Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Việt Nam đang đi trên con đờng đổi mới và hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Những qui luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng
phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng
quốc gia và bản thân mỗi chúng ta. Chúng ta cần phải hiểu các qui luật đó và
tự điều chỉnh bản thân cho phù hợp với diễn biến của qui luật. Quá trình mở
cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hóa nền kinh tế đang
dần chứng tỏ là một qui luật của loài ngời tiến bộ. Để bắt kịp với quá trình
này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và
thích nghi với môi trờng bên ngoài. Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về
thuế luôn đợc các quốc gia đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối
với sự phát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của mỗi quốc gia. Khái niệm
cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia lớn trên thế giới đã xuất hiện trong một
hai thập kỉ gần đây đã khiến cho các quốc gia còn lại cũng phải liên tục tiến
hành cải cách thuế nhằm tăng cờng sức cạnh tranh trên các lĩnh vực thơng
mại mậu dịch, lực lợng lao động...
Đối với Việt Nam trong thời gian tới, khi Hiệp định về thuế quan
AFTA, Hiệp định thơng mại Việt-Mỹ và tiếp tục sau khi Việt Nam đợc gia
nhập WTO phát huy hiệu lực thì những biến đổi về cơ cấu thuế và nguồn thu
ngân sách sẽ là một điều không thể tránh khỏi. Nhận thức đợc điều đó, nớc ta
đã và đang tiến hành cuộc cải cách nhằm hoàn thiện hệ thống thuế còn nhiều
thiếu sót để có thể theo kịp và bắt nhịp với tốc độ phát triển kinh tế của các n-
ớc trong khu vực và thế giới, đồng thời cũng có thể đạt đợc các mục tiêu về
kinh tế-xã hội-chính trị mà Nhà nớc đã đề ra.
Trong mời năm gần đây, hệ thống thuế nớc ta đã có rất nhiều thay đổi;
nhiều sắc thuế mới đã ra đời, các sắc thuế có từ trớc cũng đợc sửa đổi nhằm
thích nghi với điều kiện mới. Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân ra đời năm
1991, cho đến nay qua năm lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay Chính phủ đang
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế xuất hiện tơng đối sớm. Lần
đầu tiên nó xuất hiện ở nớc Anh vào năm 1799. Đầu tiên nó đã bị phản đối
rất nhiều, bản thân thủ tớng nớc Anh William Pitt năm 1798 đã từng nói
Thật là nhục nhã và xấu hổ đối với cơ quan thuế và hình ảnh của một quốc
gia khi bắt một quí ông hay một quí cô phải nói với ai đó về thu nhập của
họ. Nhng chỉ một năm sau thì chính ông đã phải thay đổi quan điểm, và
thuế thu nhập cá nhân đã ra đời. ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện
trong thời kì chiến tranh 1812, và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nớc
Anh năm 1798. Sau 1815, nó lại bị xoá bỏ ở Mỹ do Nhà nớc không có nhu
cầu tăng thu ngân sách. Nhng cho đến năm 1862, thuế thu nhập cá nhân lại
quay trở lại nớc Mỹ sau khi Bộ luật thuế 1862 đợc tổng thống Licoln phê
chuẩn, nó nhằm mục đích cung cấp nguồn tài chính cho cuộc nội chiến của
nớc Mỹ
1
. ở một số nớc khác thuế thu nhập cá nhân cũng xuất hiện từ khá
sớm, nớc Nhật năm 1887,Trung Quốc năm 1936 còn Hàn Quốc thì loại thuế
này ra đời muộn hơn vào năm 1974
2
. Vậy thuế thu nhập cá nhân là gì, nó có
những đặc điểm và vai trò gì mà khiến các quốc gia đặc biệt quan tâm và đa
nó thành một sắc thuế trong hệ thống thuế?
