1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ
DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM
TS. Đặng Đức Đạm
Phó trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ
I. DỊCH VỤ CÔNG - MỘT KHÁI NIỆM MỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ CÒN
CHƯA ĐƯỢC HIỂU THỐNG NHẤT
Về lý thuyết, dịch vụ công là những dịch vụ có đặc tính không loại trừ (non-
excludable) và không cạnh tranh (non-rival) trong tiêu dùng. Không loại trừ có nghĩa là
tất cả mọi người đều có quyền sử dụng, tiêu dùng dịch vụ này, không loại trừ bất cứ ai,
bất kể họ có trả tiền cho dịch vụ đó hay không. Không cạnh tranh có nghĩa là việc sử
dụng, tiêu dùng của người này không làm giảm đi hoặc ảnh hưởng đến việc sử dụng, tiêu
dùng của những người khác; hay nói cách khác là dịch vụ đó khi được một người sử
dụng hay nhiều người sử dụng cũng thế thôi. Trong trường hợp này, chi phí cận biên cho
thêm một người sử dụng là bằng không; do đó không việc gì phải ngăn cản bất cứ ai tiêu
dùng, sử dụng nó, và cũng chẳng phải phân chia, phân phối để làm gì.
Theo cách quan niệm này, những dịch vụ có cả hai đặc tính trên là dịch vụ công
thuần khiết (pure public services), hay
có thể gọi tắt là dịch vụ thuần công. Quốc phòng,
đèn biển hoặc phòng chống dịch bệnh là những ví dụ điển hình cho loại dịch vụ thuần
công này. Đối với dịch vụ thuần công, tất cả mọi người đều được hưởng lợi, đều được
tiêu dùng, sử dụng, bất kể họ có trả tiền hay không; và cũng chẳng có ảnh hưởng gì nếu
có thêm một hoặc nhiều người cùng sử dụng. Rõ ràng xã hội cần đến những dịch vụ
thuần công như vậy. Nhưng chỉ có nhà nước mới cung ứng được loại dịch vụ này; vì đối
với khu vực tư nhân thì việc cung ứng các dịch vụ đó vừa không thực thi vừa không kinh
tế.
Bên cạnh các dịch vụ thuần công còn có những dịch vụ công không thuần khiết
Khu vực
Hành chính
công quyền Public
Services -
Dịch vụ
công
Hành chính
Dịch vụ
hành chính
công
Dịch vụ
công
nghĩa rộng
(thông dụng
quốc tế)
thoả mãn ở mức độ nhất định cả hai tiêu chí của dịch vụ công là không cạnh tranh và
không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: cấp phép, đăng ký, đăng kiểm, công chứng ). Hai
là, nhóm dịch vụ công cộng bao gồm những dịch vụ công không thuần tuý, phần lớn chỉ
thoả mãn tiêu chí không cạnh tranh trong tiêu dùng (ví dụ: giáo dục, đào tạo, y tế, văn
hoá ). Ba là, nhóm dịch vụ công ích bao gồm những dịch vụ công không thuần tuý, phần
lớn chỉ thoả mãn tiêu chí không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: vệ sinh môi trường, cấp
thoát nước, giao thông công cộng ).
Xem xét từ giác độ đối tượng phục vụ của dịch vụ công, sự phân biệt của ba nhóm
này còn thể hiện ở chỗ: Thuộc nhóm dịch vụ hành chính công phần lớn là dịch vụ hành
chính; thuộc nhóm dịch vụ công cộng phần lớn là dịch vụ xã hội; còn thuộc nhóm dịch
vụ công ích thì phần lớn là dịch vụ dân sinh, dịch vụ kinh tế.
Xét theo giác độ vai trò nhà nước và vai trò thị trường, có thể thấy nhóm dịch vụ
công cộng phân biệt với các nhóm dịch vụ công khác ở tính thị trường, theo hàm ý ít thị
trường hơn so với nhóm dịch vụ hành chính công, nhưng lại nhiều thị trường hơn so với
nhóm dịch vụ công ích.
II. THỰC TRẠNG, VẤN ĐỀ VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI QUẢN LÝ DỊCH VỤ
CÔNG
1. Khu vực dịch vụ công rất rộng lớn và đa dạng. Bảng sau đây giúp ta hình dung
sơ bộ về quy mô và phạm vi của khu vực sự nghiệp hiện nay đang được đặt chung với
khu vực hành chính:
Biên chế hành chính-sự nghiệp năm 2003
Tổng biên chế hành chính-sự nghiệp: 1.541.931 người
Trong đó:
- Hành chính: 286.636 người
- Sự nghiệp: 1.255.295 người
Trong đó:
. Giáo dục-đào tạo: 988.926 người
. Y-tế: 173.326 người
. Nghiên cứu khoa học-công nghệ: 16.460 người
cách thức giải quyết vấn đề cho có hiệu quả hơn.
