Nghiên cứu tình trạng đục bao sau thể thuỷ tinh thứ phát sau phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo hậu phòng - Pdf 11

TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Nghiên cứu tình trạng đục bao sau thể thuỷ tinh
thứ phát sau phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh
nhân tạo hậu phòng
Phạm Thị Kim Thanh
Bộ môn Mắt - Trờng Đại học Y Hà Nội

336 mắt của 278 bệnh nhân (BN) đã đợc phẫu thuật lấy TTT ngoài bao đặt TTTNT cứng chất liệu
Polymethylmethacrylate (PMMA), 2 mặt lồi và chiều dài từ 12,5 - 13mm. Chúng tôi tiến hành phẫu thuật theo 3
phơng pháp (lấy TTT ngoài bao theo phơng pháp Phaco, lấy TTT ngoài bao đơn thuần và lấy TTT ngoài
bao kết hợp cắt bè củng giác mạc. BN đợc khám lại sau 1 ngày, 7 ngày, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2
năm, và trên 2 năm. Đục bao sau TTT đợc đánh giá bằng khám trên sinh hiển vi với ánh sáng chiếu hậu. Sau
theo dõi từ 6 - 33 tháng (trung bình 19,8 tháng) tỷ lệ đục bao sau TTT là 36,6% (dới 6 tháng là 10,4%, từ 6
đến 12 tháng là 24%, từ 13 đến 24 tháng là 31,1% và trên 24 tháng là 43,3%). Tỷ lệ và mức độ đục bao sau
TTT tăng dần theo thời gian. Thời gian từ khi phẫu thuật tới khi xuất hiện đục bao sau ở hình thái xơ là 11,1
tháng, hình thái hạt Elschnig là 23,4 tháng, và hình thái hỗn hợp là 21, 8 tháng. Một số yếu tố nh tuổi, bệnh lý
của TTT, phơng pháp phẫu thuật, vị trí của TTTNT, các biến chứng sau mổ có ảnh hởng tới tần xuất đục
bao sau TTT. Tuy nhiên chúng tôi cha nhận thấy có ảnh hởng của chiều dài TTTNT tới tỷ lệ đục bao sau.

I. Đặt vấn đề
Ngày nay phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh ngoài bao
đặt TTT nhân tạo ngày càng đợc phổ biến rộng khắp
trong điều trị bệnh đục TTT. Tuy nhiên vành bao trớc
và bao sau TTT còn để lại sau phẫu thuật sẽ bị mờ đục
dần theo thời gian, gây giảm thị lực tái phát. Mục tiêu
của nghiên cứu nhằm: đánh giá tỷ lệ đục bao sau TTT
và tìm hiểu các yếu tố ảnh hởng tới tần xuất đục bao
sau TTT sau phẫu thuật đặt TTT nhân tạo.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu

Săn sóc và theo dõi sau mổ.
Tất cả BN đều đợc khám lại sáng ngày hôm
sau. Chúng tôi thử chức năng thị giác, tra thuốc
dãn đồng tử cho BN (Néosynéphrine 10%) sau đó
240
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
khám trên máy sinh hiển vi với ánh sáng thờng,
ánh sáng đèn khe, ánh sáng đồng trục để đánh giá
tình trạng các thơng tổn sau mổ: TTTNT, bao sau,
phản ứng viêm MBĐ, sót chất TTT và những biến
chứng khác sau mổ
Sau khi ra viện BN đều đợc hẹn khám lại sau 1
tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm,
và trên 2 năm mỗi lần đến khám lại BN đều đợc
thăm khám và ghi nhận lại các triệu chứng chủ quan
không bình thờng: nhìn loá, mờ, cảm giác ruồi bay,
mầu sắc thay đổi, chảy nớc mắt, đo thị lực, chỉnh
kính, đo nhãn áp. Tra thuốc dãn đồng tử rộng để
khám trên sinh hiển vi để đánh giá tình trạng đục
bao sau TTT: các nếp nhăn, nếp gấp, dải xơ, mảng
xơ, hạt Elschnig, mức độ và vị trí đục bao sau TTT
và ghi nhận những tổn thơng đặc biệt khác.
Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng đục bao sau TTT
Chúng tôi đánh giá mức độ đục bao sau TTT ở
vùng trung tâm phát hiện khi soi với đồng tử không
dãn và có dãn dựa theo tiêu chuẩn của tác giả
Prajna NV [12].
- Mức độ 0: Không thấy hình ảnh đục bao sau
khi soi với đờng kính đồng tử khoảng 4mm.
- Mức độ 1: Vùng trung tâm trục thị giác

