đề tài vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xhcn ở nước ta hiện nay - Pdf 11

§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong l ch s phát tri n n n kinh t c a các n c XHCN trên th gi iị ử ể ề ế ủ ướ ế ớ
nói chung v Vi t Nam nói riêng, chúng ta ch th y m t mô hình kinh tà ở ệ ỉ ấ ộ ế
thu n nh t ó l mô hình kinh t ch huy t p trung bao c p. Có th nói âyầ ấ đ à ế ỉ ậ ấ ể đ
l m t mô hình kinh t kém n ng ng v khó thích nghi v i s ph tà ộ ế ă độ à ớ ự ấ
tri n chung c a kinh t th gi i, chính vì v y m m t s các qu c gia vể ủ ế ế ớ ậ à ộ ố ố à
c n c ta khi áp d ng mô hình n y ã g p ph i nh ng khó kh n khôngả ướ ụ à đ ặ ả ữ ă
nh . T vi c nh n th c úng n nh ng u khuy t t t trong th c ti n t nỏ ừ ệ ậ ứ đ đắ ữ ư ế ậ ự ễ ồ
t i c a n n kinh t lúc b y gi nên i h i ng VI ã i n quy t nhạ ủ ề ế ấ ờ đạ ộ đả đ đ đế ế đị
mang tính cách m ng trong con ng cái cách n n kinh t . B t u t óạ đườ ề ế ắ đầ ừ đ
mô hình n n kinh t h ng hoá nhi u th nh ph n v n h nh theo c ch thề ế à ề à ầ ậ à ơ ế ị
tr ng có s qu n lý c a Nh n c theo nh h ng XHCN l n u tiênườ ự ả ủ à ướ đị ướ ầ đầ
c áp d ng v o Vi t Nam .đượ ụ à ệ
Cũng bắt đầu từ đó thì có không ít ý kiến tranh luận cho rằng có phải cơ
chế thị trường là sản phẩm của CNTB hay không và sự vận dụng của ta có
phải là sự vận dụng kinh nghiệm của CNTB hay không ? Nhiều ý kiến thì cho
rằng kinh tế thị trường và CNXH là như nước với lửa không thể dung nạp với
nhau, bởi kinh tế thị trường tồn tại trong nó rất nhiều những khuyết tật không
thể chấp nhận được. Như vậy, tư tưởng phát triển kinh tế hàng hoá thị trường
dưới chế độ XHCN ở nước ta là chưa thống nhất.
Việc vạch định ra ưu điểm và hạn chế của nền kinh tế hàng hoá-kinh tế
thị trường là điều cần thiết. Vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm
phân tích, và theo em thì dường như mọi người đã có những nhận định khá
toàn diện về những ưu, những khuyết của nền kinh tế thị trường. Nhưng vấn
đề chính lại là ở chỗ khi chung ta đã quyết tâm đi theo xây dựng nền kinh tế
thị trường rồi thì chúng ta phải làm như thế nào, phải dùng những công cụ nào
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
1
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
và ai là người đứng ra sử dụng những công cụ đó để hạn chế những khuyết