Một số giải pháp trong giáo dục và đào tạo đã được áp dụng: 5
- Huy động vốn của xã hội để phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ công
cộng: Phát triển khu vực ngoài công lập, như trường dân lập, trường tư thục (Tỷ lệ học
sinh ngoài công lập năm học 2003-04 ở tiểu học là 0,4%, THCS 2,1%, THPT 31,8% và
ĐHCĐ 12,1%).
Vấn đề nảy sinh: Chất lượng giảng dạy ở các trường ngoài công lập đang là một
vấn đề (do hạn chế về giáo viên, về cơ sở vật chất – kỹ thuật ). Xu hướng chạy theo lợi
nhuận đơn thuần của các trường ngoài công lập (được Nhà nước ưu đãi về đất đai, về
thuế ; nhưng lợi nhuận thu được lại chia cho các thành viên góp vốn).
- Bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ công cộng: Thu học phí
cao hơn của người giàu để miễn giảm học phí cũng như cấp học bổng cho người nghèo
(Học phí hiện nay bù đắp khoảng 25% chi phí giáo dục - đào tạo nói chung, trong đó đại
học là hơn 40%).
Vấn đề nảy sinh: Số gia đình giàu ở Việt Nam còn rất ít; ngoài số gia đình nghèo
chiếm khoảng 22% dân số, phần đông gia đình ở Việt Nam ở mức cận nghèo, tức là chưa
đến mức khá giả để có thể tự trang trải được mức học phí cao đủ bù đắp chi phí.
- Xác lập cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch
vụ công: Tính đủ chi phí dạy học vào giá học phí; các trường tiến hành hạch toàn thu-chi;
tiến tới áp dụng cơ chế cạnh tranh giữa các trường học.
Vấn đề nảy sinh: Quyền tự chủ của các trường học được xác định như thế nào để
vừa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trường, vừa hạn chế được khuynh
hướng chạy theo lợi nhuận đơn thuần, thu phí một cách tuỳ tiện ? Một số nội dung cần
đước xác định rõ, ví dụ quy chế hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận (non-profit)
hoặc công ty không vì lợi nhuận (not-for-profit); chế độ hạch toán của các trường học
- Chính sách đối với giáo viên: Chuyển giáo viên từ chế độ biên chế hiện nay
sang chế độ hợp đồng có thời hạn hoặc không thời hạn; tiền lương của giáo viên được
trong công nghiệp và "khoán sản phẩm" trong nông nghiệp), đến nay về cơ bản đã được
thực hiện và đang tiếp tục hoàn thiện. Đối với khu vực sự nghiệp thì việc tách bạch này
bây giờ mới bắt đầu; chủ tương đã được khẳng định rõ trong các văn kiện của Đảng;
nhưng việc thể chế hoá các chủ trương đó, và nhất là việc đưa các chủ trương đó vào
thực tế thì còn hạn chế và làm chưa được bao nhiêu.
III. ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG
1. Cơ cấu lại chi tiêu ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực dịch vụ công theo hướng:
- Tập trung đầu tư cho tuyến cơ sở và những vùng khó khăn, vùng núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số;
- Dành lượng kinh phí thích đáng trợ giúp người thuộc diện chính sách và người
nghèo thụ hưởng dịch vụ công;
- Chuyển cơ chế cấp kinh phí cho đơn vị cung ứng sang cấp kinh phí trực tiếp cho
người thụ hưởng dịch vụ;
- Chuyển cơ chế cấp kinh phí theo đầu vào sang cấp kinh phí theo đầu ra tuỳ thuộc
số lượng và chất lượng dịch vụ cung ứng.
2. Về chế độ tài chính cho giáo dục và đào tạo:
Nhà nước đầu tư nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; đồng thời đổi mới
phương thức đầu tư kinh phí từ NSNN. Về kinh phí XDCB, cần dành vốn nhiều hơn đầu
1
Bốn yêu cầu tách bạch ở Trung quốc là:
- Tách bạch giữa quản lý hành chính và quản lý doanh nghiệp (chính-xí phân khai),
- Tách bạch giữa hành chính và sự nghiệp (chính-sự phân khai),
- Tách bạch giữa quản lý hành chính và quản lý vốn (chính-tư phân khai), và
- Tách bạch giữa quản lý hành chính và quản lý xã hội (chính-xã phân khai). 7
tư cho cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ phổ cập giáo dục (tiểu học và trung học cơ sở).
