Đề tài:
“Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế
Thu nhập cá nhân ở Việt Nam”
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hơn một năm qua dư luận, báo chí đã tốn khá nhiều giấy bút xoay quanh Luật thuế
thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực vào ngày 01/01/2009. Đây là sắc luật gây nhiều tranh cãi nhất
từ trước tới nay. Điều đó cho thấy sự phức tạp cũng như ít đồng thuận, từ không chỉ người dân
mà cả trong giới công chức. Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
chính đáng của người dân.
Phải nói một điều dân ta chưa quen lắm với việc phải trích lại một khoảng từ thu nhập
chính đáng do công sức, trí lực và sự bương chải vượt qua bao nhiêu khó khăn, kể cả việc đánh
đổi những rủi ro liên quan đến sinh mạng cá nhân và gia đình từ công việc hàng ngày của mình
để nộp thuế.
Luật thuế thu nhập cá nhân đã được ấp ủ từ hơn 17 năm qua, được soạn thảo và lấy ý kiến
rộng rãi từ mọi người dân từ hơn ba năm qua, cho thấy công tác chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Tuy
nhiên, khi ban hành, Luật thuế này vẫn chưa thu hút sự đồng thuận của đại đa số người dân,
ngay cả trong thành viên Quốc hội, có đến 115 đại biểu (chiếm 35,09%) không tán thành với
mức khởi điểm phải chịu thuế này và mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc. Đặc biệt trong
bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, lạm phát tại Việt Nam tháng 10/2009 tăng 23,15%
so với cùng kỳ năm ngoái, thì để nhận được sự ủng hộ của người dân quả là điều không dễ.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm học viên cao học lớp Ngân hàng ngày 1 - khóa 17,
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân
trong xã hội, trong khoảng thời gian nhất định ( thường là một năm ).
Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN
là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực
hiện công bằng xã hội.
Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không
kinh doanh. Thuế này thường được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các
cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn
trừ đặc biệt.
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu (đánh lên thu nhập) bao giờ cũng công bằng hơn thuế
gián thu (đánh lên tiêu dùng). Lý do đơn giản là với sắc thuế này, người có thu nhập cao phải
đóng thuế với tỷ lệ cao hơn người có thu nhập thấp, chưa cần xét đến thu nhập đó sẽ dùng để
làm gì.
- Thuế gián thu: là loại thuế mà người tiêu dùng cuối cùng phải chịu qua giá mua hàng, giá
đã có thuế (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu);
những tổ chức, cá nhân kinh doanh mặt hàng đó là đối tượng nộp thuế; sau khi bán hàng, những
tổ chức, cá nhân SXKD đã thu tiền của người mua hàng trong đó có một khoản tiền thuế và họ
có nghĩa vụ phải nộp lại cho Nhà nước. Động viên thu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của các
tổ chức và cá nhân, không căn cứ vào thu nhập và gia cảnh của người nộp thuế. Như vậy, không
phân biệt người giàu hay nghèo, nếu cùng mua một sản phẩm tiêu dùng thì đều chịu thuế như
nhau.
- Thuế trực thu: là loại thuế thu trực tiếp một phần vào phần thu nhập của doanh nghiệp,
của cá nhân sản xuất kinh doanh, của những người hành nghề tự do. Những doanh nghiệp,
những cá nhân sản xuất kinh doanh, những người hành nghề tự do có thu nhập nếu không thuộc
diện miễn thuế thu nhập thì họ phải trực tiếp khai nộp thuế cho Nhà nước. Thu trực tiếp vào thu
nhập của đối tượng nộp thuế, người nộp thuế vừa là người chịu thuế, gồm các loại thuế: thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập doanh nghiệp điều tiết thu nhập
của doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ
của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi ích", "công bằng" và
"khả năng nộp thuế". Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng
tăng ngân sách, vừa đạt được sự công bằng cho những công dân có mức thu nhập chính thức -
vốn là đối tượng chính của luật thuế thu nhập hiện tại.
- Hạn chế những hoạt động mà Nhà nước không muốn phát triển, chẳng hạn như đầu cơ
vào thị trường bất động sản.
- Thúc đẩy sự phát triển của một số hoạt động có đóng góp dài lâu cho sự tăng trưởng về
giá trị kinh tế của quốc gia.