1
Nguồn: History of Taxation- www.tax.org
2
Nguồn: Giáo trình quản lý thuế-ĐHKTQD, trang 105
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.1.2 Các loại hệ thống thu thuế thu nhập cá nhân
Hệ thống thuế thu nhập cá nhân thờng đợc tổ chức theo hai mô
hình: hệ thống tổng thể ( global system ) và hệ thống riêng biệt ( schedular
nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở đó từ 183 ngày trở lên
hoặc lâu hơn những nơi khác. Thời gian này có thể thay đổi theo qui định của
từng quốc gia (ii) Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớn thu nhập
của đối tợng đợc tạo ra từ những hoạt động này (iii) Có trung tâm lợi ích kinh
tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu t chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động
ở quốc gia đó. Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo
qui định của Nhà nớc sau đó đợc khấu trừ đi các khoản chi phí khác đợc phép
khấu trừ theo qui định của Nhà nớc. Nhà nớc sẽ có một danh mục các khoản
thu nhập mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục
khác liệt kê các chi phí đợc phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trớc khi
tính thuế. Ví dụ ở Pháp thì ngời ta chia ra làm tám loại thu nhập. Ta có thể kể
tóm tắt ở đây: thu nhập từ cho thuê bất động sản; thu nhập từ tiền lơng...; thu
nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thơng mại; thu nhập từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp; thu nhập của một số lãnh đạo doanh nghiệp; thu nhập
từ hoạt động phi thơng mại; thu nhập từ bán tài sản; thu nhập từ đầu t động
sản. Còn ở Việt Nam, ngời ta chia thu nhập chịu thuế ra làm hai loại là thu
nhập thờng xuyên và thu nhập không thờng xuyên; trong đó thu nhập thờng
xuyên có năm loại thu nhập chịu thuế và thu nhập không thòng xuyên có sáu
loại thu nhập chịu thuế. Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt
Nam ở chơng sau. Ngoài ra, có những trờng hợp các cá nhân có thu nhập
phát sinh ở nớc ngoài mà đã nộp thuế một phần ở nớc ngoài, thì khi đó việc
khấu trừ thuế nộp ở trong nớc sẽ phụ thuộc vào hiệp định kí kết giữa quốc gia
đó và bên nớc ngoài về việc tránh đánh thuế trùng. Các đối tợng không c trú
tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với phần thu nhập
phát sinh tại quốc gia đó.
Do đối tợng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tợng chịu thuế nên
thuế thu nhập cá nhân đợc xếp vào loại thuế trực thu. Phạm vi điều chỉnh
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc điểm đối tợng chịu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thuế thu nhập cá nhân thông thờng là loại thuế lũy tiến. Các nớc thờng
xây dựng một biểu thuế luỹ tiến, các bậc ứng với mức thu nhập càng cao thì
có mức thuế suất biên càng cao. Do đó những ngời có thu nhập càng cao thì
phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những ngời có mức thu nhập
thấp hơn. Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xã hội,
công bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc. Biểu thuế luỹ tiến đợc xây
dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá
nhân khác nhau. Những ngời có thu nhập cao thì có nhiều khả năng nộp thuế
cao hơn những ngời có thu nhập thấp và ngợc lại. T tởng đánh thuế dựa vào
khả năng nộp thuế của Nhà vua Writ
3
- vị vua nớc Anh vào thế kỉ thứ 17- đã
là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các biểu thuế luỹ tiến. Khoảng cách t-
ơng đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất luỹ tiến mạnh hay yếu
của biểu thuế. Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ lũy tiến của biểu
thuế càng cao và ngợc lại.
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập
đối với cơ cấu kinh tế. Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân c, phạm
vi điều tiết rất rộng nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó
khăn. Nó dễ gây phản ứng của ngời nộp thuế. Đồng thời do tính chất phân
tán và động của đối tợng chịu thuế và nguồn thuế nên công tác quản lí thu rất
khó khăn. Chính vì đặc điểm này mà chi phí hành thu của thuế thu nhập cá
nhân rất cao.Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ không phải là lên tiêu
dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành kinh tế cụ thể nào
cả. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá nhân vẫn
có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế. Thuế thu nhập cá
nhân đợc sử dụng nh là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa
quốc gia, nó ảnh hởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh
hởng nhất định đối với cơ cấu kinh tế.
