SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VAI TRÒ QUẢN LÍ KINH TẾ NHÀ NƯỚC - Pdf 11

Lời nói đầu
Theo C.Mac va F.Anghen: Không thể cải biến kinh tế xã hội nếu thiếu vai trò
kinh tế của Nhà nớc, loài ngời đã và đang còn sống lâu dài trong nền kinh tế
thị trờng,bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu, nền kinh tế thị trờng không thể
tránh khỏi mặt tiêu cực. Phát huy mặt tích cực, chủ động hạn chế mặt tiêu cực
của kinh tế thị trờng thông qua vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc là một tất
yếu khách quan.
I.sự cần thiết khách quan của vai trò
quản lí kinh tế nhà nớc
1.Nhà nớc là gì ?
Trong tiến trình lịch sử phát triển, sự ra đời của Nhà nớc chậm hơn sự ra đời
của xã hội vì Nhà nớc chỉ đợc tạo ra từ xã hội có một trình độ phát triển nhất
định
Nhà nớc không phải là cái bẩm sinh vốn có mà nó xuất hiện gắn liền với sự
xuất hiện chế độ t hữu về T liệu sản xuất, sản xuất hàng hoá, giai cấp và đấu
tranh giai cấp. Nhà nớc là kiểu tổ chức xã hội của xã hội có giai cấp. Nó là một
bộ máy, một hệ thống tổ chức chặt chẽ, tác động vào mọi mặt của đời sống xã
hội, do giai cấp thống trị lập ra nhằm hợp pháp hoá và củng cố sự áp bức của
chúng đối với quần chúng lao động. Do vậy bản chất Nhà nớc theo nguyên
nghiã của nó là nền chuyên chính để thực hiện sự thống trị của một giai cấp, là
bộ máy áp bức của giai cấp thống trị đối với xã hội. Nhà nớc chỉ là một phạm trù
lịch sử, nó không đồng nghĩa với xã hội, nó chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch
sử nhất định và sẽ tự tiêu vong khi các cơ sở ra đời và tồn tại của nó không còn
nữa. Bất kì một Nhà nớc nào cũng có chức năng kinh tế, mà theo Mac thì chức
năng của nhà nớc nh vai trò bà đỡ cho xã hội cũ thai nghén xã hội mới. ở các
1
thời kì khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau, do tính chất Nhà nớc khác nhau
nên vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nớc có biểu hiện khác nhau.
2.Vai trò kinh tế của Nhà nớc qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử
Nói về vai trò kinh tế của Nhà nớc qua các thời kì và chế độ xã hội, C.Mac và
F.Anghen đã có những đúc kết hết sức xác đáng nh sau:

cuộc xây dựng xã hội mới thì vai trò và chức năng của Nhà nớc mới đợc nói tới
nhiều hơn. Ông cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đợc xây dựng trên công
hữu xã hội về t liệu sản xuất với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Sở hữu
toàn dân về t liệu sản xuất là hình thức sở hữu chung của toàn thể nhân dân lao
động, mọi ngời cùng chiếm hữu t liệu sản xuất. Ngời chủ cao nhất là Nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, sản xuất đợc tiến hành theo kế hoạch tập trung thống nhất của
Nhà nớc. Còn hình thức sở hữu tập thể do tập thể ngời lao động góp vốn, t liệu
sản xuất để xây dựng nên, sản xuất đợc tiến hành theo kế hoạch của tập thể có
sự hớng dẫn của Nhà nớc. Nhà nớc xã hội chủ nghĩa có vai trò kinh tế đặc biệt,
nó không còn là bộ máy ăn bám đứng trên quá trình sản xuất nữa mà phải
chuyển sang tổ chức, thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân. Chức
năng này gắn liền với quá trình kế hoạch hoá tập trung thống nhất, quản lý sản
xuất và phân phối sản phẩm, kiểm tra chặt chẽ mức độ lao động và tiêu dùng.
Thực tế lịch sử đã cho thấy cùng với sự tiến hoá của các chế độ xã hội, vai
trò kinh tế của Nhà nớc cũng có những biến đổi hết sức lớn lao, thể hiện rõ trong
các lý thuyết kinh tế điển hình qua các thời kì
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến: vai trò kinh tế của Nhà nớc
chủ yếu chỉ dừng lại ở việc bảo vệ sở hữu về nô lệ và phong kiến về T liệu sản
xuất. Nhà nớc trực tiếp dùng quyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối
của cải đợc sản xuất ra bởi nô lệ. Còn Nhà nớc phong kiến không chỉ can thiệp
3
vào việc phân phối mà còn tập hợp nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản
xuất nông nghiệp, khuyến khích quan lại di dân đi mở mang các vùng đất mới,
đề ra các chính sách ruộng đất thích hợp cho từng thời kì.
- Trong giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa t bản
+ Trong thời kì tích luỹ nguyên thuỷ T bản (giữa thế kỉ 15) Nhà nớc có vai trò
kinh tế quan trọng trong việc tích luỹ tiền (Chủ nghĩa trọng thơng), họ đề cao
vai trò tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá sự giàu có của một
quốc gia -Nội thơng là cái ống dẫn, ngoại thơng là cái máy bơm, muốn tăng
của cải phải có ngoại thơng nhập dần của cải qua nội thơng-do đó các Nhà nớc