tuổi già gây biến chứng tăng NA), đục TTT trên
mắt đã mổ glôcôm, và đục TTT có tiền sử viêm
màng bồ đào, cận thị, đái đ
ờng ).
Bảng 1: Phân bố số mắt của BN theo bệnh lý TTT
Đục thể thuỷ tinh + bệnh lý khác
Bệnh lý Đục TTT
tuổi già
Kết hợp NA cao Đã mổ Glôcôm Bệnh lý khác
Số mắt 190 62 43 41
18,5% 12,8% 12,2% Tỷ lệ 56,5%
146 (43,5%)
Tổng số 336 (100%)
3. Phơng pháp phẫu thuật và kiểu mẫu TTTNT
Chúng tôi phẫu thuật theo 3 phơng pháp: lấy TTT ngoài bao (TTTNB), lấy TTT ngoài bao kết hợp cắt
bè củng giác mạc, lấy TTT ngoài bao bằng siêu âm (Phaco) ở 50 mắt (bảng 2). Sau đó BN đợc thống
nhất đặt loại TTTNT cứng, chất liệu PMMA, độ dài TTTNT < 13mm, và 13mm và tất cả các loại đều có
phần quang học lồi sau với phần quai hình chữ C.
241
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Bảng 2. Phân bố độ dài TTTNT và phơng pháp phẫu thuật
Độ dài TTTNT
PPPT (*)
< 13mm (**) 13mm (**) Tổng
TTTNB + TTTNT (1) 129 95 224 (66,7%)
Phaco + TTTNT (2) 39 11 50 (14,9%)
TTTNB + Cbè + TTTNT (3) 18 44 62 (18,5%)
Tổng 150 (44,6%) 186 (55,4%) 336 (100%)
4. Chức năng trớc phẫu thuật
Trớc mổ hầu hết BN có thị lực dới 1/10 (334

123 (100%)**
336 (100%)*
(*): % Tính theo chiều ngang
(**): % Tính theo chiều dọc
Chúng tôi gặp 3 hình thái: Hình thái xơ ở 73
mắt (59,3%), hình thái hỗn hợp ở 36 mắt (29,3%)
và hình thái hạt Elschnig ở 14 mắt (11,4%). Tỷ lệ
giữa các hình thái khác biệt có ý nghĩa (P < 0,01).
6. Tiến triển của đục bao sau TTT theo thời gian
Theo (biểu đồ 1), Trong 336 mắt sau mổ 6 tháng
có 35 mắt (10,4%) bị đục bao sau TTT. Sau mổ 6 -
12 tháng gồm 242 mắt có đục bao sau ở 58 mắt
(24%). Sau mổ 13 - 24 tháng gồm 177 mắt bị đục
bao sau ở 55 mắt (31,1%). Sau mổ 25 - 33 tháng gồm
97 mắt bị đục bao sau ở 42 mắt (43,3%).
301
184
122
55
42(433%),
55(31,1%)
58(24%)
35(10,4%)
0%
20%
40%
60%
80%
100%
< 6 tháng 6 th - 12 th 13 th - 24 th > 24 tháng