Nừu sản xuât để tự tiêu dùng thì không phải là nền KTHH,mà là nền kinh tế
tự nhiến tự cấp tự túc. Ngay cả khi sản xuất cho người khác tiêu dùng như
phân phối dưới dạng hiện vật ( hàng đổi hàng ) cũng không gọi là KTHH.
Vậy, KTHH hình thành dựa trên sự phát triển của phân công lao động
xã hội, của trao đổi giữa những người sản xuất với nhau. Đó là kiểu tổ chức
kinh tế xã hội, trong đó quan hệ trao đổi giữa người và người được thực hiện
thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá giá trị.
* KTTT là nền kinh tế vận động theo những quy luật của thị trường trong
đó quy luật giá trị giữ vai trò chi phối và được biểu hiện bằng quan hệ cung
cấp trên thị trường. Các vấn đề về tổ chức sản xuất hàng hoá được giải quyết
bằng sự cung ứng hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng trên thị trường. Các
quan hệ hàng hoá phát triển mở rộng, bao quát trên nhiều lĩnh vực có ý nghĩa
phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng. Các hoạt động sản xuất, dịch vụ
được quyết định từ thị trường về giá, sản lượng, chất lượng vì động cơ đạt tới
lợi nhuận tối đa.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
3
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Nền KTTT là giai đoạn phát triển cao của sản xuất hàn hoá. Nó nằm
trong tiến trình phát triển khách quan về kinh tế trong xã hội loài người.
* Những điều kiện bảo đảm cho nền KTTT hình thành và phát triển:
Thứ nhất : Phải có nền KTHH phát triển, đIều đó có nghĩa là phải có
sự phân công lao động xã hội phát triển, có các hình thức, các loại hình sở
hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Thứ hai : Phải có sự tự do trong trao đổi hàng hoá trên thị trường, tự
do lựa chọn bạn hàng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Trong một nền kinh tế có nhiều chủ thể cùng sản xuất một loại sản
phẩm; và ngược lại mỗi chủ thể sản xuất và tiêu dùng cũng cần nhiêu loại
hàng hoá khác nhau. Việc tự do lựa chọn, xây dựng các mối quan hệ bạn
hàng là điều kịên không thể thiếu được để các chủ thể kinh tế lựa chọn cho

biên giới quốc gia, việc tham gia phân công lao động quốc tế, gắn thị trường
trong nước với thị trường quốc tế là một yêu cầu khách quan. Không thể có
một nền KTTT nào phát triển được nếu hoạt động của nó bó hẹp trong khuôn
khổ một quốc gia nhất định. Do vậy việc tham gia phân công lao động quốc
tế, mở rộng quan hệ với bên ngoài, gắn thị trường trong nước với thị trường
nước ngoài là điều kiện quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và
nền KTTT mang mầu sắc Việt Nam nói chung.
2. Các giai đoạn phát triển của nền KTTT.
*Giai đoạn 1 : Những yêú tố cơ bản nhất của nền KTTT được tạo ra
với ưu thế của bàn tay vô hình của thị trường, cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa quan liêu đòi chế độ tự quản.v.v Nhưng ngay từ đầu đã có sự can thiệp
của bàn tay hữu hình của Nhà nước, đồng thời phải tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hoá.
*Giai đoạn 2 : Tạo lập một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh mà ở đó
vai trò của Nhà nước ngày càng tăng. Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô theo đó
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
5
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
được nâng lên bao hàm một sự biến đổi căn bản trong các hình thức tổ chức
thị trường về cơ cấu quản lý KTTT. Sự tác động qua lại và quy định lẫn nhau
đó, theo nguyên tác tự dovà được kết hợp chặt chễ theo khuôn khổ mục tiêu
của nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước.
*Giai đoạn 3: Những yếu tố mới của sự tiến bộ xã hội (khoa học công
nghệ, dân trí, quốc tế hoá) càng đòi hỏi ở nền KTTT sự phát triển cao, tính xã
hội của nền KTTT càng tăng ,vai trò cuả Nhà nước càng lớn và tương ứng
với nó là sự thay đổi phương thức quản lý thích hợp.
3. Những ưu, khuyết điểm của nền KTTT.
a/ Những ưu điểm của nền KTTT.
Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ-mục tiêu của sản
xuất. Do đó người ta tìm mọi cách rút ngắn chu kì sản xuất, thục hiện tái sản