Còn ở những nớc đang phát triển, đời sống ngời dân cha cao, thu nhập
trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết của ngời dân và
tiết kiệm ra một phần nhỏ. Số lợng những ngời có thu nhập cao, giàu có trong
xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong xã hội, đại bộ phận dân c là có
thu nhập và mức sống còn thấp so với dân c các nớc phát triển. Chính vì vậy,
khả năng đóng góp thuế TNCN cho Nhà nớc ở các nớc đang phát triển vẫn
còn rất thấp. Ví dụ ở Trung Quốc là một nớc đang phát triển nhng có mức độ
4
Nguồn: Tài chính tháng 5/2001
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phát triển cao thì thuế TNCN chỉ chiếm 13,4% năm 1994 và 16,3% năm
1996 tổng số thu; trong khi đó nguồn thuế TNCN ở Mỹ đạt xấp xỉ 48% năm
1994 trên tổng số thu các loại thuế và phí; còn ở nớc ta thì con số này là
0,87% năm 1994
5
. Nhìn vào số liệu, ta có thể thấy rằng thuế TNCN thu đợc tỉ
lệ thuận với mức độ phát triển của nền kinh tế, với thu nhập trung bình của
dân c. Thuế TNCN do đó tất yếu sẽ dần trở thành một nguồn thu quan trọng
hàng đầu trong nguồn thu ngân sách nhà nớc.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia, tạo điều
kiện tăng đầu t và thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Ta biết rằng mỗi một đơn vị
thu nhập bao gồm hai phần: đơn vị tiêu dùng và phần còn lại là đơn vị tiết
kiệm. Khi bạn có thu nhập là một triệu đồng, bạn phải nộp thuế giả sử là
100.000, bạn còn lại 900.000 trong đó bạn tiêu dùng hết 800.000 còn
100.000 bạn dành tiết kiệm. Nếu nh không có thuế thu nhập cá nhân, bạn có
quyền tiêu dùng 850.000 và tiết kiệm 150.000; Nếu nh khoản thuế nộp không
sử dụng trong chi tiêu chính phủ thì có nghĩa là tiết kiệm quốc gia trong tr-
ờng hợp trớc là 200.000 (100.000+100.000); còn ở trờng hợp sau thì tiết kiệm
quốc gia chỉ là 150.000 bằng chính với tiết kiệm khu vực t nhân. Khi tiết
vừa phải và hợp lí để đảm bảo việc tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc gia nhng đồng
thời vẫn duy trì đợc nỗ lực và động cơ làm việc của ngời lao động.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt
sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Một chức năng quan trọng của thuế là
nhằm đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã
hội. Trong các loại thuế thì thuế TNCN thể hiện rõ nét nhất vai trò này. Do
đặc điểm là thuế đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với tính chất luỹ
tiến của thuế TNCN đã thu hẹp đợc khoảng cách về thu nhập giữa các cá
nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có mức thu nhập thấp. Đây là quan
điểm công bằng theo chiều dọc, những ngời có khả năng nộp thuế càng cao
thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngợc lại. Nó khác so với quan điểm công bằng
theo chiều ngang là tất cả mọi ngời sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ nh nhau.
Các khoản thuế thu đợc sau đó có thể đợc chính phủ sử dụng để trợ giúp lại
những ngời có mức thu nhập thấp. Trên lí thuyết đây là một loại thuế rất u
việt trong việc điều hòa thu nhập giữa ngời giàu và ngời nghèo. Tuy nhiên
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trên thực tế nó vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế. Khoảng
cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng mở rộng hơn. Ngời ta đặt ra câu hỏi
là liệu chính sách thuế TNCN có thực sự đem lại sự phân phối công bằng hơn
cho xã hội hay là nó không có tác dụng gì cả hay nếu có thì là không đáng
kể. Và một vấn đề nữa cũng đợc đem ra tranh cãi giữa các nhà kinh tế về tính
công bằng của chính sách thuế. Ngời ta đặt câu hỏi là liệu hiệu quả công
bằng mà chính sách thuế đem lại có xung đột với hiệu quả kinh tế hay không.