khả năng của các doanh nghiệp. Mặt khác các nhà kinh tế cũng thấy đợc rằng
nền kinh tế phát triển càng cao, xã hội hoá sản xuất ngày càng mở rộng, thị tr-
ờng ngày càng phát triển thì càng cần có sự quản lý của Nhà nớc đối với nền
kinh tế, song t tởng của họ vẫn dừng lại ở sức mạnh thị trờng, ở sự tác động tự
phát của các quy luật kinh tế thị trờng làm cho nền kinh tế phát triển ổn định và
lành mạnh.
- Sang thời kì của đại t bản công nghiệp: Chủ nghĩa t bản phát triển nhanh
chóng nhờ các nguồn vốn tích luỹ to lớn nên ngời ta chủ yếu chỉ phê phán
những sự tiêu dùng xa xỉ làm giảm nguồn tích luỹ chứ cũng cha thấy rõ vai trò
cần thiết của Nhà nớc trong việc điều chỉnh các quá trình phát triển, khắc phục
các mất cân đối (Ví dụ Davit Ricardo).
+ Vào đầu những năm 1930 của thế kỉ nảy, khủng hoảng kinh tế diễn ra thờng
xuyên đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933 đã làm cho
bàn tay vô hình không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho nền kinh tế
thị trờng phát triển. Đồng thời ở giai đoạn này trình độ xã hội hoá sản xuất phát
triển khá cao làm cho các nhà kinh tế thấy rằng: cần có một lực lợng điều tiết
5
nền kinh tế từ một trung tâm-đó là Nhà nớc. Từ đó J.M.Keynes-nhà kinh tế học
ngời Anh đã da ra lý thuyết "Nhà nớc điêù tiết nền kinh tế thị trờng". Ông cho
rằng cùng với sự tăng lên của sản lợng quốc gia thì thu nhập tăng lên và tiêu
dùng cũng tăng lên. Nhng do xu hớng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng tăng
chậm hơn so với thu nhập, điều này làm giảm cầu tiêu dùng tơng đối. Cầu tiêu
dùng giảm làm giảm giá hàng hoá và từ dó làm giảm tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất
lợi nhuận giảm nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì các doanh nghiệp không còn có
lợi do đó họ không đầu t vào sản xuất, kinh doanh nữa. Và nh vậy khủng hoảng,
trì trệ kinh tế và thất nghiệp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Để khắc phục
tình trạng đó, Nhà nớc cần phải can thiệp vào nền kinh tế, vào thị trờng, phát
huy mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong c dân, các nghiệp chủ đa vào sản xuất, tăng
vốn đầu t để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tiêu dùng, đặc biệt chú
ý đến tăng cầu tiêu dùng và chỉ có tăng cầu tiêu dùng mới thực sự khuyến khích