một bộ phận dẫn đến phá sản, phân hoá giầu nghèo dẫn đến khủng hoảng
kinh tế, thất nghiệp và số đông người lao động lâm vào cảnh nghèo khó.
Thứ ba: Xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gắn liền với hiện
trạng nền kinh tế sa sút, gây rối loạn xã hội. Nhà kinh doanh thường tìm đủ
thủ đoạn, mánh khoé làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, không từ bỏ một thủ
đoạn nào nhằm thu được lợi nhuận tối đa.
Thứ tư: Vì mục tiêu lợi ích cá nhân, dẫn đến sự sử dụng bừa bãi, tàn
phá các nguồn tài nguyên và huỷ diệt một cách tàn khốc tài nguyên môi
trường sinh thái, không còn giữ lại cho đời sau, sự phát triển không bền vững.
Thứ năm: Nền KTTT vận hành theo CCTT, có chế này có thể gây ra sự
mất ổn định thường xuyên, phá vỡ sự cân đối trong nền sản xuất xã hội. Hậu
quả tiêu cực của nó thường đi liền với những vấn đề nan giải. Thực tế phát
triển nền KTTT trong mấy chục năm qua chỉ rõ vấn đề lạm phát, thất nghiệp
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
7
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
và chu kỳ kinh doanh là những căn bênh kinh niên không thể khắc phục được
nếu không có sự can thiệp của Nhà nước.
Thêm nữa, trong nền KTTT thường tồn tại những ngành nghề kinh tế
thiếu sự cạnh tranh vì ở đó có mức lợi nhuận thấp, số vốn đầu tư lớn, thời
gian thu hồi vốn rất chậm nhưng rất cần cho sự ổn định phát triển kinh tế và
rất cần cho việc giải quyết những vấn đề xã hội như: y tế, giáo dục, xây dựng
cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng khác.
Qua trên ta thấy, nền KTTT có khả năng tập hợp tự động được hành động,
trí tuệ và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng đến lợi ích chung của
cả xã hội. Nhưng nền KTTT không phải là một hệ thống được tổ chức hài
hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng rất nhiều các yếu tố phức tạp và
nan giải. Vì vậy để khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường (CCTT) cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.
Từ đó hình thành khái niệm CCTT có sự quản lý của nhà nước. Đó là một

không cần thiết phải đi sâu phân tích quá trình lịch sử rồi mới đi đến kết luận.
ii. cơ chế thị trường ở nước ta và Các đặc đIểm, đặc trưng của kttt định
hướng XHCN .
1. Đặc điểm của cơ chế thị trường hiện nay.
Có nhiều cách tiếp cận, phân tích, lý giải khác nhau khi nhìn vào sự
vận động của nền kinh tế hiện nay. Trong mục này em xin được trinh bày
những đặc trưng của cơ chế thị trường trên cơ sở nhìn lại những năm đổi mới,
đồng thời có liên hệ đến bước đi, những quá trình có tính quy luật của bước
chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường có cự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN.
Với cách tiếp cận như trên, những đặc điểm lớn của nền kinh tế thị
trường_cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta là:
a/ Từng bước thực hiện những quá trình mang tính quy luật của bước chuyển
từ nên kinh tế tập trung bao cấp sang CCTT có sự quản lý của Nhà nước, với
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
9
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
tự do hoá thương mại và tự do hoá giá cả là khâu trung tâm đột phá; từng
bước chuyển lên CCTT đích thực.
Cơ chế đó là phát huy vai trò điều tiết của thị trường, hình thành bước
đầu một thị trường canh tranh, làm cho hàng hoá được lưu thông thông suốt,
cung cầu được cân đối, khắc phục tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn
định dần, lạm phát được ngăn chặn.
CCTT đã góp phần thúc đẩy việc phải xử lý những vấn đề mấu chốt
làm đảo lộn cả hệ thống tư duy và quan điểm kinh tế cũ như vấn đề sở hữu,
với sự thừa nhận và đánh giá cao chính sách kinh tế nhiều thành phần,
chuyển từ thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân sang chính
sách đối xử binh đẳng; đồng thời cũng xác định được những biện pháp nâng
cao hiệu quả của khu vực kinh tế quốc doanh cho phù hợp với thực tiễn nước
ta.

