nuôi 19
Hình 4.4 Biến động ammonium trong ao nuôi 21
Hình 4.5 Biến động photphat trong ao nuôi 22
Hình 4.6 Tăng trưởng của cá rô đồng 23
Hình 4.7 Tốc độ tăng trưởng đặc biệt 24
Hình 4.8 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối 24
Hình 4.9 Tỉ lệ sống 25

hóa giống, giá cả, thị trường tiêu thụ…làm ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế
nước nhà, từ đó, cá tra đã dần dần mất đi vị thế vốn có của nó.
Việc tìm các loài cá khác để nuôi thay thế cá tra là một hướng đi thích
hợp trong tình hình này. Trong các loài cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, cá rô đồng được xem là có ưu thế với những đặc tính ưu việt như:
phẩm chất thịt ngon, kích cỡ lớn, không có xương dăm, giá trị kinh tế cao, dễ
nuôi…nên thu hút được sự quan tâm lớn của người dân. Cá rô đồng có khả
năng thích nghi tốt với môi trường sống, cá sống được trong bùn, trong điều
kiện pH thấp, thiếu oxi, nhiệt độ và mật độ cao. Đặc biệt, cá rô đồng có cơ
quan hô hấp khí trời nên có thể sống rất lâu ngoài không khí trong điều kiện
bất lợi. Chúng có khả năng di chuyển rất xa trên cạn để tìm nơi thích hợp cho
việc sinh sống và sinh sản.
Trong những năm gần đây, tổng diện tích nuôi cá rô đồng đã tăng vượt
bậc ở nhiều địa phương vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, đặc biệt rõ rệt nhất
là tỉnh Hậu Giang, đã dẫn đến tình trạng thiếu nguồn giống cung cấp. Vì vậy,
việc chủ động tạo nguồn cá giống hiện nay rất quan trọng. Mặt khác, nhiều hộ
nông dân nuôi cá rô đồng phần lớn có diện tích đất tốt, pH 6,5- 8,5. Vùng đất
Hòa An- Phụng Hiệp- Hậu Giang có nguồn đất phèn chiếm diện tích đáng kể
nhưng chưa có sự quan tâm đúng mức mà chủ yếu dùng trồng tràm hoặc bỏ
hoang. Một số người dân muốn ương nuôi cá thì gặp phải vấn đề kĩ thuật.
Nhằm nghiên cứu chuyển đổi cây trồng- vật nuôi, phát triển kĩ thuật
ương nuôi cá rô đồng trong vùng đất phèn, hướng đến tận dụng triệt để và hiệu
quả nguồn đất phèn đồng thời mang lại lợi ích và cải thiện đời sống người dân
địa phương, đề tài này được thực hiện.

2
1.2 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài khảo sát sự tăng trưởng, tỉ lệ sống của
cá rô đồng ở 2 mật độ (500 và 1000 con/ m
2
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
2.1.1 Đặc điểm sinh học của cá rô đồng
2.1.1.1 Hình thái phân loại
Theo Mai Đình Yên và ctv. (1992), cá rô đồng được phân loại khoa học như
sau:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Percifomes
Phân bộ: Anabantoidei
Họ: Anabantidae
Chi: Anabas
Loài: Anabas testudineus, Bloch,1792
Tên tiếng Anh: Climbing perch
Tên địa phương: cá rô đồng

Hình 2.1 Cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch,1792)
2.1.1.2 Hình thái
Cơ thể cá rô đồng có hình oval rất cân đối, dẹp bên về phía sau, chiều
dài chuẩn gấp 3- 4 lần chiều cao thân, toàn thân phủ vẩy lược, mép ngoài của
vẩy có chấm sắc tố đen, xám tro, xám nhạt. Đầu lớn rộng, chiều dài đầu bằng
chiều cao thân, mỗi bên đầu đều có 2 lỗ mũi, trên đầu có nhiều lỗ cảm giác,

