Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và
đang từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nền kinh tế Việt Nam
đang phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhịp
độ tăng trưởng nhanh: đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, uy tính của nước
ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, ngành thương mại đã trải một
quá trình đổi mới toàn diện, kể cả đổi mới nhận thức và phương thức hoạt động.
Với quá trình đổi mới chính sách, cơ chế thương mại đã tạo ra những thay đổi căn
bản trong hoạt động thương mại, tạo ra “hiệu ứng” tích cực, góp phần quan trọng
vào những thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành thương mại nói riêng
đã vận hành khá lâu theo nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nên quản lý Nhà nước
về thương mại cũng không tránh khỏi những bất cập, lạc hậu và yếu kém, vẫn
chưa thoát khỏi cơ chế và thói quen tư duy cũ. Điều đó được thể hiện rõ nét thông
qua hiệu quả của ngành thương mại: chưa đáp ứng tốt nhất cho yêu cầu phát triển
với tốc độ cao và bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay.
Nhận thức được vai trò của Thương mại ngày càng rõ nét sau khi Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Thương mại là ngành tiên phong, do
đó cần đổi mới nhanh chóng một mặt đáp ứng đòi hỏi của tăng trưởng và phát
triển kinh tế, mặt khác là nền tảng tạo bước đệm cho sự hội nhập của các lĩnh vưc
khác; kế thừa và phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế
Chương III: Một số giải pháp đổi mới quản lý Nhà Nước đối với sự phát
triển thương mại.
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại.
1.1.1. Thương mại và dịch vụ.
Thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ hoạt động kinh doanh
trên thị trường; bao gồm quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích lợi
nhuận; thương mại chỉ diễn ra trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá.
Theo Các Mác, công thức của thương mại là: T-H-T’; T’=T+T.
Thông qua công thức, ta nhận thấy đặc điểm nổi bật của thương mại đó là
không tạo ra sản phẩm, tiền- hình thái độc lập của giá trị trao đổi là điểm xuất
phát, và tiền với giá trị gia tăng là điểm kết thúc.
Ở Việt Nam, tại điều 3 của Luật thương mại được quốc hội thông qua ngày
14/6/2005, quy định rằng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [36]. Ngày nay, Luật thương
mại quốc tế xem hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là
hoạt động thương mại. Vì vậy, nghành thương mại bao gồm ba lĩnh vực chính:
Thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư.
Như đã biết, nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch theo cơ cấu: Thương
mại, dịch vụ- công nghiệp- nông nghiệp.Chính điều đó làm cho thương mại luôn
đặt ở vị trí trọng tâm đối với các nước phát triển và là sự tất yếu của tăng trưởng
và hội nhập ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
Dịch vụ là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi và chưa thống nhất.Tuy nhiên,
theo sự hiểu biết logic thì dịch vụ được định nghĩa là hàng hoá vô hình còn sản
phẩm hàng hoá là hàng hoá hữu hình. Một cách khác, dịch vụ là sản phẩm mà tại
Quản lý Nhà Nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
Nhà Nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy
trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà Nước trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Về mặt pháp lý, chủ thể quản lý Nhà nước là Nhà
Nước với hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ công chức trong
cơ quan đó.
Thực chất của quản lý kinh tế nói chung là quản lý con người, hoạt động
kinh tế thông qua con người để thực hiện mọi nhiệm vụ đặt ra cho các hệ thống
kinh tế. Hơn nữa, bản chất của quản lý Nhà nước về kinh tế là phục vụ lợi ích của
giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền (Nhà Nước). Nhà nước XHCN với
chế độ công hữu và chính quyền nắm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà
Nước đó sẽ đem lại cuộc sống tươi đẹp cho mọi người bằng bất cứ cách quản lý
nào của mình. Điều đó còn phụ thuộc vào cách thức quản lý nền kinh tế như thế
nào. Nhà Nước quản lý bằng công cụ pháp luật, chi phối tất cả các đơn vị kinh tế
ràng buộc và tạo môi trường kinh doanh trên cơ sở pháp lý và trong mối quan hệ
lợi ích, hình thức quản lý chủ yếu của Nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật.
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với toàn bộ
nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân, được chủ
yếu thực hiện thông qua cơ quan hành pháp là Chính phủ. Trong quản lý, Nhà
nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể có để can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn
chế và khắc phục những khuyết tật của thị trường mà bản thân cơ chế tự điều tiết
của thị trường không khắc phục được, cũng như tạo nên sự ổn định kinh tế vĩ mô
và thúc đẩy công bằng xã hội. Thị trường không thể tự thân vận động có hiệu quả
mà nó đòi hỏi phải có khung pháp lý, quy chế và chính sách mà chỉ có Chính phủ
mới tạo ra được.Tuy nhiên, không phải Nhà nước hay thị trường có vai trò khống
chế mà là mỗi bên có vai trò, chức năng riêng. Hình thức hoạt động quản lý Nhà
nước về kinh tế bao gồm: Tạo môi trường và các điều kiện cho sản xuất kinh
doanh; Dẫn dắt và hỗ trợ sự phát triển; Đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển kinh
tế và phát triển xã hội; Quản lý các doanh nghiệp Nhà nước.
Đối tượng của quản lý Nhà nước về kinh tế là các quan hệ giữa một cơ
quan có quyền lực chính trị với những tập thể đại diện cho quyền sử dụng những
tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao phó (đất đai, biển, hầm mỏ, nhà máy…),
Nhà nước là người quản lý tài sản mang tính toàn dân và đem giao cho các doanh
nghiệp sử dụng. Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế tiến hành các hoạt động tổ
chức trong phạm vi toàn bộ bộ máy quản lý với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thiết lập các hệ thống quản lý các cấp và hệ thống các tổ chức kinh tế, điều hoà
bằng các biện pháp kinh tế - hành chính. Nhà nước phải thực hiện tốt công tác
kiểm tra kiểm soát đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở
đảm bảo cho các dơn vị kinh doanh thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được luật
pháp quy định.Vai trò của quản lý Nhà nước là hướng dẫn, trọng tài, kích thích,
phục vụ, kiểm tra…
Mục tiêu của quản lý kinh tế nhằm quản lý, phân phối và sử dụng một cách
có hiệu quả các nguồn lực sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng một cách ổn
định bền vững; Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và công bằng
xã hội; Phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế; Giữ cho môi trường
sinh thái trong sạch.
Trong quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng hệ thống các công
cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như: công cụ định hướng (kế
hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế…), công cụ kinh tế, tài chính tiền
tệ (chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư), công cụ pháp lý (hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản pháp quy..), công cụ tổ chức..
Quản lý Nhà nước về thương mại là sự quản lý của Nhà nước đối với các
hoạt động thương mại trong nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước, thông
qua các thể chế pháp lý phù hợp nhằm đảm bảo cho sự phát triển thương mại trong
nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý Nhà nước
về thương mại tập trung vào các nội dung chính sau: quản lý xuất nhập khẩu, phát