một bước tiến mới, kiên định phát triển kinh tế-chính trị theo con đường
XHCN.
Định hướng XHCN là không thay đổi, tuy vậy cũng có những nhận
thức mới về chủ nghĩa xã hội, khẳng định rằng CNXH có thể sử dụng những
công cụ phổ biến mà CNTB đã từng sử dụng như thị trường , các quan hệ
hàng hoá-tiền tệ, quy luật giá trị v.v cho mục tiêu của mình.
Xuất phát từ thực tế thị trường nước ta đang trong thời kì hình thành và
phát triển, trong nó còn tồn tại những yếu tố mất ổn định. Từ chỗ nền kinh tế
thực chất từ lâu là nền kinh tế nhiều thành phần, nên đã không chủ chương tư
nhân hoá một cách tràn làn, mà chủ chương phát triển một nền kinh tế nhiều
thành phần và xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh làm chỗ dựa của Nhà
nước ở các khâu và các lĩnh vực then chốt để nhằm ổn định cho định hướng
thị trường.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
11
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Đảng ta khảng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm chính
sách xã hội, xử lý hài hoà giữa tăng trưởng và ổn đinh; giữa phát triển kinh tế
với việc thực hiện những chính sách xã hội và công bằng xã hội. Thêm nữa
để tiếp tự thực hiện phương châm ổn định để phát triền, Nhà nước ta phải đổi
mới hơn nữa, nhận thức rõ vai trò của mình trong điều kiện mới, phải thay
đổi chất lượng, tác phong của bộ máy, chuyển tử tác phong chỉ huy mệnh
lệnh sang tác phong hỗ trợ, tạo môi trường phuận lợi cho thị trường phát
triển. Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của Nhà nước XHCN trong
hoạt động của thị trường nước ta.
2. Đặc trưng cơ bản của nền KTTT theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
Nền KTTT định hướng XHCN cũng có tính chất chung của nền kinh
tế, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của KTTT như quy luật
giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Thị trường có vai trò quyết
định trong việc phân phối các nguồn lực kinh tế. Giá cả do thị trường quyết

xuất quyết định. Phân phối có liên quan đến chế độ xã hội, chính trị. Dưới
CNTB, việc phân phối tuân theo nguyên tắc giá trị; đối với người lao động
theo giá trị sức lao động. Như vậy thu nhập của người lao động chỉ giới hạn ở
giá trị sức lao động mà thôi. Chủ nghĩa xã hội có đặc trưng riêng về sở hữu,
do đó chế độ phân phối cũng có đặc trưng riêng. Phân phối theo lao động là
đặc trưng riêng của chủ nghĩa xã hội. Thu nhập của người lao động không chỉ
giới hạn ở sức lao động mà nó phải vượt qua đại lượng đó, nó phụ thuộc chủ
yếu vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta gồm
nhiều thành phần kinh tế. Vì vậy cần thực hiện nhiều hình thức phân phối thu
nhập. Chỉ có như vậy mới khai thác được khả năng cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần kinh tế, huy động được mọi nguồn lực của đất nước vào phát triển
kinh tế.
Thứ ba : ở nước ta, cơ chế vận hành nền kinh tế là CCTT có sự quản
lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng vận động theo những quy luật
kinh tế nội tại của nền kinh tế thị trường nói chung, thị trường có vai trò
quyết định đối với việc phân phối nguồn lực kinh tế. Sự quản lý nhằm hạn
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
13
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
chế, nhằm khắc phục những thất bại của thị trường, thực hiện mục tiêu xã hội
nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
Thứ tư : Nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế mở, hội nhập
với kinh tế thế giới và khu vực, thị trường trong nước gắn với thị trường thế
giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế thế giới, nhưng vẫn giữ
được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc trong quan
hệ kinh tế đối ngoại. Thực ra đây không phải là đặc trưng riêng của kinh tế
thị trường định hướng mà là xu hướng chung của nền kinh tế thế giới hiện
nay. Trong điều kiện hiện nay chỉ có mở cửa kinh tế hội nhập vào kinh tế thế
giới và khu vực mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh

Phúc tăng 37%, Hà Tây tăng gần 24%, Hải Dương tăng 40,6%, Phú Thọ tăng
19,5%, Khánh Hoà tăng 18,8%, Bỡnh Dương tăng 34%, Đồng Nai tăng
18,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 18,4%.
Bên cạnh kết quả đó đạt được, sản xuất công nghiệp trong hai tháng đầu năm
cũn một số vấn đề sau:
Một số sản phẩm chủ lực, đặc biệt là sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn do
gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ nên chỉ đạt mức tăng trưởng thấp hoặc
giảm so với cùng kỳ như quần áo may sẵn tăng 13,9%; máy biến thế tăng gần
8%; ắc quy tăng 9%, động cơ diezen giảm gần 12%; vải lụa thành phẩm tăng
2,8%; quần áo dệt kim giảm 7,4% …
Nhiều sản phẩm vẫn có mức chi phí sản xuất cao nên khả năng cạnh tranh của
sản phẩm gặp khó khăn.
Một số tỉnh, thành phố lớn có tỷ trọng công nghiệp cao nhưng mức tăng
trưởng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành (Hà Nội tăng 14,4%; Đà
Nẵng tăng 15,2%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,8%).
1.2. Nông nghiệp.
Trong tháng 2 cả nước tập trung gieo cấy lúa Đông xuân, gieo trồng
cây ngắn ngày và rau đậu vụ đông. Tính đến ngày 15 tháng 2, cả nước đó gieo
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
15
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
cấy được gần 2.475 nghỡn ha lỳa Đông Xuân, bằng 103,9% so với cùng kỳ
năm trước, trong đó các tỉnh miền Bắc gieo cấy được gần 702 nghỡn ha, tăng
hơn cùng kỳ năm trước 21,4%; các tỉnh phía Nam đó cơ bản gieo cấy xong
lúa đông xuân, đạt gần 1.773 nghỡn ha, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm
2004. Lúa sinh trưởng và phát triển khá; các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu
Long đó thu hoạch 384,3 nghỡn ha lỳa đông xuân, chiếm 26% diện tích gieo
cấy. Năng suất thu hoạch ban đầu tương đối khá.
Về thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2005 ước đạt 507
nghỡn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó sản lượng khai thác

sản phẩm nhựa tăng 18%, dây điện và dây cáp điện tăng 30,8%, máy vi tính,
linh kiện tăng 72,4%, hàng điện tử tăng 14,3%, hạt điều tăng 100,4%, hàng
rau quả tăng 73,6%, chè các loại tăng 33,6%.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 2 ước đạt 2,35 tỷ USD, trong đó nhập khẩu của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 830 triệu USD. Tính
chung 2 tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4,903 tỷ USD,
tăng 24,2% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 6,9%), trong đó nhập
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,737 tỷ USD, tăng
27,3% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15%). Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
trong tháng 2 là ô tô, xe máy nguyên chiếc các loại, nguyên vật liệu và thiết bị
phụ tùng phục vụ cho sản xuất như xăng dầu ước đạt 850 nghỡn tấn, thộp cỏc
loại 320 nghỡn tấn, mỏy múc thiết bị, phụ tựng 400 triệu USD.
Nhập siêu 2 tháng đầu năm 2005 ước khoảng 825 triệu USD, chiếm 20,2% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn so với cùng kỳ nhiều năm trước (cùng
kỳ năm 2003 là 5,5%; năm 2004 là 9,3%).
1.5. Đầu tư phát triển.
Thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc Ngân sách Nhà nước (chủ yếu là
nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung) tháng 2 đạt khoảng 3.037,8 tỷ
đồng, bằng 5,9% kế hoạch; tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 7.003,4 tỷ
đồng, bằng 13,5% kế hoạch, thấp hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2004 đạt
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
17
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
14,3% kế hoạch). Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch tháng 2 ước đạt 1.600 tỷ
đồng. Tính chung 2 tháng, nguồn vốn tín dụng đầu tư đạt 2.800 tỷ đồng, bằng
9,3% kế hoạch năm, trong đó nguồn vốn trong nước cho vay theo kế hoạch
thực hiện thấp, chỉ đạt 700 tỷ đồng, bằng 3,8% kế hoạch năm; nguồn vốn
ODA đạt 600 tỷ đồng, bằng 10% kế hoạch năm; nguồn vốn đầu tư hỗ trợ xuất
khẩu đạt 1.000 tỷ đồng.
Thu hút vốn ODA: Từ đầu năm đến 21/2/2005 nguồn ODA được hợp thức