(Lâm Minh Chánh - Báo Kinh Tế Sài Gòn ngày 08/11/2007 ) Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 6
Phần 2: LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
1. Sự hình thành của Luật thuế TNCN
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, hệ thống chính sách thuế đã được hình thành và
từng bước hoàn thiện qua hai lần cải cách (năm 1990 và năm 1995). Thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam đã được áp dụng từ năm 1991. Tuy nhiên, trong suốt 17 năm, loại thuế này vẫn chỉ
chiếm tỷ lệ quanh quẩn 2% trong tổng thu ngân sách. Trong khi, ở các nước tiên tiến, tỉ lệ thuế
thu nhập cá nhân thường chiếm từ 30% đến 50% tổng thu ngân sách của chính phủ.
Cũng trong 17 năm qua, ngưỡng bắt đầu chịu thuế áp dụng cho người Việt Nam đã được
điều chỉnh 5 lần (chưa tính những lần Chính phủ đề xuất nhưng không được Quốc hội thông
qua), ngưỡng này tăng dần từ 500 ngàn đồng/tháng (áp dụng từ năm 1991) đến 5 triệu
đồng/tháng (áp dụng từ năm 2004). Đồng thời, thuế suất tối đa áp dụng cho người Việt Nam
cũng giảm dần từ mức 80% xuống 72%, rồi 65%, rồi 40%, để còn lại mức 35% như trong Luật
thuế hiện tại áp dụng ngày 01/01/2009. (Bùi Văn- http://www.vietnamnet.vn/kinhte).
Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam được hình thành và sửa
đổi qua các văn bản pháp quy sau:
1.1. Cơ sở pháp lý
- Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 50-LCT/HĐNN8 ngày 07/01/1991 về thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao;
- Pháp lệnh số 14/1999/PL-UBTVQH10 ngày 30/6/1999 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Thông tư số 15/2000/TT-BTC ngày 23/02/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung và
sửa đổi một số điểm trong Thông tư số 39 TC/TCT ngày 26 tháng 6 năm 1997của BộTài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định số 05/CP ngày 20 tháng 1 năm 1995 và Nghị định số 30/CP ngày
5 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao;
- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 35/2001/PL-UBTVQH10 ngày
19/5/2001 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10;
- Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của
pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Nghị định số 147/2004/NĐ-CP, ngày 23/7/2004 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành
Pháp lệnh Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Thông tư 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị
định số 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh
thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Thông tư 12/2005/TT-BTC ngày 04/02/2005 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số
điểm của Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính.
1.2. Những kết quả đạt được
Việc ban hành và sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách
thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
Việc áp dụng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong thời gian qua là phù
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 8
hợp với tiến trình phát triển đất nước, nên đã phát huy tác dụng trong quản lý và thu ngân sách.
Nguồn thu từ sắc thuế này được thể hiện qua biểu sau:
BẢNG TỔNG HỢP THU THUẾ TNCN QUA CÁC NĂM
Đơn vị tính: Tỷ đồng
S
ố TT
1.482
2,27
4 1998 72.965
1.782
2,44
5 1999 78.489
1.856
2,36
6 2000 90.749
1.831
2,02
7
2001
102.970
2.058
12 2006 279.472
5.179
1,85
13 2007
(Tổng hợp từ nguồn: World Bank và Cục thống kê)
Bảng số liệu cho thấy, kể từ khi pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có
hiệu lực đến nay, số tiền thu nộp ngân sách từ sắc thuế liên tục tăng và chiếm bình quân khoảng
gần 2% tổng thu ngân sách hàng năm.
1.3. Một số hạn chế, bất cập
Trong những năm tới, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (giai đoạn 2006
– 2010), các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động, bất động sản, khoa học công nghệ sẽ có
sự phát triển mạnh mẽ hơn. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ
chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau:
thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, từ dịch vụ và đầu tư tài chính… Bên cạnh đó, cùng với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế số người nước ngoài đến làm ăn sinh sống tại Việt Nam và số
người Việt Nam có thu nhập từ nước ngoài cũng tăng lên. Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của
các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư ngày càng lớn.
