LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CƠ QUAN LYMPHO CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus TỪ 1 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI" - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN ĐẶNG THANH PHONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CƠ QUAN LYMPHO
CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus
TỪ 1 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI


NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CƠ QUAN LYMPHO
CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus
TỪ 1 ĐẾN 30 NGÀY TUỔI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TỪ THANH DUNG

2009
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
i

TÓM TẮT
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là đối tượng nuôi quan trọng ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL). Tuy nhiên các thông tin khoa học về hệ miễn dịch chưa
có tác giả nào công bố để làm cơ sở cho việc phòng bệnh cho cá. Việc nghiên cứu đề
tài này nhằm mục tiêu là tìm hiểu sự phát triển cơ quan lympho của cá tra
Pangasianodon hypophthalmus từ 1 đến 30 ngày tuổi sau khi nở. Thu mẫu cá từ 1
đến 30 ngày tuổi trực tiếp ở ao ương, mỗi ngày tuổi thu từ 6 – 30 con cá. Bên cạnh
đó, cũng theo dõi quá trình hoạt động của cá, các chế độ quản lý và chăm sóc ao,
hàng tuần kiểm tra các yếu tố môi trường và nhiệt độ đo mỗi ngày. Nghiên cứu này
đã sử dụng phương pháp mô học (Haematoxylin & Eosin) trên cơ quan lympho
thận,tuyến ức và tỳ tạng. Kết quả nghiên cứu được tìm thấy thận xuất hiện đầu tiên ở
cá 6 ngày tuổi sau khi nở; tuyến ức được quan sát ở cá 9 ngày tuổi và cuối cùng là tỳ
tạng được tìm thấy ở cá 21 ngày tuổi. Trong suốt thời gian ương nuôi thì các yếu tố
môi trường đều nằm trong khoảng cho phép và thích hợp cá phát triển. Kết quả này
góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu hệ thống miễn dịch trên cá tra
nhằm tìm ra giải pháp phòng các bệnh truyền nhiễm một cách tích cực và có hiệu
quả hơn
3.2.2 Hoá chất 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 13
3.3.2 Phương pháp cắt mẫu 13
3.3.3 Phương pháp cố định mẫu 14
3.3.4 Phương pháp làm tiêu bản mô 14
3.4 Đọc kết quả 17
Chương IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Thông tin chung về hộ nuôi 18
4.2 Các chỉ tiêu môi trường trong ao ương 19
4.3 Sự phát triển của các cơ quan Lympho 20
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
iv 4.3.1 Thận 20
4.3.2 Tuyến ức (thymus) 24
4.3.3 Tỳ tạng 26
Chương V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 28
5.1 Kết luận 28
5.2 Đề xuất 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC I 32
PHỤ LỤC II 33
PHỤ LỤC III 34
Hình 4.5 Cấu trúc tỳ tạng cá 21 ngày tuổi 28
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
Ngành nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Việt Nam (VN) nói chung và Đồng Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đã và đang phát triển mạnh mẽ. Trong đó,
đối tượng nuôi nước ngọt được nuôi nhiều nhất là cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus), không chỉ cung cấp thực phẩm trong nước mà còn là mặt
hàng xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (NN&PTNT), năm 2008 lượng cá tra xuất khẩu của VN đạt
657.000 tấn, đạt kim ngạch 1,48 tỉ USD, chiếm đến 32,1% tổng kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của cả nước. Cá tra, ba sa là điểm sáng của bức tranh xuất
khẩu thủy sản Việt Nam (htt://antg.cand.com.vn). Nhưng trong quá trình mở
rộng diện tích nuôi do thiếu sự quy hoạch và không đồng bộ đã kéo theo nhiều
vấn đề xảy ra đặc biệt là tình hình dịch bệnh. Ở cá nuôi, nhiều loại bệnh truyền
nhiễm xuất hiện và gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá tra. Điển hình,
bệnh mủ gan do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra đã làm thiệt hại lớn cho
người nuôi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ cá chết khi bị bệnh này
có thể lên đến 90% (). Theo nghiên cứu của
Ferguson et al., 2001 và Dung et al., 2004 cho rằng đây là loài vi khuẩn đặc
thù gây bệnh chủ yếu trên cá da trơn nuôi công nghiệp, còn theo Mitchell
(1997) xác định E. ictaluri là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng máu (Enteric
septicaemia of catfish: ESC) ở cá nheo mỹ (Ictalurus punctatus), gây hao hụt
trên 60% và hằng năm thiệt hại trên 50 triệu USD.
Việc dùng kháng sinh trị bệnh mang lại hiệu quả khi dùng thuốc đúng liều và
chẩn đoán đúng tác nhân gây bệnh, nhưng trong thực tế do người nuôi sử dụng

Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi, thu mẫu và ghi nhận sự phát triển và thay đổi về hình thái của
cá tra từ 1 đến 30 ngày tuổi ở Thị Trấn Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Xác định sự phát triển cơ quan lympho của cá tra bằng phương pháp
nhuộm mô học (Haematoxylin & Eosin) PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
3
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược đặc điểm về cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Cá tra phân bố nhiều ở lưu vực sông Mê Kông ở cả 4 nước Lào, Campuchia,
Việt Nam và Thái Lan. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh
sản nhân tạo, cá bột được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Khảo sát chu kỳ di
cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến
tháng 5 và di cư vào hạ lưu tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (Phạm Văn Khánh,
2006). Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước
nhạt lợ (nồng độ muối từ 0,7 đến 1%), có thể chịu đựng được nước phèn có
pH >5, dễ chết ở nhiệt độ 15
0

quan lymphoid thứ cấp gồm có tỳ tạng và một tổ chức lymphoid có liên quan
đến ruột và hệ thống màng nhầy. Bên cạnh đó thì ở động vật hữu nhũ, cơ quan
thymus là nơi tế bào T phát triển, trong khi đó tế bào B được sinh ra ở tuỷ
xương. Những cơ quan Lymphoid chẳng hạn như thymus, tỳ tạng và những
bạch huyết ở đốt mắt là trung tâm cấu thành hệ thống miễn dịch ở động vật
hữu nhũ (George Iwama, 1996).
Cơ quan lymphoid nguyên thuỷ (cũng được gọi là cơ quan lymphoid trung
tâm), như thymus và tuỷ xương ở hầu hết các động vật hữu nhũ, phụ thuộc vào
sự phát triển và sinh sôi của những tế bào lympho sơ cấp. Vì vậy nó giữ 1
chức năng khá quan trọng trong hệ miễn dịch. Cơ quan Lymphoid quan trọng
trong điều chỉnh của sự phát triển tế bào lympho và những đáp ứng miễn dịch.
Trong suốt quá trình tiến hóa của động vật có xương sống, những cơ quan
lymphoid sơ cấp xuất hiện sớm hơn những cơ quan lymphoid thứ cấp (George
Iwama, 1996).
Từ vài điểm tiến hoá trên cho thấy, những cơ quan lymphoid sơ cấp có tầm
quan trọng đặc biệt vì nó có liên quan đến việc tạo ra các thụ thể của kháng
nguyên thông qua các tế bào lympho.
2.3 Sự tiến hoá và phát triển của tế bào lympho
Ở tất cả các động vật có xương sống, các thụ thể kháng nguyên được sản xuất
từ các tế bào lympho. Tất cả các tế bào tạo máu, tế bào lympho bắt nguồn từ
chính cơ quan tạo máu của tế bào tuỷ xương. Ở chuột, tế bào B bắt đầu phát
triển trong bào thai sống (xuyên suốt sự phát sinh phôi) hoặc ở tuỷ xương (thời
kỳ sau khi sinh) và thành thục trong tỳ tạng. Trái lại, tế bào T chỉ phát triển ở
thymus. Hầu hết những sinh vật đại diện tổ tiên thuộc động vật có xương sống
có thể nhận biết rõ ràng tế bào T và tế bào B ở cá sụn như cá mập và cá đuối.
Ở cá, tế bào B phát triển đầu tiên ở gan, sau đó đến thận và cuối cùng là tỳ
tạng. Ở cá xương như cá chép và cá ngựa, thận trước là vị trí chiếm lĩnh của tế
bào B. Ở động vật lưỡng thê và bò sát, tế bào B phát triển đầu tiên ở gan và tỳ
tạng, sau đó thì gián đoạn ở gan nhưng ở tỳ tạng vẫn được duy trì và cuối cùng
nó xuất hiện ở tuỷ xương. Ở chim, tế bào B phát triển trong túi của Fabricius