của Nhà nớc, nên vào thập niên 60,70 có sự xích lại gần nhau của 2 trờng phái
để hình thành nền kinh tế hỗn hợp, tức là họ đã phối hợp Bàn tay vô hình và
Bàn tay hữu hình để điều tiết nền kinh tế. Trong cuốn Kinh tế học của
Samuelson ông viết:Điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị
trờng thì cũng nh định vỗ tay bằng một bàn tay, theo ông Nhà nớc có vai trò
đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả vì các nền kinh tế thực tế đôi khi
chịu thất bại của thị trờng gồm cạnh tranh không hoàn hảo (cao hơn nữa là độc
quyền), tác động bên ngoài( ngoại ứng), hàng hoá công cộng (nếu để t nhân làm
thì việc cung ứng thờng không đủ nên Chính phủ phải nhảy vào làm việc đó)
thuế (một dạng cỡng bức quan trọng của Nhà nớc để phục vụ những chi tiêu của
mình).
7
Nh vậy sự can thiệp của Chính phủ vào thị trờng để nâng cao hiệu quả không
phải chỉ đơn thuần là do ý thích, mà đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các t
doanh làm ăn trôi chảy, ngăn cản lạm dụng khi các doanh nghiệp trở thành
những kẻ tham lam độc quyền và kiềm chế hoạt động của các doanh nghiệp khi
khối nhà máy của họ đe doạ sinh mạng và tài sản của ngời khác. Ngoài ra nếu
nền kinh tế hoạt động hoàn toàn có hiệu quả, luôn trên ranh giới đờng khả năng
sản xuất, sự cạnh tranh trên thị trờng là hoản hảo thì hàng hoá luôn đợc đặt vào
tay ngời có nhiều tiền nhất chứ không phải theo nhu cầu lớn nhất, vì vậy cần
thừa nhận rằng một hệ thống thị trờng có hiệu quả có thể gây ra sự bất bình
đẳng lớn, và một khi thị trờng dân chủ không thích sự phân phối phiếu đôla
trong một thị trờng thả lỏng thì nó có biện pháp thay đổi kết quả thông qua
những chính sách phân phối lại, từ đó Nhà nớc có thể sử dụng "thuế luỹ tiến
đánh thuế ngời giàu theo tỉ lệ thu nhập cao hơn ngời nghèo, xây dựng hệ thống
hỗ trợ thu nhập nhằm tạo ra một mạng lới an toàn, bảo vệ những ngời không
may khỏi bị huỷ hoại về kinh tế. Bên cạnh đó, theo Samuelson từ khi ra đời cho
đến nay Chủ nghĩa t bản đã gặp phải những thăng trầm chu kì cuả lạm phát, do
vậy sử dụng một cách thận trọng quyền lực về tiền tệ và tài chính của Chính phủ
(bao hàm việc điều tiết tiền tệ và hệ thống ngân hàng để xác định mức lãi suất

tiêu mong muốn trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của thị trờng.
3. Tính tất yếu khách quan của việc xuất hiện vai trò kinh tế của Nhà nớc
Trên thực tế, không có nền kinh tế nào thế giới lí tởng của bàn tay vô hình.
Mỗi nền kinh tế đều có những khuyết tật. Vì lí do đó nên ở bất cứ nơi nào trên
thế giới, không có chính phủ nào dù bảo thủ đến đâu lại không nhúng tay vào
nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trờng, lực lợng sản xuất ngày càng phát triển
và theo đó quan hệ sản xuất mới đợc thiết lập cho phù họp với tính chất và trình
9
độ phát triển của lực lợng sản xuất. Vì vậy Nhà nớc cần phải nắm vai trò chủ
đạo trongviệc đa ra giải pháp để phát triển lực lợng sản xuất. Trong thời kì quá
độ, để phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng cần phải giải quyết hai mâu
thuẫn chính. Thứ nhất đó là mâu thuẫn giữa nền kinh tế chậm phát triển với yêu
cầu phát triển nền kinh tế hiện đại bằng quá trình đẩy nhanh phát triển nền kinh
tế hàng hoá. Thứ hai đó là mâu thuẫn giữa những yếu tố nhanh nhạy, tự phát của
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Với t cách là cơ quan quyền lực đại diện
cho lợi ích của nhân dânvà là ngời chủ đại diện cho sở hữu toàn dân, Nhà nớc
phải quản lí nền kinh tế đ, thực hiện chế độ dân chủ về mọi khâu, mọi mặt của
quá trình tái sản xuất.
II- Sự hình thành cơ chế quản lí mới ở Việt Nam
Trớc hết ta cần nắm đợc khái niệm cơ chế kinh tế: Đó là tồng thể các yếu tố có
mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực dẫn dắt nền kinh tế
phát triển.
1. Cơ chế quản lí kinh tế cũ ở Việt Nam
a)Đặc trng cơ bản
Cơ chế quản lí kinh tế cũ của nớc ta là cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp (Giai đoạn trớc ĐạI hội VI của Đảng năm 1986) Đặc trng chủ yếu của
cơ chế quản lý kinh tế giai đoạn này đó là coi kế hoạch là công cụ quản lí số
một, có tính chất pháp lệnh bắt buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tất cả các
nghành, các cấp, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế trong đó công dân, luật pháp
về kinh tế (mới có rất ít) và các công cụ quản lí khác đều đợc xếp sau công cụ kế

quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất.
11
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã tích cóp những xu hớng
tiêu cực, làm nảy sinh sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế
xã hội. Vấn đề đặt ra là phải đổi mới sâu sắc cơ chế đó theo hớng căn bản của sự
đổi mới cơ chế quản lí đã đợc Đại hội VI của Đảng xác định và đợc tiếp tục
khẳng định tại Đại hội VII: Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
hình thành đồng bộ, vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lí của Nhà
nớc
2. Cơ chế thị trờng và sự vận dụng ở Việt Nam
a)Một số khái niệm cơ bản
Để có thể đi sâu nghiên cứu cơ chế quản lí kinh tế mới ở Việt Nam cần nắm
vững một số khái niệm sau
- Thị trờng là gì? Thị trờng gắn liền với quá trình sản xuất và lu thông hàng
hoá, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lu thông
hàng hoá, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, lợng sản phẩm lu thông trên
thị trờng ngày càng dồi dào và phong phú, thị trờng đợc mở rộng. Nh vậy thị tr-
ờng là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới, tại đây ngời
mua và ngời bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lợng hàng
hoá lu thông trên thị trờng. Thị trờng là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản
xuất hàng hoá. Những vấn đề cơ bản của nền sản xuất hàng hoá là sản xuất cái
gì? Số lợng bao nhiêu? Bằng phơng pháp nào? đều phải thông qua thị trờng vì
vậy thị trờng đóng vai trò hoạt động và phơng án sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
- Cơ chế thị trờng là gì? Mọi hệ thống kinh tế đều đợc tổ chức cách này hay
cách khác, để huy động tối đa các nguồn lực xã hội và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực đó nhằm sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu của xã
hội. Việc sản xuất ra hàng hoá gì? Theo phơng thức nào là tốt nhất? Việc phân
phối hàng hoá đợc sản xuất ra sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu xã hội? Đó là

tranh, ngời sản xuất phải lựa chọn kĩ thuật và công nghệ tối u. Cạnh tranh giữa
các xí nghiệp trong ngành hình thành nên lợi nhuận siêu ngạch cho ngời sản
xuất. Động lực hấp dẫn này thúc đẩy họ luôn đổi mới kĩ thuật, phấn đấu đa năng
suất lao động cá biệt lên cao hơn năng suất lao động xã hội. Hơn nữa, cạnh tranh
còn là cơ chế sàng lọc, bình tuyển những kiểu sản xuất tân tiến, loại bỏ những
cơ chế sản xuất cũ kĩ lạc hậu. Vì thế cạnh tranh là linh hồn của đời sống kinh tế
trong nền kinh tế thị trờng.
+Sản xuất cho ai? Nh ta đã biết mục đích của sản xuất hàng hoá là để bán, để
chuyển H thành T, làm cho sản xuất tái diễn. Do vậy để trả lời câu hỏi Sản xuất
cho ai chỉ có thể là sản xuất cho ngời có tiền. Trong phân phối, động lực vì
đồng tiền để làm giàu trở thành một sức mạnh thật sự thúc đẩy con ngời trong
các hoạt động kinh tế của họ. Tất nhiên sự phân phối trong kinh tế thị trờng
không tránh khỏi một số mặt trái về hậu quả xã hội.
-Đặc điểm chung của cơ chế thị trờng
+Ưu điểm: Trớc hết nó kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo điều
kiện thuận
lợi cho hoạt động tự do của họ, lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động
nên đòi hỏi
các doanh nghiệp thờng xuyên phải hạ thấp chi phí lao động cá biệt xuống thấp
hơn chi phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó mà động viên đợc các nguồn lực
của xã hội và sử dụng tiết kiệm các nguồn lực đó, thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ
khoa học kĩ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản
xuất.
* Hai là cơ chế thị trờng có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời khối lợng và
14
cơ cấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu của nhu cầu. Lí do là vì trong kinh
tế thị trờng tồn tại một nguyên tắc ai đa ra thị trờng một loại hàng hoá mới và
sớm nhất sẽ thu đợc lợi nhiều nhất.
* Ba là trong nền kinh tế thị trờng hàng hoá rất phong phú và đa dạng, do vậy