Trước tình hình trên, chính sách thuế hiện hành đối với thu nhập của cá nhân đã bộc lộ một
số hạn chế: chưa thực sự đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế vì cùng là thu nhập
của cá nhân nhưng thu nhập từ kinh doanh không được trừ khởi điểm và nộp thuế theo mức
28% trong khi thu nhập từ tiền công, tiền lương trên mức khởi điểm 5 triệu đồng/tháng mới
phải nộp thuế và áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần từ 10% đến 40%; còn áp dụng biểu thuế
khác nhau giữa người Việt Nam và người nước ngoài, người trong nước phải nộp thuế cao hơn
người nước ngoài. Chính sách thuế hiện hành cũng chưa phù hợp với thông lệ quốc tế: chưa có
một chính sách thuế điều tiết thống nhất đối với thu nhập của cá nhân. Việc duy trì các chính
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Thuế thu nhập cá
nhân cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho ngân sách nhà nước
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng số thu ngân
sách tại các nước trong khối ASEAN, như: Thái Lan, Malaysia, Philippin khoảng 12-16%,
các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp,
Đức khoảng 30-40% tổng số thu ngân sách. Tỷ lệ thuế thu nhập của cá nhân (bao gồm cả
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 10
thuế TNCN, thu nhập DN, thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất) tại Việt Nam hiện nay
khoảng 4,1%.
(Nguồn: Tổng cục thuế)
Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công
bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội
nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân với tổng
số 79,11% số phiếu tán thành. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009.
2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội khóa XII;
- Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật thuế thu nhập cá nhân;
- Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP
ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Luật này gồm 4 chương, 35 điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009, quy định như sau:
2.2. Nội dung của Luật thuế TNCN
2.2.1. Đối tượng nộp thuế
- Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại
Điều 3 của Luật thuế thu nhập cá nhân phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân
không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật thuế thu nhập cá nhân phát
sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
- Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với
con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với
nhau.
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối,
nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế
thông thường.
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để
sản xuất.
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
- Thu nhập từ kiều hối.
- Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm
việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.
- Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả.
- Thu nhập từ học bổng.
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn
lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp
luật.
- Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi
nhuận.
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 12
- Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới
hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2.2.4. Giảm thuế
Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh
hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng
không vượt quá số thuế phải nộp.
2.2.5. Các khoản giảm trừ
* Giảm trừ gia cảnh:
hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo
hiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ nêu trên.
- Biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau:
Bậc
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng
(triệu đồng)
Thuế suất
(%)
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35
2.2.8. Biểu thuế toàn phần
- Biểu thuế toàn phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn,
chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền
thương mại, nhận thừa kế, quà tặng là thu nhập chịu thuế.
- Biểu thuế toàn phần được quy định như sau:
Thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
c) Thu nhập từ trúng thưởng 10
d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10
- Định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú, đó là "cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam,
bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có
thời hạn".
2.3.2. Đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế.
Luật thuế TNCN phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó, thu
nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ
đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao
gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập
từ chuyển nhượng quyền thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu
nhập. Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu
nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối
với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần.
2.3.3 Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu
thuế.
- Một số khoản thu nhập được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập từ chuyển
nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh
doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng, thu nhập từ casino,
thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
- Luật thuế TNCN quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà
tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ
chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội,
cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 15
- Tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả
chuyển nhượng chứng khoán. Tuy nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng
và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế TNCN.
Mở rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp
dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường
hợp đặc biêt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đồng thời, bằng quy định mới này,
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 16
bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư. Tất nhiên, đến một thời điểm nào
đó, khi thu nhập và mức sống của dân cư đã tăng rất cao, Quốc hội sẽ xem xét điều chỉnh mức
giảm trừ này cho phù hợp.
- Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc
được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế. Luật cũng không khống chế mức giảm
trừ tối đa cho người phụ thuộc.
Việc mở rộng diện giảm trừ như trên cho những người phụ thuộc đảm bảo thực hiện công
bằng trong điều tiết thu nhập và phù hợp với đạo lý xã hội của người Việt Nam, chắc chắn sẽ
nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo nhân dân.
2.3.6. Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo.
- Khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp
dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối
với cá khoản thu nhập khác. Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội
tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
2.3.7. Quy định giảm trừ chi phí cho cá nhân kinh doanh một cách hợp lý
- Cùng với việc chuyển cá nhân kinh doanh từ diện nộp thuế TNDN sang nộp thuế TNCN,
Luật thuế TNCN đã quy định các khoản chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
của cá nhân kinh doanh. Về cơ bản, các khoản chi phí hợp lý được trừ này kế thừa cá quy định
hiện hành của Luật thuế TNDN. .
2.3.8. Điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất, và tăng bậc
thuế suất; thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài.