Về kinh phí thường xuyên, Nhà nước dành một lượng thích đáng kinh phí NSNN để trợ
chất lượng khám chữa bệnh theo BHYT cho mọi người ở tuyến cơ bản ban đầu. Về kinh
phí thường xuyên, cần dành một lượng kinh phí đáng kể để mua BHYT cho người nghèo
và trợ giúp người cận nghèo mua BHYT.
Đồng thời với việc củng cố và nâng cao chất lượng BHYT, mở rộng và phát triển
các loại hình BHYT (bắt buộc, tự nguyện, cộng đồng…), cần triển khai mạnh việc trợ
giúp người nghèo và cận nghèo tham gia BHYT thông qua các Quỹ trợ giúp người nghèo
khám chữa bệnh được tổ chức ở từng địa phương (cấp xã) bằng nguồn kinh phí của Nhà
nước và huy động thêm từ các nguồn khác.
Theo số liệu của Bộ Y tế, số người có BHYT và thẻ khám chữa bệnh ở Việt Nam
hiện nay chiếm khoảng 60% dân số. Triển khai rộng rãi các Quỹ trợ giúp người nghèo 8
khám chữa bệnh là giải pháp tích cực để mở rộng diện tham gia BHYT và đạt mục tiêu
BHYT toàn dân vào sau năm 2010.
Cùng với việc trợ giúp người nghèo và cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế, sẽ sửa
đổi chế độ viện phí khám, chữa bệnh ở bệnh viện công lập, trước hết là các bệnh viện ở
tuyến trên
(tuyến tỉnh và trung ương), xác định đầy đủ chi phí dịch vụ khám, chữa bệnh,
tạo điều kiện cho các bệnh viện tiến hành hạch toán và thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm, tự trang trải chi phí, trước hết là chi phí thường xuyên, trong đó có bộ phận
lớn là tiền lương, tiền công của thày thuốc, nhân viên (tương tự như đối với các trường
công lập ngoài diện phổ cập giáo dục).
4. Đổi mới căn bản chế độ học phí, viện phí:
Có thể nhận định:
- Không thể điều chỉnh học phí, viện phí theo các đề án đã trình Chính phủ; nhưng
cũng không thể để kéo dài tình trạng chế độ học phí, viện phí lạc hậu và bất hợp lý hiện
hành.
- Không thể đổi mới chế độ học phí, viện phí, nếu không đồng thời có cơ chế hữu
hiệu trợ giúp người nghèo và cận nghèo học tập và khám, chữa bệnh.
công bằng xã hội, nhất là thực hiện các giải pháp trợ giúp thiết thực giúp cho những
người thuộc diện chính sách và người nghèo tiếp cận được các dịch vụ giáo dục - đào tạo
và y tế.
- Tạo điều kiện thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường học và
bệnh viện.
b) Yêu cầu đặt ra đối với học phí, viện phí:
- Học phí, viện phí trong giai đoạn từ 2006 đến 2010 cần phải được xác định trên
cơ sở quán triệt chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế; bảo đảm
vừa tăng kinh phí từ ngân sách nhà nước, vừa tăng cường huy động nguồn lực ngoài
ngân sách nhà nước cho phát triển y tế, giáo dục, đồng thời đổi mới cơ chế tài chính của
các cơ sở giáo dục, y tế, giao quyền tự chủ và thực hiện hạch toán bù đắp chi phí của các
cơ sở này.
- Học phí, viện phí cần phải được xác định trên cơ sở hạch toán đầy đủ toàn bộ chi
phí; bước đầu, cần thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí thường xuyên. Trên cơ sở hạch
toán đầy đủ như vậy, sẽ làm rõ phần người học, người bệnh phải trả và phần Nhà nước
dùng tiền thuế để trợ giúp cho việc học hành và chữa bệnh của người dân. Phải gắn kết 2
phần: phần người học, người bệnh trả và phần ngân sách nhà nước chi trong một tổng thể
chi phí. Nếu một nơi nào đó, học phí viện phí được qui định ở mức thấp thì cũng có
nghĩa là ngân sách nhà nước phải cấp nhiều hơn, và ngược lại. Có như thế mới bảo đảm
chất lượng dạy học và khám, chữa bệnh không chênh lệch lớn giữa nơi khó khăn với nơi
có điều kiện thuận lợi hơn, bảo đảm được công bằng xã hội.