<6th 6-12th 13-24th >24th
Xơ Hỗn hợp Hạt Elschnig
Biểu đồ 2. Hình thái đục bao sau tiến triển theo thời gian
Theo biểu đồ 2, trong 12 tháng đầu, đục bao sau
TTT chủ yếu gặp hình thái xơ (96,36% đến 100%).
Theo dõi trên 1 năm chúng tôi gặp đủ 3 hình thái.
Hình thái hạt Elschnig tăng dần theo thời gian (dới
24 tháng có 9,6% và theo dõi trên 24 tháng là
23,7%). Thời gian trung bình phát hiện đục bao sau
TTT: hình thái xơ 11,1 tháng ngắn hơn có ý nghĩa so
với hình thái hạt Elschnig là 23,4 tháng hình thái
hỗn hợp 21,8 tháng (P < 0,001).
7. Tình hình đục bao sau TTT theo tuổi.
Theo (bảng 4), tỷ lệ đục bao sau TTT ở nhóm
( 40 tuổi) là 50% cao hơn 2 nhóm còn lại (P <
0,05). Tuy nhiên ở nhóm ( > 60 tuổi) có tỷ lệ đục
bao sau là 38,5% cao hơn nhóm (41 - 60 tuổi) với
tỷ lệ là 22,4% (P < 0,05 ). Mức độ và hình thái đục
bao sau TTT giữa 3 nhóm không có sự khác biệt.
Bảng 4. Tỷ lệ, mức độ và hình thái đục bao sau TTT theo tuổi
Tỷ lệ đục Mức độ đục Hình thái đục
Đục bao sau
Tuổi
Độ 0 ĐBS Độ 1 Độ 2 Độ 3 Xơ HH Hạt E
< 40t (n
1
= 14) 7
7 (50%)
3 4 0 3 3 1
41 - 60t (n

47 (75,8%) 17 (39,5%) 11 (26,8%)
Mức
độ đục
Tổng số
ĐBSTTT
48
(25,3%)
75/146 (51,4%)

%: Tính theo hàng dọc.
243
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
Theo bảng 5. Nhóm đục TTT kết hợp thêm một
bệnh lý khác có đục bao sau TTT (51,4%) cao hơn so
với nhóm đục TTT tuổi già có đục bao sau TTT
(25,3%) (P < 0,01). Trong nhóm đục TTT kết hợp
tăng NA cần thiết phối hợp thêm phẫu thuật cắt bè có
tỷ lệ đục bao sau cao nhất (75,8%) (với P < 0,01).
Đục bao sau TTT ở nhóm có kết hợp NA cao
chủ yếu đục hình thái xơ (37/47 mắt chiếm 78,7%)
khác biệt có ý nghĩa so với 3 nhóm còn lại với
50%, 47,1% và 36,4% (P < 0,01). Trong khi hình
thái đục bao sau TTT trên 3 nhóm còn lại không có
sự khác biệt (P > 0,05).
Trong số mắt có đục TTT kèm theo bệnh lý
Glôcôm, chúng tôi thống kê tỷ lệ đục bao sau TTT
theo 2 nhóm: Nhóm (1) gồm 62 mắt có đục TTT
kết hợp với tăng NA những mắt này trớc đó cha
có phẫu thuật lần nào đợc tiến hành phẫu thuật
lấy TTT ngoài bao phối hợp cắt bè củng mạc và đặt

(29,5%)
31 33 2 34

21 11
Phaco+TTTNT
n
2
= 50 (2)
40
(80%)
10
(20%)
8

2 0 2 5 3
TTTNB+ TTTNT +CBCM
n
3
= 62 (3)
15
(24,2%)
47
(75,8%)
21 25 1 37 10 0
Test Anova, F P < 0,05 P > 0,05 P > 0,05

ĐBS: đục bao sau, HH: Hỗn hợp, E: Elschnig
Trong tổng số 248 mắt có thể quan sát đợc vị
trí quai của TTTNT trong đó có 132 mắt (53,2%)
có 2 quai nằm ngoài túi bao (S - S), 94 mắt