- Luật thuế TNCN vẫn áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất
giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35% với số lượng bậc thuế
nâng lên thành bảy và áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài. Với biểu
thuế mới này, đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa
các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần mở rộng
diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp
phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích
người dân làm giàu chính đáng.
biện rằng mức khởi điểm chịu thuế quá thấp. Đặc biệt, các mức thuế suất, giảm trừ gia cảnh
không tính đến yếu tố trượt giá. Tất cả các mức giảm trừ gia cảnh, khởi điểm chịu thuế đều
cho thấy sự bất cập giữa thu nhập chịu thuế và chi tiêu thực tế trong cơn bão giá. Luật chỉ khả
thi và huy động được khả năng đóng góp của nhân dân khi mức thu nhập phải đảm bảo nhu cầu
tiêu dùng, sinh hoạt phí và tích luỹ tối thiểu. Căn cứ vào những tiêu chí này thì sẽ thấy, mức
khởi điểm chịu thuế 4 triệu đồng/tháng là quá thấp.
Theo Cục thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng 10 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007
là 123,15%. Luật thuế TNCN ban hành tháng 11/2007, từ đó đến nay tỷ lệ lạm phát tăng
khoảng 23,0%, như vậy, mức khởi điểm chịu thuế đã trượt giá lên 4.920.000 đồng và mức giảm
trừ gia cảnh tăng 1.968.000 đồng.
Tuy nhiên, vừa yếu kém trong dự báo; vừa quá bảo thủ trước những ý kiến trái chiều; cơ
quan xây dựng Luật thuế vẫn khẳng định: Đã tính đến yếu tố trượt giá; thậm chí cơ quan này
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 18
còn cho rằng mức tính trượt giá đã khá "sâu" và khẳng định mức thu nhập 4 triệu đồng/tháng đã
là thu nhập trung bình ở mức cao tại VN.
Chúng ta có thể làm một bài toán như sau: Chẳng hạn 01 người sống ở Thành phố Buôn Ma
Thuột – tỉnh Dak Lak, anh ta phải chi phí các khoản cho 1 tháng như sau:
+ Xăng xe đi lại: 20km x 2 lít/100km x 14.000 đ/lít x 30 ngày = 168.000 đồng
+ Khấu hao xe máy: 20.000.000 đ /5 năm /12 tháng = 333.000 đồng
+ Tiền ăn + cà phê sáng: 70.000 đồng/ngày x 30 ngày = 2.100.000 đồng
+ (Quần 150.000x2 + áo 250.000x2 + dày 300.000 + mũ 150.000)/12 = 105.000 đồng
+ Tiền thuê nhà + điện + nước = 700.000 đồng
+ Điện thoại 2.400.000 đ/12 tháng + cước 200.000 đ = 400.000 đồng
+ Các vật dụng cá nhân = 100.000 đồng
Tổng cộng: 3.906.000 đồng
Như vậy, với mức 4 triệu đồng/tháng, một cá nhân ở Buôn Ma Thuột chỉ đủ chi tiêu ở mức
tối thiểu, chưa kể các thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh có vật giá đắt đỏ hơn
nhiều thì làm sao đủ chi tiêu cho nhu cầu tối thiểu?; trong khi anh ta không thể có chi phí để
học tập thêm, tham gia các nhu cầu giải trí, du lịch và đặc biệt là muôn thuở anh ta không thể
khác.
- Mức sống của dân ta hiện rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, không
nên áp dụng ngay một lúc mức mức lũy tiến lên đến 35% được. Hãy so sánh với Singapore, một
đảo quốc có mức thu nhập bình quân đầu người rất cao 26.892 USD (năm 2005), trong khi đó,
mức thuế thu nhập cá nhân cao nhất chỉ 20%.
2.4.5. Bất cập về thủ tục hành chính
- Ngày 30/9/2008, Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNCN được Bộ Tài
chính ban hành. Với nội dung dài hơn 60 trang, 28 biểu mẫu, chắc chắn cả cơ quan thuế và
người nộp thuế sẽ có cả một "biển việc" và "núi giấy tờ" cần làm để thực thi luật này. Việc
giảm trừ gia cảnh quy định rất nhiều giấy tờ, thủ tục xác nhận cần khoảng hơn 30 loại giấy tờ.