Chúng ta đã biết rằng bất cứ một hoạt động nào cũng chứa đựng trong nó hai
tác dụng; tác dụng hiệu quả kinh tế và tác dụng về hiệu quả công bằng. Hiệu
quả kinh tế là việc sử dụng tối u nhất các nguồn lực của xã hội mà từ đó có
thể tạo ra tổng lợi ích cho xã hội là lớn nhất, còn hiệu quả công bằng quan
tâm đến việc phân phối tổng lợi ích xã hội đã thu đợc cho các thành viên
trong xã hội. Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả công bằng thờng xảy ra
chắc sẽ cũng có một mức thu nhập tơng tự. Vậy cách đánh thuế nh thế nào là
công bằng? Liệu chính sách thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến đã là công
bằng với những ngời có thu nhập cao hay cha? Và biểu thuế lũy tiến với các
bậc thuế nh vậy đã là công bằng hay cha? Các chính phủ đều chấp nhận và
coi một biểu thuế lũy tiến là công bằng hơn cho tất cả, tất nhiên nó cũng phải
hi sinh quyền lợi của một số ít để đảm bảo quyền lợi số đông. Việc điều
chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chính phủ điều chỉnh mức
công bằng lệch về phía nào, ngời có thu nhập cao hay ngời có thu nhập thấp.
Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ là mang tính tơng đối,
nó công bằng cho một bộ phận dân c nhng nó cũng là không công bằng cho
một bộ phận dân c khác. Chính sách thuế TNCN đợc xây dựng nhằm mục
đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hội trong điều kiện có thể, tất
nhiên là nó cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế đợc các Chính phủ ở các nớc phát
triển sử dụng rộng rãi trong việc điều hành chính sách tài khoá và các
chính sách kinh tế khác. Do thuế TNCN chiếm một phần lớn nguồn thu ngân
sách Nhà nớc, đồng thời nó ảnh hởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng và
tiết kiệm của dân c nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong chính sách tài
khóa của chính phủ các nớc. Chính sách tài khóa của chính phủ là chính sách
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sử dụng chi tiêu chính phủ và thuế là hai công cụ cơ bản để điều chỉnh tổng
cầu của nền kinh tế, khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi
tiêu hoặc giảm thuế để từ đó kích cầu và đa nền kinh tế tăng trởng trở lại; còn
khi nền kinh tế đang ở thời kì phát triển quá nóng so với mức bình thờng thì
chính phủ lại giảm chi tiêu của mình hoặc tăng thuế để làm giảm tổng cầu.
Chính phủ có thể điều chỉnh các loại thuế khác nhau căn cứ theo diễn biến
chu kì kinh doanh, nhng loại thuế đợc điều chỉnh chủ yếu vẫn là thuế thu
nhập, có thể là thuế thu nhập công ti hoặc thuế thu nhập cá nhân. Mức sản l-
ợng của nền kinh tế tơng ứng với tổng mức thu nhập của chính nó, do đó để
các nớc phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và hầu hết mọi ngời
dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm về thuế của
họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nớc của
mình. Họ cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà n-
ớc. Tất nhiên cũng có nhiều trờng hợp trốn thuế nhng đây chỉ là những trờng
hợp cá biệt. Còn ở những nớc đang phát triển thì sao? Khái niệm nộp thuế
cho Nhà nớc còn là điều hết sức mới lạ đối với rất nhiều ngời. Họ không biết
mình phải nộp thuế. Hàng ngày chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhng do là thuế
gián thu nên chúng ta không biết. Khi phải tính và nộp thuế trực thu thì nhiều
ngời không hề thấy thoải mái chút nào. Chính vì không phải tự tính thuế và
nộp thuế cho mình nên ý thức thuế của ngời dân ở những nớc đang phát triển
là rất thấp. Minh chứng đơn giản là việc dân c đi qua cầu phải nộp phí, lệ phí;
có phải ai cũng nộp không, nếu trốn nộp đợc thì họ cũng sẽ sẵn sàng làm
ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ. Nhìn những nớc phát triển, dù
không có ngời thu tiền phí và lệ phí thì ngời đi qua những nơi mà phải nộp
phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ đồng xu vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua. Cũng
chính vì sự nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nớc của ngời dân
những nớc đang phát triển thấp hơn ngời dân những nớc phát triển cho nên ý
thức về quyền con ngời của họ cũng thấp hơn. Những ngời càng có ý thức về
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc càng cao thì họ càng có ý thức về quyền
của mình đối với Nhà nớc cao hơn, họ đòi hỏi Nhà nớc cũng phải thực hiện
lại những nghĩa vụ đối với họ. Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển
của thuế thu nhập cá nhân cũng là một bớc đánh dấu sự phát triển về nhận
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thức và văn hóa của con ngời. Đi kèm với sự phát triển về kinh tế bao giờ
cũng là sự phát triển về con ngời.