vào trong túi bao và chính điều này mới hạn chế tỷ
lệ đục bao sau. Nếu mở bao trớc theo đờng tròn
liên tục nhng đặt TTTNT ngoài túi bao khi đó vẫn
tạo khe hở giữa bao sau và TTTNT, vẫn tồn tại sự
tiếp xúc giữa bao trớc và bao sau, nên không ngăn
cản đợc sự di c của các tế bào biểu mô ra sau vì
vậy không hạn chế đợc tình trạng đục bao sau
TTT.
10. ảnh hởng của độ dài TTTNT tới đục
bao sau TTT thứ phát
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ đợc thực hiện
với 1 loại chất liệu PMMA với các độ dài < 13 mm
và 13mm. Khi so sánh 2 loại độ dài này chúng tôi
nhận thấy tỷ lệ đục bao sau TTT ở nhóm có độ dài
TTTNT lớn 31/95 mắt (32,6%) cao hơn không có ý
nghĩa so với nhóm có độ dài TTTNT nhỏ 35/129
mắt (27,1%) (P > 0,05 ).
11. Biến chứng sau phẫu thuật ảnh hởng tới
đục bao sau
Bảng 7. Biến chứng sau phẫu thuật lấy TTT ngoài bao đặt TTTNTảnh hởng tới tỷ lệ
và mức độ đục bao sau TTT
Đục bao sau TTT
Độ đục
Biến chứng
Độ 0
Độ 1 Độ2 Độ3 Tổng (ĐBS)
Tổng số
Có 76 15 18 1
34 (30,9%) 110 (100%)
Không 126 21 12 0

bao, TTTNT
(N = 336) (3)

2
P < 0,01
Có 0 6 16 1
23 (100%) 23 (100%)
Không 213 54 44 2
100 (31,9%) 313 (100%)
Kẹt TTTNT
ở bờ đồng tử
(N = 336) (2)

2
P < 0,01
Có 40 26 50 2
78 (66,1%) 118 (100%)
Không 173 34 10 1
45 (20,6%) 218 (100%)
Viêm MBĐ
có xuất tiết
N = 336 (1)

2
P < 0,01
(%): tính theo hàng ngang
Theo bảng 7 , sau phẫu thuật chúng tôi gặp một
số biến chứng nh
245
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004

Bảng 8: Tỷ lệ và mức độ đục bao sau TTT so với các tác giả khác
Tên tác giả Năm
ng/c
Số
mắt
Chất liệu
TTTNT
Phơng pháp
mổ
Thời gian
theo dõi
Tỷ lệ ĐBS
(%)
Tỷ lệ cần điều
trị (%)
318 Phaco 19,18%
Ram J [14]

2001
278
PMMA
Acrylic
Silicon
TTTNB
2,4 0,7
năm
42,45%
Suresh PS;
Jones NP
[17]

NC
Số mắt Phơng pháp mổ
1năm 2 năm 3 năm 5 năm
Sundelin K [16] 1999 110 TTTNB 34% ( < 5 năm) 43%
Baratz KH [5] 2001 1839 TTTNB +Phaco 6% 14% 23% 33%
Lê Minh Tuấn [2] 1996 180 TTTNB 21,1% 24,6% 30%
P.K.Thanh

2003 336 TTTNB
TTTNB+CB
6,2% 18,1% 19,6%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tình trạng đục
bao sau TTT tiến triển tăng dần theo thời gian cả về
tỷ lệ và mức độ đục: sau mổ 6 - 12 tháng là 6,2%.
Sau mổ 13 đến 24 tháng là 18,1%. Trên 24 tháng là
19,6% (bảng 5). Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp
với nghiên cứu của: Baratz KH [5] tổng kết trên 1839
mắt đợc mổ đặt TTTNT theo phơng pháp lấy TTT
ngoài bao đặt TTTNT sau 1 năm có tỷ lệ đục bao sau
TTT cần điều trị là 6%, sau theo dõi 2 năm tỷ lệ cần
mở bao là 14% , sau 3 năm là 23% và sau 5 năm là
33%. Theo Lê Minh Tuấn [2] tỷ lệ đục bao sau TTT
cần điều trị sau 1 năm là 21,1% sau 2 năm là 24,6%
và sau 3 năm là 30%.
Hình thái của đục bao sau TTT tiến triển theo
thời gian. Hình thái xơ xuất hiện rất sớm có thể xảy
ra ngay sau phẫu thuật 1 tháng và gặp chủ yếu ở 12
tháng đầu sau mổ. Hình thái hạt Elschnig hoặc hỗn
hợp thờng gặp muộn hơn, ở giai đoạn sau mổ 12