ăn chế biến, phụ phẩm nông nghiệp tốt. Cá rô đồng là loài cá dễ nuôi nhưng
lúc đói nó có thể ăn những con nhỏ hơn, hay con sống ăn con chết làm giảm tỉ
lệ sống.
Phạm vi hoạt động của cá rô đồng rất rộng, trong thủy vực cá ăn từ tầng
đáy cho đến tầng mặt. Khi phân tích trong dạ dày cá rô đồng, người ta thấy
19% giáp xác, 3.5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9.5% cá con, 47% thực vật,
16% vật chất tiêu hóa (Nargis và Hossain, 1987), pH trong dạ dày là 5.9- 6.5
(Pandey, 1992) (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương, 2005).

5
2.1.1.5 Sinh trưởng
Cá rô đồng là loài cá có kích thước nhỏ, thể trọng thường gặp là 50-
100 g/con, kích thước lớn nhất có thể gặp là 25 cm. Trong tự nhiên cá có thể
đạt tuổi thọ 5- 6 năm. Cá rô đồng 1 năm tuổi đạt 50-60g/ con/ năm đối với cá
đực và 50- 80g/con/năm đối với cá cái, chiều dài khoảng 9- 10 cm. Cá 2 năm
tuổi đạt 12- 13cm, cá 3 năm tuổi đạt 13- 14 cm, cá 4 năm tuổi đạt 14- 15cm.
Trong quần thể cá ở đồng ruộng, cá 2- 3 tuổi chiếm ưu thế (60- 70%), loại cao
tuổi rất ít (Bộ Thủy Sản, 1996).
Tuy có tính ăn rộng nhưng tốc độ sinh trưởng của cá rô đồng tương đối
chậm hơn so với các loài cá khác, cá đực nhỏ hơn cá cái. Trong ao nuôi có bổ
sung thức ăn (con ruốc, cám, bột cá, kết hợp phân cút, thóc ngâm), sau 3 tháng
cá đạt trọng lượng 30- 35g/con. Sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 60-80
g/con. Nhưng theo Mangklamanee (1986) thì cá rô đồng có tỉ lệ tăng trưởng
0,5-0,9g/ ngày khi nuôi trong ao đất có bổ sung thức ăn (trích dẫn bởi Trần Thị
Mỹ Phương, 2004).
Khi nghiên cứu về hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và hệ số chuyển hóa
thức ăn (PER) của cá rô đồng, các kết quả thu được như sau: FCR: 2- 2,5 và
PER > 2. Về sinh trưởng của cá, các tác giả cho rằng nếu thức ăn không đủ
hàm lượng đạm cần thiết thì cá sẽ sinh trưởng chậm và giảm khối lượng. Nếu
thừa cá chỉ sử dụng một phần và phần còn lại sẽ chuyển sang dạng năng

dachabaporn, 1998
b. Mùa vụ sinh sản
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá rô đồng sinh sản vào mùa mưa, tập
trung từ tháng 6-9 dương lịch. Cá rô đồng đẻ tập trung sau những trận mưa
lớn. Khi đẻ cá tìm tới những nơi có dòng nước mát, chảy chậm, dòng nước là
yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻ trứng của cá rô đồng. Mực nước
thích hợp cho sinh sản cá rô đồng là 0,3-0,4 m. Trứng cá rô đồng thuộc loại
trứng nổi, cá không có tập tính giữ trứng.
Bảng 2.2: Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên theo một số tác giả
STT Mùa vụ sinh sản

Tác giả
1 5-7 Nguyễn Thành Trung, 2001
2 5-6 Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993

3 4-6 Bộ Thủy sản, 1996
4 4-7 Nguyễn Ngọc Phúc, 2000
5 4-5 Trần Thị Trang, 2001
Qua dẫn liệu trên cho thấy trong tự nhiên, cá tập trung sinh sản vào mùa
mưa (từ tháng 4- 7) nhưng còn tùy thuộc vào điều kiện sinh thái của từng nơi
mà có sự biến động về thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa vụ sinh sản. Còn
trong sinh sản nhân tạo cá hầu như đẻ quanh năm. Theo Pravdin (1973) thì