- Học phí, viện phí cần phải được xác định trên cơ sở ngân sách nhà nước sẽ tăng
chi cho y tế, giáo dục đến mức nào, và sẽ bố trí lại khoản chi này ra sao theo các yêu cầu
mới; không bao cấp tràn lan như hiện nay. Trong tổng số chi thường xuyên mà ngân sách
nhà nước dành cho giáo dục, y tế, cần bố trí phần trước tiên là chi cho một số mục tiêu
ưu tiên, chủ yếu là chi cho vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc…; một phần
nữa là để thực hiện chính sách cho các đối tượng thuộc diện ưu đãi; và phần còn lại là để
nhà nước bao cấp cho các đối tượng thuộc diện phải nộp học phí, viện phí.
d) Thực hiện những giải pháp đồng bộ để đổi mới chế độ học phí, viện phí
Phỏc ho nhng vic cn lm:
11 (2) Xác định giá
thành hợp lý của
dịch vụ giáo dục-đào
tạo và khám, chữa
b
ệ
nh
(1) Xác định nhóm
ngời cần đợc trợ
giúp: ngời thuộc
diện CS, ngời
n
g
học phí, viện phí
ngời học, ngời
bệnh phải trả (10) Chế
độ học phí,
viện phí
mới
(7) Cơ chế
và Quỹ tín
dụng đào
tạo cho
ngời
nghèo
(8) Cơ chế
và Quỹ trợ
g
iú
p
BHYT
cho ngời
nghèo
Trợ giúp về học phí, viện phí và tín dụng đào tạo
Đối tượng chính
sách
Người nghèo Người cận nghèo
Học phí giáo dục
(PTTH)
Miễn phí 100% Miễn phí 100% Giảm phí 50%
Học phí đào tạo
(DN, THCN, CĐ, ĐH)
Miễn phí 100% Giảm phí 50% -
Tín dụng đào tạo
(DN, THCN, CĐ, ĐH)
Được vay 50% Được vay 100% Được vay 100%
Viện phí, BHYT
Miễn phí 100% Miễn phí 100% Giảm phí 50%
3. Về phương thức trợ giúp:
Thực hiện việc miễn, giảm học phí, viện phí thông qua các Quỹ Trợ giúp học phí,
Quỹ Trợ giúp viện phí và BHYT ở các địa phương (chứ không do trường học, bệnh viện
thực hiện).
Miễn, giảm học phí bằng cách cấp ngân phiếu giáo dục (chỉ có giá trị nộp học phí,
không có giá trị thanh toán) để học sinh, sinh viên nộp cho trường học.
Tín dụng đào tạo có thể vẫn do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện nhưng
chuyển về cho các địa phương trực tiếp quản lý.
Miễn, giảm viện phí chủ yếu bằng cách Quỹ Trợ giúp viện phí thanh toán toàn bộ
hoặc một phần phí BHYT cho người thụ hưởng.
4.
Trợ giúp thông qua chương trình mục tiêu quốc gia:
Phương án tốt nhất là thiết kế bổ sung vào nội dung Chương trình mục tiêu quốc
học 97 đơn vị; khối văn hoá thông tin 75 đơn vị, các khối khác 119 đơn vị), trong đó: có
21/43 Bộ, cơ quan đã triển khai giao quyền tự chủ đạt 100% đơn vị sự nghiệp có thu trực
thuộc; 10/43 Bộ, cơ quan đạt trên 50%; 6/43 bộ, cơ quan đạt dưới 50%; còn 6 Bộ, cơ
quan chưa triển khai giao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu là Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an, Toà án Nhân dân tối cao, Ngân hàng nhà nước, Kiểm
toán nhà nước, Ban Tôn giáo Chính phủ.
Các địa phương đã giao quyền tự chủ được 4.430 đơn vị, đạt trên 40% (gồm: khối
giáo dục, đào tạo 3.374 đơn vị, khối sự nghiệp khoa học 41 đơn vị, khối y tế 314 đơn vị,
khối văn hoá thông tin, thể dục thể thao 213 đơn vị và các đơn vị sự nghiệp khác 492 đơn
vị). Một số địa phương triển khai tốt như: Lạng Sơn, Thanh Hoá, Hải Phòng, Nam Định,
Ninh Bình, Bến Tre, TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh… Có 12 tỉnh, thành phố chưa có báo
cáo tình hình triển khai thực hiện là: Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu, Gia Lai, Hà Nam,
Long An, Nghệ An, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Bình Định, Tuyên Quang.