sử viêm MBĐ. Percival SV [13] đã công bố tỷ lệ
đục bao sau TTT trên BN bị glôcôm cao hơn gấp 3
lần so với đặt TTTNT trên mắt đục TTT già.
5. ảnh hởng của phơng pháp phẫu thuật
Những mắt mổ glôcôm kết hợp đặt TTTNT cùng
1 thì có tỷ lệ đục bao sau thứ phát cao hơn những mắt
mổ thì 2. Kết quả này tơng ứng với những quan sát
lâm sàng sau mổ: những mắt đợc mổ 1 thì tình trạng
mắt trớc mổ thờng có phản ứng viêm MBĐ vì NA
cao. Mặt khác những mắt này phải tiến hành đồng
thời 3 phẫu thuật cùng một lần vì vậy thờng có phản
ứng viêm MBĐ ở mức độ vừa và nặng trong thời gian
hậu phẫu sớm. Sau điều trị một số trờng hợp vẫn
còn tồn tại màng xuất tiết đục dính với mặt sau
247
TCNCYH phụ bản 32 (6) - 2004
TTTNT; dính mống mắt với mặt trớc TTTNT; hoặc
kẹt ở đồng tử do tình trạng mống mắt quá nhẽo; đọng
tế bào và sắc tố mặt trớc TTTNT. Chính những biến
chứng này đã góp phần làm tốc độ và tỷ lệ đục bao
sau TTT ở nhóm mổ 1 thì cao hơn. Kết quả này cũng
phù hợp với tác giả Percival SP [13] và Dangel ME
[8] đã nhận thấy khi mổ lấy TTTNB đặt TTTNT kết
hợp với một phẫu thuật thứ 3 (mổ glôcôm) thì tỷ lệ
đục bao sau cao hơn so với khi chỉ tiến hành 2 phẫu
thuật lấy TTT đặt TTTNT đơn thuần.
Vị trí TTTNT trong túi bao ở nghiên cứu của
chúng tôi có tỷ lệ đục bao sau thứ phát thấp hơn so
với vị trí ngoài túi bao. Kết quả của chúng tôi phù
hợp với nghiên cứu của Ram J và Cs [14] đã đa ra

Kết quả của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với
Arneodo J (1989) [4] khi đối tợng nghiên cứu của
tác giả giống nh của chúng tôi. Tuy nhiên theo Ram
J[14] cho rằng mổ theo phơng pháp Phaco có tỷ lệ
đục bao sau thấp hơn có ý nghĩa so với phơng pháp
lấy TTT ngoài bao. Điều này có thể đợc giải thích vì
các tác giả thực hiện phơng pháp phẫu thuật phaco
với kỹ thuật thực sự hoàn hảo, mặt khác hầu hết BN
đợc đặt TTTNT với chất liệu mềm Acrylic và đặt
hoàn toàn vào trong túi bao.
6. ảnh hởng của độ dài TTTNT tới đục bao
sau TTT thứ phát
Độ dài TTTNT không ảnh hởng tới mức độ và
hình thái đục bao sau. Kết quả của chúng tôi cũng
phù hợp với nghiên cứu của Percival SP [13]với
1170 mắt đợc mổ đặt nhiều loại TTTNT, theo dõi
trong 3 năm đã chỉ ra các loại TTTNT không ảnh
hởng tới tình trạng đục bao sau TTT.
7. ảnh hởng của độ dài TTTNT tới đục bao
sau TTT thứ phát
Theo nghiên cứu của chúng tôi các biến chứng
sau mổ ảnh hởng tới tỷ lệ và hình thái đục bao sau
TTT thứ phát. Kết quả này phù hợp với nhận định của
các tác giả khác Simon SC [15] cho rằng sau phẫu
thuật lấy TTT ngoài bao đặt TTTNT tình trạng sót
chất TTT, cùng với những tổn thơng mống mắt, kết
hợp với sự phá vỡ hàng rào máu - mắt, là những
nguyên nhân tăng cờng phản ứng viêm MBĐ hậu
phẫu. Sau đó chính những chất TTT còn sót lại cùng
với những tế bào viêm đã dị sản tạo thành các nguyên