7
điều kiện khí tượng thủy văn không những chỉ làm thay đổi mùa vụ đẻ trứng
mà còn làm thay đổi cả bản thân của sự đẻ trứng (trích dẫn bởi Mai Viết Văn,
2002).
c. Sức sinh sản
Các phase của tế bào trứng trong noãn hoàng cá rô đồng không hoàn
toàn đồng nhất, đây là đặc điểm của loài cá đẻ nhiều lần trong năm. Sức sinh

về sản xuất giống và ương cá bột. Một số nghiên cứu về kĩ thuật sản xuất

8
giống cá rô đồng của Dương Nhựt Long và Nguyễn Văn Triều (2001). Nguyễn
Thanh Phương (2002) nghiên cứu về ảnh hưởng của khẩu phần ăn lên sự tăng
trưởng của cá rô đồng nuôi trong mương vườn. Trần Thị Thanh Hiền và ctv.
(2003) nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉ lệ thức ăn và số lần cho ăn lên sự phát
triển và tỉ lệ sống của cá rô đồng giống. Huỳnh Thanh Tấn (2004) nghiên cứu
nhu cầu protein và khẩu phần ăn của cá rô đồng. Trần Lê Cẩm Tú (2004)
nghiên cứu xác định nhu cầu cacbohydrate và lipid của cá rô đồng giai đoạn
giống. Trần Thị Mỹ Phương (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên sinh
trưởng và năng suất cá rô đồng nuôi trong lồng đặt trong ao. Dương Nhựt
Long, Nguyễn Thanh Hiệu và Nguyễn Anh Tuấn (2006) thực nghiệm nuôi cá
rô đồng thâm canh trong ao đất tại tỉnh Long An. Trần Minh Phú, Trần Lê
Cẩm Tú và Trần Thị Thanh Hiền (2006) thực nghiệm nuôi thâm canh cá rô
đồng bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm khác nhau. Đặng Khánh Hồng, Đỗ
Trung và Nguyễn Tường Anh (2006) nghiên cứu kĩ thuật sản xuất giống cá rô
đồng toàn cái.
Tình hình nuôi cá rô đồng ở Cần Thơ
Theo số liệu qui hoạch phát triển nuôi thủy sản đến năm 2010, Cần Thơ
có tổng diện tích mặt nước khoảng 180.000 ha (có thể nuôi thủy sản 109.000
ha, gồm nhiều loại hình thủy vực như: ruộng lúa, ao mương, sông rạch…).
Riêng thành phố Cần Thơ có 1.050 ha nuôi cá ao, cá ruộng 1.060 ha, cá bè 229
bè.
Ở Cần Thơ chỉ mới phát triển nghề nuôi cá rô đồng với diện tích
khoảng 5 ha (1997), năm 1998 là 27,5 ha, cao nhất là 150 ha (năm 2001). Đến
năm 2002 do không có lãi, diện tích nuôi cá rô đồng chỉ còn 87 ha. Vào năm
2003, ngành Nông nghiệp tỉnh đã xây dựng các mô hình trình diễn với qui mô
64 ha tôm, 30,5 ha cá đồng, 1 ha cá rô phi đơn tính, 1ha cá thát lát và 5 mô
hình cá rô đồng (Sở Nông Nghiệp Cần Thơ, trích dẫn bởi Trần Thị Mỹ