Thu Ngân sách Nhà nước: Thu ngân sách 2 tháng đầu năm 2005 nhỡn
chung vẫn thuận lợi, tiến độ thu NSNN đạt khá, ước đạt 28.373 tỷ đồng, bằng
15,5% dự toán, trong đó: thu nội địa 7.871 tỷ đồng, bằng 16,2% dự toán; thu
từ dầu thô 6.546 tỷ đồng, bằng 17,2% dự toán, riêng thu cân đối NSNN từ
xuất nhập khẩu đạt thấp do thực hiện hoàn thuế giá trị giá tăng và chi phí
quản lý thu thuế tăng cao so với cùng kỳ, ước đạt 4.562 tỷ đồng, bằng 12,1%
dự toỏn
Chi Ngân sách nhà nước: Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng chi NSNN
ước đạt 30.495 tỷ đồng, bằng 13,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát
triển 9.280 tỷ đồng, bằng 14,1% dự toán; chi trả nợ và viện trợ 5.282 tỷ đồng,
bằng 15,2% dự toỏn; chi phỏt triển sự nghiệp kinh tế - xó hội 15.133 tỷ đồng,
bằng 14,9% dự toán; chi cải cách tiền lương 800 tỷ đồng, bằng 3,9% dự toán.
Bội chi ngân sách ở mức 2.122 tỷ đồng, bằng 5,2% dự toán năm.
Chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ tháng 2 tăng 2,5% so với tháng 1 năm 2005,
trong đó lương thực, thực phẩm tăng 4,1% (lương thực tăng 2,5%; thực phẩm
tăng 4,3%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,7%; văn hoá thể thao giải trí tăng
1,7%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,6%; phương tiện đi lại tăng 0,8%;
hàng may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,5%; các nhóm hàng nhà ở và vật
liệu xây dựng, thiết bị và đồ dùng gia đỡnh, dược phẩm y tế đều tăng 0,4%.
2/ Hạn chế.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
19
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Gắn các hoạt động nghiên cứu khoa học với sản xuất, đáp ứng các yêu
cầu phát triển của xó hội là mục tiờu của các hoạt động nghiên cứu khoa học
được nhà nước ta đặt ra từ rất sớm. Năm 1958, trong Nghị quyết Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khoá II) đó khẳng định "Khoa học kỹ
thuật là điều kiện khụng thể thiếu trong cụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội
(CNXH) ". Tuy nhiên gắn kết giữa hoạt động khoa học và sản xuất là việc
làm khó khăn không chỉ ở nước ta mà là tỡnh trạng khỏ phổ biến ở nhiều

thị trường công nghệ- môi trường gắn kết nghiên cứu và sản xuất.
Một số Bộ, ngành, địa phương triển khai phân bổ vốn đầu tư cũn chưa
đúng quy định như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũn 8 dự ỏn
nhúm C chưa có quyết định đầu tư, 32 dự án chưa có thiết kế, tổng dự toán
được duyệt, 42 dự án nhóm B bố trí thời gian hoàn thành quá 4 năm, 46 dự án
nhóm C bố trí vốn quá 2 năm; Bộ Quốc phũng: 47 cụng trỡnh, dự ỏn nhúm B,
C (thuộc nguồn vốn ngân sách tập trung) chưa có thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán được duyệt, 41 dự án nhóm B, C bố trí vốn để hoàn thành vượt quá thời
gian quy định.
Bước đầu tổng hợp kế hoạch phân bổ vốn đầu tư năm 2005 của 49 tỉnh,
thành phố có 1.007 dự án nhóm B, C tương ứng với 2.360 tỷ đồng bố trí vốn
hoàn thành vượt quá thời gian quy định. Một số địa phương bố trí vốn đầu tư
cũn phõn tỏn như bỡnh quõn 1 dự ỏn nhúm C của tỉnh Phỳ Thọ là 0,63 tỷ
đồng/dự án, Quảng Ninh 0,52 tỷ đồng/dự án, Hà Tĩnh 0,62 tỷ đồng/dự án,
Nam Hà 0,34 tỷ đồng/ dự án.
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang
phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát kế hoạch phân bổ vốn đầu tư của
các Bộ, ngành và địa phương, đồng thời tổng hợp tỡnh hỡnh triển khai kế
hoạch đầu tư phát triển năm 2005 của các Bộ, ngành và địa phương để báo
cáo Chính phủ trong quý I năm 2005. Một số sai sót trong việc triển khai phân
bổ vốn đầu tư của các đơn vị so với quy định đó được Bộ Kế hoạch và Đầu tư
có ý kiến bằng văn bản.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
21
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Nhỡn chung, tiến độ thực hiện các dự án và kết quả giải ngân vốn đầu
tư cũn chậm. Tổng số kế hoạch vốn đó phõn bổ cho cỏc dự ỏn năm 2003 và
năm 2004 là 10.277 tỷ đồng; giá trị khối lượng hoàn thành đề nghị thanh toán
đến ngày 31/12/2004 đạt 6.670,8 tỷ đồng bằng 64,9% kế hoạch đó giao; trong
đó các dự án thuộc Trung ương quản lý đạt 6.151,8 tỷ đồng bằng 67,4% kế