1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Nội dung của quản lý thuế thu nhập cá nhân
Quản lý thuế thu nhập cá nhân hết sức phức tạp, nó khó khăn hơn rất
Qui định trong văn bản thuế TNCN cũng cần phải đảm bảo tính
công bằng đối với cả ngời nộp thuế và cả xã hội. Nó đóng vai
trò là phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự phân hóa
giàu nghèo trong xã hội nhng nó cũng đồng thời phải đảm bảo
cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tợng nộp thuế.
Bởi vì mức thuế phải nộp có ảnh hởng không nhỏ đối với động
cơ và sự phấn đấu làm việc của ngời lao động. Tất nhiên, xây
dựng một sắc thuế TNCN hoàn chỉnh mà có thể thỏa mãn đầy
đủ các nguyên tắc trên là một điều hết sức khó khăn. Chính vì
vậy, mỗi quốc gia khi xây dựng Luật thuế TNCN cho nớc mình
thì phải căn cứ vào tình hình cụ thể, căn cứ vào hiệu quả và chi
phí kinh tế để quyết định xem cần chú trọng vào vấn đề nào
hơn.
(ii) Đối với công tác quản lý thu thuế thì trớc hết chúng ta cần phải
xây dựng Bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân. Một đội ngũ
cán bộ thuế chuyên trách đợc đào tạo chuyên sâu trong công tác
quản lý thu thuế TNCN là điều cần thiết nếu nh chúng ta muốn
thực hiện thực hiện tốt công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Đội ngũ này cần phải tổ chức lại một cách thống nhất, đồng bộ
và có khoa học. Nếu làm đợc điều này thì chúng ta sẽ vừa tiết
kiệm đợc chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn
đảm bảo thực hiện tốt công tác thu thuế.
(iii) Công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân đặc biệt quan trọng
ở khâu quản lý thu nhập của các đối tợng nộp thuế. Nếu quản lý
tốt đợc thu nhập của ngời lao động thì công tác quản lý thuế thu
nhập cá nhân chắc chắn cũng sẽ đợc thực hiện tốt. Vậy thì cần
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phải làm gì trong công tác quản lý thu nhập của đối tợng nộp
thuế? Rõ ràng chúng ta cha biết chính xác ai là những đối tợng
nộp cho cơ quan thuế. Cách thứ hai là đối tợng nộp
thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức thuế
mình phải nộp. Sau đó, các đối tợng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai
cho cơ quan thuế và tiến hành nộp khoản thuế cho cơ quan thuế
hay cơ quan có chức năng thu thuế. Cơ quan thuế sẽ có nhiệm
vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tợng nộp thuế phải
nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết. Đồng
thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác
thu nộp thuế, cả cho đối tợng nộp thuế và cơ quan thuế cũng nh
cơ quan uỷ nhiệm thu.
(v) Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân không chỉ dừng lại ở
việc thu thuế đầy đủ đúng nh qui định, nó còn cần phải phát
hiện ra những bất cập, thiếu sót trong qui định về nội dung luật
thuế cũng nh những qui định trong công tác quản lý kê khai nộp
thuế. Trong quá trình thực hiện quản lý thuế, cơ quan sẽ dễ dàng
tìm ra những sai sót trong quá trình lập chính sách, đồng thời
cũng sẽ dễ tìm ra những cách thức phơng pháp quản lý thuế tốt
nhất, thuận tiện nhất, đơn giản nhất và tất nhiên đảm bảo đợc
yêu cầu thu đủ và kịp thời. Qua đó cơ quan thuế có thể kiến nghị
lên cấp trên xem xét để từ đó có thể hoàn thiện tốt hơn Luật thuế
TNCN và công tác tổ chức quản lý thuế thu nhập cá nhân.
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cờng quản lý thuế TNCN
Nh chúng ta đã đề cập trong phần vai trò của thuế TNCN, ta có thể
thấy rằng sắc thuế có một tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống thuế của
mọi quốc gia.Nó đợc đánh giá cao trong vai trò tạo nguồn thu trong ngân
sách và vai trò điều tiết thu nhập của dân c, đồng thời nó cũng đợc xem là
công cụ thuế đắc lực trong việc thực hiện chính sách tài khóa của chính phủ.