Cá bột có sự chuyển đổi thành phần và khối lượng thức ăn qua từng giai
đoạn phát triển từ bột lên giống (Lê Như Xuân, 1997). Các nghiên cứu trước
đây đều cho thấy cá bột sau khi nở đều dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Sau vài
ngày, noãn hoàng tiêu biến, cá bột bắt đầu ăn phiêu sinh động thực vật trong
nước.
Giai đoạn cá ương có tốc độ sinh trưởng tăng nhanh so với các giai
đoạn khác trong vòng đời, nên việc bổ sung thêm thức ăn nhân tạo rất cần thiết
(Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.4 Ương cá rô đồng
2.1.4.1 Chuẩn bị ao ương và thả cá
Tùy vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500- 1000 m
2
, ao có
dạng hình chữ nhật, có chiều dài gấp 2- 3 lần chiều rộng, độ sâu 1,2- 1,5 m,
đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Dọn sạch cỏ xung quanh ao, tát cạn
nước, bắt cá tạp. Dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp còn sót lại, liều lượng 0,2-
0,3 kg/100m
2
. Sên vét bùn dưới đáy ao, chừa lại một lớp bùn khoảng 20- 25
cm. Lấp kín các hang hốc, gia cố lại bờ ao, sữa chữa lại cống rãnh. Dùng lưới

10
cước rào xung quanh bờ ao không cho các sinh vật hại cá như: ếch, nhái,
rắn,…vào ao.Rải vôi bột xung quanh bờ và đáy ao, liều lượng 10-15
kg/100m
2
, phơi ao khoảng 2- 3 ngày cho đáy ao hơi nứt ra. Bón phân chuồng
liều lượng 15-20 kg/100m
2
để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Tiếp tục

trọng lượng

2-3 lần
2.1.4.3 Quản lí và chăm sóc
Trong quá trình ương cá phải theo dõi ao kỹ, nếu dơ phải thay nước.
Phải kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường của cá mà có biện pháp xử
lí phù hợp. Bón vôi nông nghiệp sau khi thay nước hay mưa lớn để ổn định
pH. Sau khi ương cá 40- 45 ngày đạt kích cỡ cá giống (500- 700 con/kg) thì
tiến hành thu hoạch.
21.4.4 Thu hoạch cá ương giống
Sau khi ương 40- 45 ngày, cá đạt kích cỡ cá giống (500- 700 con/kg) thì
tiến hành thu hoạch. Trước khi thu hoạch cá 1 tuần phải luyện cá bằng cách

11
làm đục nước ao. Dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ để kéo cá, để tránh cá
bị xay sát. Trong quá trình thu hoạch các thao tác phải nhẹ nhàng và thật
nhanh tránh làm cá mệt, cá sẽ bị hao hụt nhiều trong vận chuyển.
2.1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ương cá rô đồng
Tất cả các loài cá con mới nở trong giai đoạn đồng đều có tính ăn rất
hẹp và thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du cỡ nhỏ. Sau khi nở được 2-3 tuần
mới bắt đầu có sự chuyển hóa dần thức ăn. Đối với những loài ăn đáy thì
lượng thức ăn phải đảm bảo đầy đủ nếu không tỉ lệ sống và khả năng thích
ứng với môi trường thấp. Do các cơ quan cá chưa hoàn thiện chức năng nên
mọi sự thay đổi về đều kiện sống đều có ảnh hưởng (Nguyễn Văn Kiểm,
2003).
Ở giai đoạn đầu ương nuôi ngoài thức ăn là động vật, thực vật,…chúng
ta có thể cho cá ăn thức ăn như: bột đậu nành, bột cá, động vật phù du, cám,…
Đặc biệt trong những ngày đầu mới nở có thể cho cá ăn lòng đỏ trứng gà. Khi
ương cá, sử dụng thức ăn tự nhiên có nhiều trở ngại, như các địch hại của cá,
do việc sử dụng phân bón làm xuất hiện nhiều bọ gạo gây hại cho cá. Bên

sống
(%)
Quy cỡ cá
Tác giả
L
(cm)
W
(g)
1500 60 - Ngày 1-7: 3 lòng đỏ trứng+ 100g bột đậu
nành/ 10.000 cá bột/ ngày
- Ngày 8-30: Cám/ bột cá=3/7; 300-500g/
10.000 cá/ngày
- Ngày 30- 60: Cám/ bột cá= 4/ 6, khẩu phần
3-5%