et al., 1991).
Theo Nguyễn Quốc Thịnh, 2002 ở cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) tỳ
tạng có màu đỏ thẩm, dạng dẹp, vị trí của tỳ tạng nằm ở màng treo ruột. Chức
năng của tỳ tạng là tiêu hủy những tế bào hồng cầu già, tái hấp thu sắt,
Hemoglobin và các thành phần cấu tạo hồng cầu khác để sản xuất hồng cầu
mới. Ngoài ra tỳ tạng còn có nhiệm vụ sản xuất ra các loại tế bào limpho giúp
cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
6
2.4.2 Cơ quan thymus (tuyến ức)
Thymus là 1 đôi cơ quan được tìm thấy giữa lớp biểu bì và vỏ ở rìa trên của
nắp mang thuộc hốc mang cá . Nó là 1 cơ quan nhỏ. Thymus được bao quanh
bởi những sợi mô liên kết. Nó không được tách biệt trong 1 vùng để nhận biết
giữa vỏ và lỗi, vì vậy có sự khác nhau với thymus của động vật hữu nhũ.
Thymus có thể thay đổi hình dạng và phát triển tốt ở cá hương và cá giống.
Nó nằm gần thận trước ở cá hương và cá giống nhưng vị trí đó lại khác so với
cá trưởng thành bởi vì là cơ quan rất nhỏ và kích thước tương tự như thymus
ở cá giống. Các tế bào thymus bắt màu xanh đen với thuốc nhuộm
haematoxylin & eosin đó là loại tế bào chiếm ưu thế được tìm thấy trong
Thymus. Thymus là cơ quan quan trọng của cá con và có một nhận định nó là
cơ quan nội tiết nhưng chức năng quan trọng phổ biến được nhận biết là nó
giữ vai trò trong tạo miễn dịch (Trích dẫn từ Supranee et al., 1991).
Ở cá nheo mỹ (channel catfish), thymus nằm ở phía trong mặt lưng của hốc
mang. Nó thường được bao bọc bằng lớp biểu bì mỏng Ở một số loài, lớp võ
của thymus chủ yếu là các tế bào thymus và phần lõi là các tế bào biểu mô
chiếm đa số. Các tế bào biểu mô giống với các huyết cầu của 1 số cá có vú. Ở
một vài loài cá, thymus có thể được phát hiện ở 1 vài ngày đầu sau khi nở,
ngược lại ở 1 vài loài cá bơn sao, dường như chỉ tìm thấy ở cá sau giai đoạn

, Ure, các muối hóa
trị 2; ổn định môi trường pH; điều hòa áp suất thẩm thấu,… Đồng thời thận
còn có chức năng tạo máu và tham gia vào hệ thống miễn dịch bằng mô kẽ.
Ngoài ra, thận còn tham gia vào hệ thống nội tiết (tiết kích thích tố và điều hòa
quá trình sinh lý của cơ thể bằng hormone Adrenalin và Noradrenalin) (Bùi
Châu Trúc Đan, 2003).
2.5 Sự hình thành cơ quan lympho
Ở người hệ miễn dịch bao gồm nhiều cơ quan như tuyến ức (thymus), các
hoạch bạch huyết, tuỷ xương, tuỵ tạng và ruột thừa. Tất cả các tế bào miễn
dịch xuất phát từ các nguyên bào trong phôi, sau đó di chuyển đến các mô và
cơ quan chuyên biệt, tại đây chúng sản sinh ra các hồng cầu và bạch cầu.
Những tế bào bạch cầu nhất là các đại thực bào, tế bào B, T, NK và tế bào
mast giữ vai trò quan trọng trong đáp ứng niễm dịch. Có 2 hệ thống đáp ứng
miễn dịch là miễn dịch qua thể dịch và miễn dịch qua trung gian tế bào. Cả 2
hệ thống này hoạt động chung để phá huỷ các kháng nguyên. Hệ thống miễn
dịch thể dịch bảo vệ cơ thể chống lại các kháng nguyên thông qua sự tiết các
prôtêin chuyên biệt là kháng thể, làm bất hoạt hoặc phá huỷ kháng nguyên trên
bề mặt của vi khuẩn, nấm, virus nằm bên ngoài tế bào cũng như các chất độc
tự do trong máu và huyết tương. Còn hệ miễn dịch qua trung gian tế bào trực
tiếp phá huỷ các vi khuẩn qua việc sản xuất những tế bào chuyên biệt tấn công
vào các chất xâm nhập (Bùi Tấn Anh và ctv, 2004).
Theo Breuil.G, et al., 1997 nghiên cứu sự phát sinh kháng thể IgM trong tế
bào và sự thay đổi trong miễn dịch golobulin (IgM) xuyên suốt ở giai đoạn ấu
trùng của cá chẽm bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang (FITC) và phép phân
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
8
tích FACS để phát hiện những tế bào dương tính với IgM bằng mẫu dò kháng
kháng thể. Còn sự phát triển của cơ quan lympho được nghiên cứu bằng
phương pháp mô học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, một lượng nhỏ IgM được
phát hiện bằng phương pháp ELISA ở trứng cá, nhưng giảm dần cho đến ngày