Chính vì tầm quan trọng của sắc thuế này nên chúng ta cần thiết phải tổ chức
tốt công tác quản lý thuế TNCN. Quản lý tốt là quản lý sao cho đạt đợc các
18
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hiện nghiêm túc của cơ quan thu thuế cấp cơ sở cũng nh của ngời nộp thuế.
Đồng thời Bộ máy hành thu của cơ quan thuế cũng cần phải tăng cờng sự gắn
kết với các cơ quan nơi các đối tợng nộp thuế làm việc và có thu nhập. Mối
dây liên kết càng chặt chẽ sẽ càng làm giảm đi những khai báo sai của đối t-
ợng chịu thuế đồng thời cơ quan thuế cũng sẽ dễ dàng phát hiện những sai
phạm hơn.
1.2.3.3 Sự phát triển của hệ thống ngân hàng và ứng dụng các tiến bộ
khoa học về tin học và mạng
Muốn có một hệ thống thu thuế phát triển thì sự phát triển của hệ thống ngân
hàng là điều kiện không thể thiếu đợc. Việc sử dụng tài khoản rộng rãi trong
dân c, giảm bớt việc nắm giữ tiền mặt sẽ giúp cho cơ quan thuế giảm bớt
khối lợng những công việc không cần thiết đồng thời cũng giảm bớt các hiện
tợng tiêu cực do việc kiểm tra trên tài khoản sẽ đơn giản và rõ ràng hơn nhiều
so với kiểm tra tiền mặt. Một hệ thống thanh toán điện tử hiện đại sẽ giúp
giảm bớt các chi phí về đi lại, sổ sách giấy tờ... Sự phát triển nh vũ bão của
khoa học công nghệ thông tin đã đem lại những ứng dụng vô cùng quí giá và
công tác thu thuế cũng sẽ hiệu quả hơn rất nhiều nếu biết sử dụng những
thành tựu này.
1.2.3.4 Cơ quan luật pháp
Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, luật pháp thực hiện đợc nghiêm
minh thì sẽ đảm bảo việc vi phạm luật sẽ giảm đi. Các đối tợng nộp thuế
cũng nh cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn, bởi họ biết rằng
khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện.
1.2.3.5 Tình hình kinh tế và mức sống ngời dân
Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân phụ thuộc không
nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân c. Cùng một đơn vị thu
thuế trên một khu vực, nếu số đối tợng nộp thuế thu nhập nhiều thì sẽ giảm
bớt chi phí trên một đồng thuế thu đợc, ngợc lại nếu có ít đối tợng nộp thuế
0-1880 10
1880-29400 22
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
29400- 40
Nguồn: www.irs.org.uk
Mức chớc giảm cá nhân là 4535 Ê, tức là 4535 Ê thu nhập đầu tiên sẽ
không bị đánh thuế, đơn vị thu nhập thứ 4536 trở đi mới bắt đầu bị tính thuế.
Ngoài ra, còn có các mức chớc giảm gia cảnh khác nữa, ví dụ đối với ngời
già thì mức chớc giảm là 5990 Ê ( 65-74 tuổi) và 6260 Ê ( 74 tuổi trở lên).
(ii) Về tổ chức quản lý thu thuế
Nớc Anh áp dụng phơng pháp khấu trừ tại nguồn để tiến hành thu thuế
thu nhập cá nhân ( PAYE- Pay As You Earn ). Phơng pháp này đã đợc sử
dụng từ năm 1944. Thu nhập của ngời lao động sẽ đợc khấu trừ đi khoản thuế
mà họ phải đóng, khi đó khoản thu nhập mà ngời lao động nhận đợc là khoản
thu nhập sau thuế. Cơ quan chi trả thu nhập cho ngời lao động sẽ khấu trừ và
nộp lại thuế cho cơ quan thuế. Tuy nhiên hiện nay cách thức này đang gặp
một số vấn đề bất cập do những biến đổi về xã hội. Trớc đây, ngời lao động
thờng làm việc gắn với chủ, nhng bây giờ thì việc thay đổi việc làm, có nhiều
nghề một lúc, tự làm hay là làm công việc nửa ngày đã dẫn đến việc thu thuế
bằng cách khấu trừ tại nguồn tỏ ra không thực sự hiệu quả.