Nhìn lại 3 năm thực hiện Nghị dịnh 10, bên cạnh những tác động tích cực, thấy
nổi lên một số vấn đề tồn tại cần tiếp tục xử lý như: Thứ nhất, Nghị định 10 chỉ hạn chế
trong các đơn vị sự nghiệp "có thu", chứ chưa phải cho tất cả các tổ chức cung ứng dịch
vụ công. Thứ hai, Nghị định 10 chỉ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài 14
Thực tế đòi hỏi phải sửa đổi, thay thế Nghị định 10 theo hướng mở rộng phạm vi
áp dụng với nội dung toàn diện hơn, giải pháp khuyến khích đầy đủ hơn. Quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ công cần bao gồm những nội dung
chủ yếu như: (1) tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao,
(2) tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy và biên chế, nhân sự, và (3) tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về tài chính.
2. Xây dựng và khuyến khích áp dụng quy chế tổ chức không vì lợi nhuận cung ứng
dịch vụ công
Tổ chức không vì lợi nhuận (not-for-profit organization) là một tổ chức hoạt động
chủ yếu không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Gọi là tổ chức không vì lợi nhuận
đều chưa đáp ứng thỏa đáng. Những tổ chức này có vai trò đáng kể trong các hoạt động
kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản của nhiều nước trên thế giới,
nhất là ở các nước công nghiệp phát triển và những nước công nghiệp hóa mới.
Có thể hình dung tổ chức không vì lợi nhuận kết hợp được đặc tính tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp và đặc tính phục vụ lợi ích công cộng của chính phủ. Việc tổ
chức và quản lý được thực hiện thông qua các sáng kiến cá nhân mà không phải là quá
trình hành chính và quan liêu. Do đó, tổ chức không vì lợi nhuận vừa có thể phát huy đặc
điểm hiệu quả và đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu xã hội của các tổ chức tư nhân, vừa có
chức năng như một tổ chức của chính phủ trong việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ
công cộng cho nhân dân, thậm chí trong cả những hoạt động nhậy cảm, phức tạp mà khó
có cơ quan nhà nước nào thực hiện được, chẳng hạn như việc trợ giúp những nhóm dân
chúng dễ bị tổn thương. Những quy định miễn thuế, ưu đãi về tài chính là giải pháp hợp
lý nhằm khuyến khích các loại hình tổ chức này tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ
cho nhân dân. Hoạt động của các tổ chức không vì lợi nhuận thực tế đã làm giảm gánh
nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội; vì những
hoạt động xã hội đòi hỏi sự tận tụy và thường chỉ có kết quả khi chủ thể thực hiện với sự
tự nguyện và tấm lòng nhân ái.
3. Áp dụng chế độ hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận cho các tổ chức cung ứng
dịch vụ công:
Hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận là chế độ hạch toán áp dụng cho các tổ
chức không vì lợi nhuận cung ứng dịch vụ công, phân biệt với chế độ hạch toán kinh tế
áp dụng cho các công ty kinh doanh với mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Yêu cầu có tính
nguyên tắc là phải xác định đầy đủ chi phí đầu vào trong giá thành dịch vụ công đồng
thời chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả cho các dịch vụ đầu ra giữa Nhà nước, người sử
dụng dịch vụ và xã hội, cộng đồng. Như vậy xác định đầy đủ chi phí trong giá thành dịch
vụ không đồng nghĩa với xác định đầy đủ phí dịch vụ công; vì không thể đòi hỏi phí dịch
vụ do người sử dụng nộp có thể trang trải toàn bộ chi phí cần thiết để sản xuất ra dịch vụ
công đó, mà Nhà nước phải có trách nhiệm chi trả một phần, đồng thời huy động ngày
càng nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng, xã hội cho phát triển dịch vụ công.
ngân sách
nhà nước
Đóng góp
của xã hội,
cộng đồng
Phí dịch vụ
(do người sử
dụng dịch vụ
t
r
ả
)
Chi phí
thường
xuyên khác
Tiền lương,
tiền công
GIÁ THÀNH
DỊCH VỤ
Yêu cầu hạch toán là xuất phát từ bản chất của các dịch vụ công cộng (khác với
hành chính); cho nên, về nguyên tắc, tất cả các đơn vị công lập cung ứng dịch vụ công
cộng đều phải hạch toán, bất kể nguồn kinh phí được hình thành như thế nào, kể cả
những đơn vị do ngân sách cấp 100% kinh phí, chứ không phải chỉ những đơn vị có thu
ngoài ngân sách mới tiến hành hạch toán.
Mọi khoản thu do cung ứng dịch vụ công cộng mang lại, không phân biệt là thu từ
đâu, đều là nguồn thu của đơn vị sự nghiệp; các đơn vị được chủ động bố trí kinh phí để
thực hiện nhiệm vụ, chủ động sử dụng có hiệu quả các nguồn thu tài chính, bảo toàn và