15- 30 3- 5 1- 2 Nguyễn
Thành
Trung,
2001
500-
800
45- 50 - 10 ngày đầu: 1 lòng đỏ trứng+ 10g bột đậu
nành/ 10.000 cá bột/ ngày
- Sau 10 ngày: cám/ bột đậu nành/ bột cá =
3/3/4, khẩu phần 8- 10%
19- 22 3,92 1,23 Phạm
Văn
Khánh,
1999
3000 30 - Ngày 1-3: lòng đỏ trứng, khẩu phần 100-

Thị
Trang,
2001
Qua Bảng 2.5 ta thấy mật độ ương càng dầy thì tỉ lệ sống càng thấp.
Mật độ ương cá rô đồng thích hợp từ 300- 600 con/m
2
(Lý Hồng Nga, 2003).

13
Phần 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
- 2 ao đất vùng nhiễm phèn, diện tích 2000m
2
. Độ sâu 1,5m.
- Cá được cung cấp từ trại giống khoa Thủy Sản- trường Đại Học Cần Thơ.
- Vợt vớt cá bột.
- Hóa chất.
- Cân điện tử.
- Thức ăn cho cá.
- Vôi bột.
- Phân bón.
- Nhiệt kế.
- Bộ test pH.

2

ii/ Nghiệm thức 2: 1000 con/m
2 14
3.2.2.2 Thực nghiệm ương
a. Chuẩn bị ao ương
Chuẩn bị 2 ao có dạng hình chữ nhật, diện tích 2000 m
2
, độ sâu 1,5 m,
đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Dọn sạch cỏ xung quanh ao, tát cạn
nước, bắt cá tạp. Dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp còn sót lại, liều lượng 45
kg/ao (0,3 kg/100m
2
). Sên vét bùn dưới đáy ao, chừa lại một lớp bùn khoảng
20- 25 cm. Lấp kín các hang hốc, gia cố lại bờ ao, sữa chữa lại cống rãnh.
Dùng lưới cước rào xung quanh bờ ao không cho các sinh vật hại cá như: ếch,
nhái, rắn,…vào ao. Rải vôi bột xung quanh bờ và đáy ao, liều lượng 225 kg/ao
(15 kg/100m
2
), phơi ao khoảng 2- 3 ngày cho đáy ao hơi nứt ra. Bón phân
chuồng liều lượng 300 kg/ao (20 kg/100m
2
) để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho
cá. Tiếp tục phơi ao 3-5 ngày rồi cho nước vào. Khi cho nước vào thì dùng
lưới cước mịn làm thành túi lọc, bịt kín miệng cống, tránh cá con, ốc, cua, các
sinh vật khác có hại cho cá theo nguồn nước vào ao. Khi nước có màu xanh
đọt chuối thì tiến hành thả cá.

4
3-
, mẫu thu
định kì 2 tuần/ lần. Một ngày thu vào 2 buổi: buổi sáng thu lúc 7-8 h, buổi
chiều thu lúc 16- 17h. Các chỉ tiêu môi trường được đo lập lại 3 lần trong một
buổi.
- Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế.
- pH, Oxygen, N-NH
4
+
, P-PO
4
3-
được đo bằng các bộ test.
3.3.2 Mẫu cá
-Cân khối lượng cá ban đầu.
- Sau đó đo khối lượng cá 2 tuần/ lần, một ao đo 30 con.
3.3.3 Các chỉ tiêu tăng trưởng - Tỉ lệ sống (%)= * 100
s
ố cá thu

đư
ợc
số cá thả

lnWc
-

LnW đ

t
Wc
-

W đ

t

17
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các yếu tố môi trường
4.1.1 Yếu tố thủy lí
4.1.1.1 Nhiệt độ
Kết quả khảo sát cho thấy trong các ao nuôi thực nghiệm nhiệt độ nước
dao động từ 28- 32,5

Đợt
Nhiệt độ (Độ C)
Ao I (500 con/m2) Ao II (1000 con/m2)

Hình 4.1 Biến động nhiệt độ trong ao nuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status