1.3.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nớc Mỹ
(i) Về nội dung Luật thuế
Thu nhập tính thuế
Mỹ đánh thuế thu nhập cá nhân ngời trong nớc và ngời nớc ngoài trên
cơ sở thu nhập toàn thế giới. Đối với ngời nớc ngoài không là đối tợng c trú
thì chỉ nộp thuế trên phần thu nhập phát sinh có nguồn gốc từ Mỹ. Các khoản
thu nhập do làm việc trên đất Mỹ đều phải chịu thuế thu nhập; các khoản thu
nhập do chuyển nhợng tài sản và thu nhập đầu t; các khoản thu nhập từ tiền
lãi, cổ tức, tiền cho thuê và tiền bản quyền có nguồn gốc từ Mỹ... Đồng thời,
Thu nhập chịu thuế( $/năm) Thuế suất(%)
0-36250 15
36250-93650 27.5
93650-151650 30.5
151650-297350 35.5
297350- 39.1
Nguồn: Đề tài nghiên cứu thuế thu nhập cá nhân của TPHCM
Nớc Mỹ cũng áp dụng việc chớc trừ gia cảnh. Ví dụ, hai vợ chồng cùng khai
thì đợc khấu trừ $7200, $4300 cho ngời độc thân, $6350 cho chủ gia đình và
$3600 cho hai vợ chồng khai riêng. Ngoài ra, còn có một số qui định cụ thể
hơn về các đối tợng đợc chớc trừ gia cảnh.
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
(ii) Về tổ chức quản lý thu thuế
Nớc Mỹ áp dụng khấu trừ tại nguồn đối với thu nhập từ tiền lơng, tiền công.
Đối với các khoản thu nhập khác (thu nhập kinh doanh cá thể, lãi tiết kiệm
hay cho vay, cổ tức) không thuộc diện khấu trừ tại nguồn thì phải đợc kê khai
hàng quí trên cơ sở tạm khai, tạm nộp vào các ngày 15/4, 15/6, 15/9, 15/12 là
hạn chót.
1.3.3 Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan.
(i) Về nội dung Luật thuế
Thu nhập tính thuế
Thái Lan đánh thuế thu nhập cá nhân ngời trong nớc và ngời nớc ngoài
đối với thu nhập phát sinh từ tiền lơng, tiền công hoặc thu nhập do hoạt động
kinh doanh thực hiện trên đất Thái Lan, bất kể các khoản thu nhập này nhận
đợc bên trong hay bên ngoài lãnh thổ Thái Lan. Thu nhập chịu thuế ở Thái
Lan bao gồm các khoản thu nhập do cung cấp dịch vụ trên đất Thái Lan, tiền
lơng, tiền công, tiền hu bổng, tiền cho thuê nhà, tiền chi trả hộ;các khoản thu
nhập từ chuyển nhợng tài sản và thu nhập đầu t (có một số ngoại lệ nh thu
nhập do chuyển nhợng cổ phần của một công ty có niêm yết trên thị trờng
Các cá nhân thờng trú tại Singapore thuộc đối tợng chịu thuế có nghĩa
vụ nộp thuế thu nhập đối với các khoản: thu nhập phát sinh tại Singapore,
hoặc xuất phát từ Singapore; thu nhập bên ngoài Singapore đợc nhận tại
Singapore. Đối với những ngời không thờng trú đợc thuê mớn tại Singapore
thì thu nhập có từ việc làm trong thời gian không quá 60 ngày trong 1 năm
thì đợc miễn thu thuế, không áp dụng với các đối tợng phục vụ biểu diễn
chuyên nghiệp và các giám đốc không thờng trú của các công ty thờng trú tại
Singapore, còn làm việc trên 60 ngày và dới 183 ngày thì áp dụng mức thuế
suất thống nhất 15% trên tổng số thù lao, nếu mức thuế phải trả không thấp
hơn mức mà ngời thờng trú phải chi trả trong điều kiện tơng tự.
Bảng 5- Biểu thuế suất thuế thu nhập cá nhân ở Singapore
25