và B để gửi đến cơ quan cấp phát thanh toán vốn vẫn cũn chậm, mặc dự khối
lượng thực hiện thực tế tại hiện trường là khá lớn.
Nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do sức mua có khả
năng thanh toán của xó hội trong dịp Tết Nguyờn đán tăng khoảng 20-30% so
với năm ngoái (do thực hiện chế độ tiền lương mới, tiền thưởng cho người lao
động của các doanh nghiệp trong dịp Tết, cùng với lượng ngoại tệ, kiều hối
chuyển về nước chi dùng dịp Tết nhiều hơn); ngoài ra cũn do ảnh hưởng của
dịch cúm gia cầm kéo giá các loại thực phẩm khác tăng cao.
Tuy nhiên, đáng chú ý là chỉ số giỏ hai thỏng đầu năm tuy thấp hơn mức tăng
của cùng kỳ năm trước nhưng sau Tết mức giá hàng hoá hầu như không giảm
theo quy luật, vỡ vậy đũi hỏi cú sự quản lý và điều hành giá cả hợp lý nhằm
bảo đảm chỉ số giá trong những tháng tới tăng trong tầm kiểm soát và không
vượt quá mức tăng giá do Quốc hội đó thụng qua.
4/ Nội dung công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước.
1.1. Hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước , nó tạo
ra khuôn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế hoạt động , phát huy mặt tích
cực và han chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường , đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Hệ thống pháp luật bao trùm
mọi hoạt động kinh tế xã hội , bao gồm những điều luật cơ bản về hoạt động
của các doanh nghiệp ( Luật doanh nghiệp ) , về hợp đồng kinh tế , về bảo hộ
lao động , bảo hiểm xã hội , bảo vệ môi trường , vv… Các luật đó điều chỉnh
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
23
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
hành vi của các chủ thể kinh tế thuộc các doanh nghiệp phải chấp nhận sự
điều tiết của Nhà nước.
1.2. Kế hoạch hoá.
Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
kế hoạch kết hợp với thị trường. Kế hoạch và thị trường là hai công cụ quản

được lượng tiền phát hành và tổng quy mô cho tín dụng. Trong chính sách
tiền tệ, lãi suất là công cụ quan trọng, là phương tiện điều tiết cung, cầu tiền
tệ. Việc thắt chặt hay nới lỏng cung ứng tiền tệ, kìm chế lạm phát thông qua
hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế.
1.5. Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại.
Đểb mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, Nhà nước sử
dụng nhiều công cụ, trong đó công cụ chủ yếu là thuế xuất - nhập khẩu, bảo
đảm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu. Thông qua các công cụ đó, Nhà
nước có thể khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, nâng
cao khả năng cạnh tranh hàng hoá của nước ta; giữ vững được độc lập, chủ
quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế.
II. GIảI PHáP Để TĂNG CƯờng vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kttt
định hướng xhcn ơ nước ta hiện nay.
Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với nền kinh tế thông qua
các công cụ như pháp luật, chính sách kế hoạch hoá, chính sách tài chính tiền
tệ, chính sách thu nhập-phân phối và chính sách xuất nhập khẩu. Trước
những khó khăn còn tồn đọng, để tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, chúng ta cần thực hiện triệt
để và có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:
1/ Chính sách tài chính.
Chính sách tài chính đóng vai trò cực kỳ quan trọng góp phần thực hiện
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là côngười nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đảm bảo cho
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status