sát được cho đến ngày thứ 21 sau khi nở. Nghiên cứu còn cho thấy, tổ chức
lympho thứ cấp nghèo nàn là do kháng thể được sản xuất ra ít cho đến khi ấu
trùng cá được 21 ngày tuổi.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
9
Một năm sau, Nadia et al., 2002 đã nghiên cứu sự phát triển của tế bào B trong
tỳ tạng của cá ngựa. Ở cá ngựa trước đây được cho rằng tế bào T có thể phân
biệt được ở thymus của cá 4 ngày tuổi nhưng tế bào B chỉ phân biệt được ở cá
3 tuần tuổi. Nhưng ở cá 4 ngày tuổi, phát hiện gen thụ thể của tế bào B trong
ADN ly trích từ toàn bộ con cá. Cũng thời gian 4 ngày, bản sao Rag-1 được
thấy ở tỳ tạng (là cơ quan trước đây cho rằng không liên quan đến tổ chức
lymphoid của cá ngựa); ở cá 10 ngày tuổi, bản sao Ig cũng được phát hiện ở tỳ
tạng. Vì vậy, ở cá ngựa tỳ tạng cũng được thừa nhận là cơ quan có chức năng
quan trọng trong hệ thống miễn dịch. Và cũng năm này, Lora et al., 2002,
nghiên cứu hệ thống đáp ứng miễn dịch thể dịch của cá nheo mỹ (Ictalurus
punctatus) ở giai đoạn cá bột và cá giống khi tiếp xúc với vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri. Nghiên cứu thực hiện với cá không có mầm bệnh được
thuần hoá phù hơp với điều kiện môi trường. Cá ở tuổi 1, 2, 3 và 4 tuần và 2,
3, 4, 5, và 6 tháng sau khi nở, Cá được tiêm liều sơ cấp với vi khuẩn E. ictaluri
(ở liều 6,4×10
4
cfu/ ml

cho 1 bể) và sau đó 4 tuần tiêm tiếp liều thứ 2. còn
nhóm đối chứng thì được tiếp xúc với môi trường nuôi cấy đã tiệt trùng. Kết
quả cho thấy kháng thể đặc hiệu được phát hiện đầu tiên ở cá 4 tuần tuổi sau
khi nở có trọng lượng trung bình 85 mg. Đáp ứng thứ cấp được chứng minh ở
cá hương 4 tuần tuổi khi nhúng liều sơ cấp và 8 tuần tuổi khi nhúng liều thứ
cấp. Tuy nhiên, hiệu quả tăng khả năng đáp ứng là đúng được chứng minh ở
cá 2 tháng tuổi nhận liều sơ cấp. Cá nhận liều sơ cấp ở trước 4 tuần tuổi và 1