ởng và phát triển kinh tế.
* Thứ sáu, vấn để thông tin. Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp cần
rất nhiều thông tin khác nhau. Trong khi đó, khả năng của từng doanh nghiệp
trong việc thu nhập và xử lý thông tin rất hạn chế. Mỗi doanh nghiệp không thể
tự giải quyết đợc nhu cầu về thông tin của chính mình.
* Thứ bảy, mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đo họ có thể lạm
dụng tài nguyên xã hội, có thể gây ra ô nhiễm nguồn nớc, không khí...
* Thứ tám, khủng hoảng sản xuất thừa là căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế
thị trờng phát triển. ở đây, do mức cung hàng hoá vợt quá mức cầu có khả năng
thanh toán nên dẫn tới tình trạng d thừa hàng hoá Nguyên nhân của tình trạng
trên là do mâu thuẫn cơ bản của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, mâu thuẫn
này đợc thể hiện trên tính kế hoạch cao độ ở từng doanh nghiệp với tính vô
chính phủ trên toàn bộ nền sản xuất xã hội. Xu hớng mở rộng sản xuất vô hạn
độ mâu thuẫn với sức mua có hạn của quần chúng. Mâu thuẫn đối kháng giữa
giai cấp vô sản và giai cấp t sản.
Do những khuyết tật đó mà xã hội thờng xuyên phải có sự kiểm tra, điều tiết,
định hớng một cách có ý thức đối với sự vận động của cơ chế thị trờng, đó là lí
do cần thiết phải thiết lập vai trò quản lí của Nhà nớc ở tất cả các nớc có nền
kinh tế thị trờng. ở nớc ta sự quản lí của Nhà nớc nhằm hớng tới sự ổn định về
kinh tế xã hội, sự công bằng và hiệu quả cũng nh làm cho nền kinh tế ngày càng
tăng trởng và phát triển với tốc độ cao.
16
b)Sự vận dụng vào Việt Nam
Cùng với tiến trình phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng
đi lên phát triển một nền kinh tế thị trờng nhng mang bản săc riêng của Việt
Nam-nền kinh tế thị trờng có sự quản lí của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa- đó là nền kinh tế vận động theo cơ chế hỗn hợp và đợc định hớng bởi lý
tởng của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hết sức mới mẻ và tất nhiên định nghĩa
này đòi hỏi phải loại trừ thành kiến"Thị trờng là
chủ nghĩa t bản","kế hoạch là chủ nghĩa xã hội" và các quan điểm cùng loại. Để

Nhà nớc vẫn sử dụng lãi suất, tỉ giá và quan hệ tài chính tiền tệ do Nhà nớc quy
định. Cha có lãi suất, tỉ giá và tín dụng thực sự theo cơ chế thị trờng.
Thực trạng trên đây của nớc ta là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau.
Về mặt khách quan đó là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội
còn thấp. Nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do
nhận thức cha đúng đắn về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do sự phân biệt duy ý
chí giữa thị trờng có tổ chức và thị trờng t do. Một thời gian khá dài đã tồn tại
quan niệm cho rằng những t liệu sản xuất lu chuyển trong nội bộ các xí nghiệp
quốc doanh là những hàng hoá đặc biệt, nó không đợc mua bán tự do vì chúng
có vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu chúng rơi vào tay t nhân nó sẽ trở thành
những phơng tiện nô dịch lao động của ngời khác. Sức lao động tiền vốn cũng đ-
ợc quan niệm không phải là hàng hoá...Mặt khác do quản lí theo chiều dọc- theo
chức năng kinh doanh của từng ngành một cách máy móc cho nên đã dẫn tới
hiện tợng cửa quyền, cắt đứt mối liên hệ tự nhiên giữa các ngành.
+ Năng suất lao động và thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời còn thấp
Do trình độ cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ còn thấp, kết cấu hạ tầng dịch
vụ sản xuất
18

Trích đoạn Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay, kinh tế quốc Tuy có những yếu kém, bật cập nhng một ván đề có thể khẳng định đợc là Tạo môi trờng đầu t thuận lợi, thực hành tiết kiệm để tạo thêm nguồn vốn,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status