Luật gia Hữu Dung nhận xét: Nếu một người nộp thuế phải tham gia tất cả quy trình trên thì có
lẽ "cả năm chỉ đi lo thủ tục thuế". Sẽ là quá bất cập, nhiêu khê, phức tạp khi một người có thu
nhập, sau khi giảm trừ gia cảnh thì không còn phải nộp thuế TNCN, nhưng lại vẫn phải đáp ứng
đầy đủ các loại giấy tờ, thủ tục như trên và rõ ràng cơ quan thuế cũng mất nhiều công sức mà
thực chất không thu được một đồng tiền thuế nào.
(Phạm Anh - Tú Mai, Lao Động số 205 Ngày 06/09/2008)
- Việc giảm trừ gia cảnh với 1,6 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc sẽ là rất phức tạp.
Cơ quan thuế có thể sẽ đau đầu với khái niệm "người phụ thuộc", bởi với mối quan hệ gia
đình của Việt Nam thì số lượng có thể sẽ rất nhiều, và khái niệm này sẽ mở rộng đến đâu nếu cá
nhân được quyền nhận con nuôi? Việc xác nhận người phụ thuộc sẽ do cơ quan hành chính thực
hiện, đây hoàn toàn có thể là "mắt xích" làm nảy sinh tiêu cực; trong khi cơ quan thuế không
thể quản lý nổi đối tượng này.
2.4.6. Repo chứng khoán đánh thuế trùng
- Dịch vụ Repo chứng khoán đang được áp dụng rộng rãi trên thị trường. Khi nhà đầu tư và
công ty chứng khoán thực hiện hợp đồng mua bán nhưng về thực chất việc repo chứng khoán
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 20
hiện nay không khác gì cầm cố chứng khoán để vay tiền. Đối với nhà đầu tư đã chọn phương
thức nộp thuế trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần theo thuế suất 0,1%, một khi đã
thực hiện bán cho công ty chứng khoán là phải chịu thuế. Đến kỳ hạn, nhà đầu tư mua lại chứng
cách giàu nghèo. Ngược lại, các nước cũng chú trọng đến tình trạng kinh tế và gia đình của
người nộp để được miễn giảm.
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 21
- Mỹ: Chủ yếu từ người giàu
Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu chủ yếu và quan trọng bảo đảm nguồn tài chính của
nước Mỹ. Từ tổng thống cho đến người bình thường đều phải đóng thuế. Để điều chỉnh mức
thu nhập tăng trưởng quá nhanh của tầng lớp giàu có, Mỹ tăng tỷ lệ thu thuế người giàu và giảm
thu thuế người nghèo. Nguyên tắc cơ bản để thu thuế là thu nhập càng cao đóng thuế càng
nhiều.
Quy định về thu nhập của Mỹ tương đối phức tạp, không những chú trọng thu nhập cá nhân
mà còn chú trọng đến các thành viên trong gia đình. Cùng một mức thu nhập nhưng khoản nộp
thuế của một đôi vợ chồng có con nhỏ và một đôi vợ chồng không có con chênh lệch khá nhiều.
Người có thu nhập cao là đối tượng chủ yếu nộp thuế. 60% tổng nguồn thuế thu nhập cá
nhân ở Mỹ thu từ người có thu nhập 100.000 USD (1,58 tỷ đồng Việt Nam) mỗi năm trở lên.
Công dân trong diện đóng thuế phải khai thu nhập trước ngày 15-4 hàng năm.
- Pháp: Thu nhập cao, đóng thuế nhiều
Luật quy định công dân Pháp và những người tạm trú từ sáu tháng trở lên tại nước này (bất
luận quốc tịch nào) có chức nghiệp và lợi ích kinh tế tại Pháp đều phải kê khai và đóng thuế.
Thu nhập càng cao, tỷ lệ nộp thuế sẽ càng nhiều. Lấy ví dụ một người độc thân: thu nhập
hàng năm dưới 4.191 euro (82 triệu đồng Việt Nam) không phải đóng thuế; thu nhập từ 4.192
đến 8.242 euro (82 triệu - 162 triệu đồng Việt Nam) đóng thuế 7,05%. Tỷ lệ này tăng dần lên
cho đến mức thu nhập từ 47.131 euro ( 925 triệu đồng Việt Nam) trở lên phải nộp thuế
49,585%.
Trên thực tế, mức thu thuế còn dựa vào tình trạng gia đình, con cái của cá nhân người nộp.
- Đức: Điều chỉnh thuế hàng năm
Theo luật của Đức, cư dân thường trú và cư dân nước ngoài không thường trú nhưng có
nguồn thu nhập tại Đức đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tỷ lệ nộp thuế không giống nhau.