Gần đây, Sonal et al., 2008 nghiên cứu sự hình thành cơ quan lympho và phát
triển của tế bào sinh kháng thể IgM ở cá bơn Đại Dương (Hippoglossus
hippoglossus L.). Kết quả mô học cho thấy thận xuất hiện ở cá 1 ngày tuổi sau
khi nở, cơ quan thymus xuất hiện ở cá 33 ngày sau khi nở, trong khi đó lá lách
là cơ quan sau cùng xuất hiện ở 49 ngày tuổi sau khi nở. Tất cả các cơ quan
lympho này có hình thái tương đối hoàn chỉnh sau giai đoạn biến thái. Với
phương pháp RT - PCR cho thấy IgM mRCT xuất hiện ở cá 66 ngày tuổi sau
khi nở và có thể chậm hơn, tương ứng với thời gian này ở kỹ thuật lai phân tử
cũng cho thấy có 1 ít tế bào dương tính với IgM có thể được phát hiện ở giai
đoạn đầu của thận và lá lách. Còn phương pháp hoá mô miễn dịch dùng kháng
thể đơn dòng phát hiện được IgM ở thận trước và lá lách của cá 94 ngày tuổi,
nhưng IgM mRCT được phát hiện chậm hơn. Nhiều tế bào xuất hiện rõ ràng
cả IgM mRCT và prôtein có thể được phát hiện ở tỳ tạng, thận trước, và
thymus cũng có xuất hiện nhưng ở giai đoạn cá bơn lớn.
2.6 Một số thành tựu về phương pháp mô học
Nghiên cứu mô học bắt đầu từ cuối thế kỉ 17 nhưng mãi đến cuối thế kỉ 19 mô
học mới được coi là ngành khoa học (trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Thịnh,
2002). Mô học bắt đầu từ khi kính hiển vi đầu tiên được chế tạo bởi Antoni
Van Leuwenhoek (1632-1723) người Hà Lan, đến cuối thế kỉ 18 Robert
Hooke (1635-1703) nhà khoa học người Anh đã xác định tế bào là đơn vị cấu
tạo cơ thể sinh vật. Quan sát miếng nút chai dưới kính hiển vi đã đưa ra kết
luận “miếng nút chai được tạo thành từ những túi nhỏ hay tế bào độc lập với
nhau và chứa đầy không khí” (R.Hooke, 1665, trích dẫn bởi Nguyễn Quốc
Thịnh, 2002).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
11
Sau khi thuyết tế bào ra đời (1893), đặc biệt là lĩnh vực mô học mô tả ra đời
thì những thành phần cấu tạo khác nhau của cơ quan và các mô được nghiên
cứu cẩn thận, tỉ mỉ hơn. Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là chế tạo ra
máy cắt lát mỏng (microtom) cho phép nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hiển vi

cứu cấu trúc mô và sự biến động số lượng hồng cầu trên cá tra bị bệnh vàng
da. Tác giả cũng quan sát cơ quan gan, thận và tỳ tạng trong cấu trúc của mô
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
12
cá bệnh để so sánh với cá khỏe. Gần đây, Võ Quốc Hào (2008), nghiên cứu
cấu trúc mô của một số hệ cơ quan trên cá tra. Tác giả đã xác định được đặc
điểm, cấu trúc mô của cá khỏe từ đó làm cơ sở cho việc chẩn đoán.
Ở nước ta, nghiên cứu về mô học trên cá được thực hiện khá phổ biến nhưng
chủ yếu thiêng về chẩn đoán và xác định mầm bệnh. Hiện nay, vaccine là biện
pháp phòng bệnh hữu hiệu cho cá tra nuôi nhưng việc sử dụng vaccine chưa
đem lại hiệu quả do chưa nghiên cứu. Việc sử dụng vaccine có hiệu quả hay
không là phụ thuộc vào khả năng đáp ứng miễn dịch của cá. Do đó, nghiên
cứu về sự hình thành cơ quan lymphoid trên cá tra là điều cần thiết.