đục TTT kết hợp glôcôm có tỷ lệ đục bao sau TTT
trên nhóm mổ thì 2 thấp hơn so với mổ 1 thì.
- Khi đặt đợc TTTNT trong túi bao có tỷ lệ
đục bao sau TTT thứ phát thấp hơn so với khi đặt
TTTNT ở ngoài túi bao. Phơng pháp mở bao trớc
theo kiểu đờng tròn liên tục và làm nhuyễn chất
TTT bằng siêu âm (phaco) nếu không đặt đợc
TTTNT vào trong túi bao cũng không làm giảm tỷ
lệ đục bao sau TTT.
- Những biến chứng sau mổ nh đều gia tăng tỷ
lệ đục bao sau và hầu hết các trờng hợp này có
đục bao sau hình thái xơ.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Quốc Đạt (1995), Kết quả nghiên
cứu tình hình đục bao sau thứ phát sau mổ lấy thể
thuỷ tinh ngoài bao đặt thể thuỷ tinh nhân tạo tại
Quảng Nam - Đà Nẵng, Công trình nghiên cứu
khoa học ngành mắt toàn quốc, tập 1, 162 - 165
2. Lê Minh Tuấn (1996), Nghiên cứu phẫu
thuật đục thể thuỷ tinh già ngoài bao kết hợp với
đạt thể thuỷ tinh nhân tạo hậu phòng, Luận án
tiến sĩ khoa học y dợc ngành mắt
3. Lê Kim Xuân (2000), Nghiên cứu phẫu
thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo ở trẻ em, Luận án
tiến sĩ y học ngành mắt.
4. Arneodo J (1989), La cataract secondaire
après extracapsulaire mécanisme ou
phacoémulsification J. Fr. Ophtalmol, 12, 4, 287 - 290.
5. Baratz KH (2001), Probability of Laser
NdYAG capsulotomy after cataract surgery in

13. Percival SP (1988), Analysis of the need for
secondary capsulotomy during a five - year follow -
up “, J. Cataract Refract Surg, 14 (4), 379 - 382.
14. Ram J (2001), Effect of in - the - bag
intraocular lens fixation on the prevention of
posteror capsule opacification”, J. Cataract
Referact Sur, 27, 1039 - 1046
15. Simon - Castellvi GL (1994), UvÐite
fibrineuse aprÌs chirurgie de la cataracte avec
implant de lentille, Intra - oculaire ",
Opthalmologie, Vol 8, 235 - 240
16. Sunderlin K (1999), Posterior capsule
opacification 5 years after extracapsular cataract
extraction”, J. Cataract Refract Surg, vol 25 Fer, 246
- 250
17. Suresh PS, Jones NP (2001),
Phacoemulsifcation with intraocular lens
implantation in patiens with uveitis”, Eye 2001,
Oct, 15, (Pt 5) , 621 - 628.
Summary
Frequency and risk factors of postero capsular opacification (PCO)
after extracapsular cataract extraction with intraocular lens
(IOL) implantation
336 eyes of 278 patients were received a biconvex polymethylmethacrylate (PMMA) with 12.5 - 13 mm overall
length. We used 3 methods (Phacoemulsification, extracapsular cataract extraction (ECCE), and ECCE combining
trabeculectomy). Patients were examined at days 1 and 7, months 1, 3, 6, and years 1 and 2 after surgery. PCO
was objectively assessed by retroillumination imaging. In long - term follow - u (mean 19.8 months), the mean rates
of PCO was 36.6% (Under 6 months: 10.4%, From 6 - 12 months: 24%, From 13 - 24 months: 31.1%, and more 24
months: 43.3%). The rates and levels of PCO increased following the time. Mean interval from surgery to appearing
PCO was 11.1 months in eyes with fibrous memberane, 23.4 months in eyes withs Elschnig peals and 21.8 months


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status