Thu nhập càng cao, tỷ lệ nộp thuế càng nhiều. Đức điều chỉnh tỷ lệ thu thuế hàng năm. Đức
cũng căn cứ vào tình trạng gia đình của cá nhân để thu thuế. Thuế thu nhập cá nhân chiếm 1/3
tăng lên so với mức thu nhập phải đóng thuế trước kia là 800 nhân dân tệ (1,6 triệu đồng Việt
Nam). Tỷ lệ đóng thuế cũng sẽ được nâng lên đối với người có mức thu nhập cao.
Theo báo Global Times, những người giàu ở Trung Quốc đóng thuế thu nhập cá nhân nhẹ
nhất thế giới. Việc sửa đổi luật thuế có tác dụng cân bằng khoảng cách giàu nghèo của công dân
nước này.
(Theo Pháp luật TP.HCM)18:19' 30/09/2005 (GMT+7)
http://www.vietnamnet.vn/kinhte/thegioi/2005/09/495271/
Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm
GVHD: Nguyễn Ngọc Hùng Trang 23
Phần 3:
ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1. Đánh giá chung:
Luật thuế TNCN ra đời đánh dấu một nỗ lực rất lớn của Nhà nước ta, đã luật hóa được pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được ấp ủ hơn 17 năm qua. Luật thuế
TNCN được chuẩn bị, xây dựng rất kỹ lưỡng, lấy ý kiến của nhân dân từ hơn 3 năm qua. Tuy
nhiên, đây cũng là sắc luật gây nhiều tranh cãi nhất từ trước đến nay. Luật thuế TNCN là một
sắc thuế quan trọng nhằm tiến tới công bằng xã hội khi nó đảm bảo cho mọi người bình đẳng về
nghĩa vụ đối với đất nước và tạo điều kiện cho mọi người tự giác đóng thuế để tăng ngân sách
vắt sức ra để kiếm được nhiều tiền lại càng bị đánh thuế cao.
- Nên bỏ các mức thuế luỹ tiến 5,6,7 trong bậc luỹ tiến (tương đương với mức 25%, 30% và
35%) nhằm khuyến khích sự hăng say làm giàu chính đáng, tăng năng suất lao động. Nên tham
khảo Luật thuế TNCN của Singapore - một hiện tượng phát triển kinh tế của Châu Á.
- Cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt các biểu mẫu, thủ tục xác minh, xác nhận nhằm hạn
chế tiêu cực có khả năng phát sinh từ việc xác nhận các thủ tục giảm trừ gia cảnh
- Chưa nên đánh thuế TNCN đối với thị trường chứng khoán, vì đây là thị trường non trẻ,
mới hình thành nên cần khuyến khích, tạo điều kiện phát triển. Tham khảo các quốc gia và
vùng lãnh thổ trong khu vực như Hồng Kông, Singapore, Thái Lan không đánh thuế vào
chuyển nhượng chứng khoán, còn Trung Quốc thì áp dụng mức thuế rất thấp.
- Cơ quan thuế cũng cần bổ sung quy định "bù trừ" trong việc chồng thu nhập cao thì có thể
bù cho vợ thu nhập thấp hoặc không có thu nhập.
- Cơ quan thuế nên bãi bỏ khâu quyết toán thuế nếu xét thấy đối tượng sau khi giảm trừ
không còn phải nộp thuế.
- Cơ quan thuế cần có sự thay đổi trong việc tuyên truyền cho dân hiểu về chính sách thuế.
Cụ thể, thuế là "trách nhiệm", "nghĩa vụ" đóng góp, chứ không phải là "quyền lợi" hay "tinh
thần tự giác". Đây chính là sự rõ ràng về chính sách. Bên cạnh đó, chính sách thuế phải có sự
trung lập; không nên thưởng, phạt ai, mà cần thực hiện theo luật.
2.2. Trong dài hạn
- Cần xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội tiên tiến, xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp, xây
dựng đề án hạn chế dùng tiền mặt của người dân Tuyên truyền người dân hạn chế sử dụng
tiền mặt trong sinh hoạt.
- Khi nền kinh tế ổn định, mức sống của người dân cao, trình độ dân trí, ý thức trách nhiệm,
nghĩa vụ của người dân về thuế được nâng cao, khi đó sẽ áp dụng các mức thu thuế lũy tiến cao. Một số bất cập khi thực thi Luật Thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam Bài tập nhóm