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version

3.3.3 Phương pháp cố định mẫu
Mẫu thu được cố định trong dung dịch formalin 10% chứa trong ống
universal.
3.3.4 Phương pháp làm tiêu bản mô
Rửa mẫu sau khi cố định
Mẫu mô sau khi cố định trong dung dịch formol 10%, khoảng 24-48h tiến
hành rửa dưới vòi nước 2h. Sau đó chuyển sang cồn 70% để bảo quản và xử lý
mẫu.
Cắt tỉa và định hướng
Mẫu trước khi đưa vào qui trình xử lý mẫu phải cắt tỉa và định hướng cho mẫu
đạt kích cỡ phù hợp, cắt mẫu với độ dày từ 3-5µm. Đưa mẫu vào catsset và
tiến hành xử lý.
Quy trình xử lý mẫu
Loại nước
Việc loại nước phải đảm bảo nguyên tắc là phải loại hết nước trong mẫu mô
mà không làm tế bào bị biến dạng hoặc không làm vị trí thành phần cấu tạo tế
bào trong mẫu mô không bị thay đổi. Quá trình loại nước được thực hiện bằng
cách nhúng mẫu qua nhiều dung dịch cồn với nồng độ gia tăng từ 80-100%.
Thời gian thử nước phụ thuộc vào độ dày của mẫu mô
Phương pháp làm trong mẫu (tẩm dung môi trung gian)
Vì cồn không thể hòa lẫn với paraffin nên sau khi hoàn thành quá trình khử
nước, cồn cần phải loại khỏi mẫu mô để tránh tình trạng mô có thể bi co rút
khi tẩm paraffin. Dung môi trung gian vừa hòa tan được cồn và paraffin
thường dùng là xylen, xylen ít độc và có tính thấm nhanh. Phương pháp này
được thực hiện bằng cách ngâm mẫu mô trong xylen qua hai lọ.Thời gian
ngâm mẫu mô trong mỗi lọ dao động từ 2h-2h30’. Ngoài ra để tăng khả năng
nhấm paraffin và để loại hoàn toàn cồn ra khỏi mẫu mô, trước khi chuyển sang
bước ngấm paraffin, mẫu mô được ngâm trong lọ paraffin hòa tan trong xylen.
4 Cồn 100% 1h
5 Cồn 100% 1h
6 Cồn 100% 1h
7 Xylen 2h
8 Xylen 2h
9 Xylen 2h
10 Paraffin + sáp ong + xylen (3:2:5) 2h
11 Paraffin + sáp ong (7:3) 2h
12 Paraffin + sáp ong (1:1) 2h
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
16
Trước khi mẫu đưa vào máy cắt, dung lưỡi dao cắt tỉa khối paraffin sao cho
khối paraffin có hình tháp (hình 3.1). Mục đích của cách làm này là để dễ cắt
mẫu và khi cắt ra, mẫu sẽ đẹp.

+ Chuẩn bị máy cắt
Đặt lưỡi dao vào máy cắt, vặn ốc thật chặt. Độ lệch của lưỡi dao so với mặt cắt
của khối mẫu tạo thành một góc khoảng 15-30
o
. Khối mẫu sẽ được cắt thành
các lát cắt khi tay quay của máy xoay tròn, sau mỗi vòng xoay sẽ có một lát
cắt được hình thành.
+ Tiến hành cắt
Đặt khối mẫu vào máy cắt lát mỏng, chỉnh cho khối mẫu ngang và thẳng đứng,
điều chỉnh độ dày lát cắt, có thể bắt đầu bằng những lát cắt 10-12µm. Sau khi
cắt bằng mặt khối mẫu và đạt đến vị trí mong muốn, điều chỉnh độ dày về
vạch 4-6 µm và cắt mẫu
Dán Lamelle vào lame
Để đảm bảo mẫu được giữ lâu và tăng tính triết quang của mẫu, dùng keo dán
Enterlan phủ lên mẫu và dán lamelle lên mẫu. Nhỏ một giọt keo lên mẫu, đặt
lamelle nghiêng 45
0
và tiếp xúc với giọt keo, hạ lame xuống từ từ để tránh bọt
khí. Để lame khô 24 giờ sau đó đọc kết quả. Thao tác này cần làm nhanh để
tránh sự xâm nhập của hơi nước trong không khí vào miếng mô.
3.4 Đọc kết quả
Kết quả được đọc theo tài liệu của Ferguson (2006).
Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 10x để quan sát tổng quát
tiêu bản nếu tiêu bản đẹp đạt yêu cầu có nhân bắt màu tím xanh của
Hematoxylin, phần còn lại bắt màu hồng Eosin. Các tiêu bản đẹp sẽ được quan
sát lần lượt ở độ phóng đại 40X, 100X (nhỏ giọt dầu) và chụp hình tiêu bản
đặc trưng. Xylen
5 phút
Dán keo
Enterllan
Xylen

5 phút
Cồn 100%
5 phút

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
18
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin chung về hộ ương nuôi
Trước khi ương hộ nuôi thường vệ sinh các bờ ao, diệt tạp, cải tạo ao,… hóa
chất thường dùng nhất trong cải tạo ao là vôi. Diện tích ao là 3000m
2
,
mật độ
thả ương là 1000con/ m
2
. Con giống trực tiếp ở cơ sở sản xuất giống, giống
khỏe và có chất lượng. Thành phần thức ăn chủ yếu trong ương nuôi như bột
cá, hột vịt, bột sữa,…Ngoài ra cũng có lượng thức ăn trực tiếp ở trong ao.
Ngày cho ăn 4 lần, mỗi lần được chia đều mà hộ nuôi tính theo mật độ ương.
Nhìn chung hộ này nuôi theo kinh nghiệm bản thân là chính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status