QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC - Pdf 11

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

GVHD : TS. NGUYỄN HỒNG QUÂN
HỌC VIÊN : NGUYỄN HÀO QUANG
VÕ THỊ THÚY HẰNG
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
Tp.HCM, tháng 04/2013
MÔN HỌC
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
TIỂU LUẬN:
QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
1. Đặt vấn đề
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên ban tặng cho loài người,
không có nước thì không có sự sống và cũng không có một hoạt động kinh tế nào có thể
tồn tại được. Nước là khởi đầu và là nhu cầu thiết yếu của sự sống; là yếu tố quan trọng
của sản xuất; là nhân tố chính để bảo đảm môi trường Tuy vậy, nguồn tài nguyên nước
đang ngày càng khan hiếm, khối lượng và chất lượng nước ngày càng suy giảm, hạn hán
và lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước
ngày càng tăng và đó chính là nguyên nhân đã gây ra khủng hoảng về nước ở nhiều nơi
trên thế giới. Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người vì vậy nó đã trở
thành chủ đề quan trọng được bàn thảo nhiều nhất trên các diễn đàn Quốc tế. Ngay từ
trước những năm 90, sự suy giảm tính bền vững trong khai thác nguồn nước đã khiến
nhiều nhà quản lý đặt mối quan tâm nhiều vào giải pháp tổng hợp với mục tiêu đạt được
sự phát triển bền vững. Nước đã trở thành chủ đề rất quan trọng, mang tính thời sự đang
được cả thế giới quan tâm. Đã có nhiều cuộc hội nghị, hội thảo ở cả tầm khu vực và Quốc
tế để thảo luận xung quanh các chủ đề về nước như: Hội nghị thượng định về nước năm
1992 tại Rio với chủ đề “Nước và môi trường”; Diễn đàn nước thế giới lần thứ nhất tại

hóa hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội một cách cân bằng mà không phương hại đến tính
bền vững của các hệ thống sinh thái trọng yếu (GWP, 2000).
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ngày nay quan tâm đặc biệt đến tác động qua
lại giữa con người và thiên nhiên, do đó tổng hợp được xem xét theo cả hai hệ: Hệ tự
nhiên và hệ con người.
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 2
Nguyễn Thị Huyền Trang
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
Hình 2: Khung cơ bản quản lý tổng hợp tài nguyên nước (GWP, 2000)
Tổng hợp về mặt tự nhiên bao gồm các khía cạnh sau:
- Tổng hợp quản lý nước ngọt và quản lý vùng ven biển.
- Tổng hợp quản lý “nước xanh lá cây” và “nước xanh da trời”.
- Tổng hợp nước mặt và nước dưới đất.
- Tổng hợp số lượng và chất lượng trong quản lý tài nguyên nước.
- Tổng hợp những lợi ích liên quan đến nước ở thượng lưu và hạ lưu.
Tổng hợp về mặt con người bao gồm những khía cạnh sau:
- Khi phân tích tài nguyên nước phải kết hợp phân tích các hoạt động của
con người và cơ cấu dịch vụ.
- Tổng hợp liên ngành trong quá trình lập chính sách quốc gia.
- Tổng hợp tất cả các bên liên quan trong quá trình quy hoạch và quyết định.
- Tổng hợp quản lý nước và nước thải.
Nếu làm tốt các mặt tổng hợp trên trong quan hệ hài hoà giữa ba thành tố kinh tế -
xã hội – môi trường, chúng ta sẽ đạt được sự quản lý tài nguyên nước bền vững.
Tiếp nối “Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất” năm 1992 và WSSD năm 2002, hiện
nay Thế giới chấp nhận rằng những ngành truyền thống và phân ngành khác làm cơ sở
cho các ngành nghiên cứu, kinh doanh và quản trị không thể nhằm vào sự phụ thuộc lẫn
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 3

Trong những năm 1930, Tennessee Valley Authority (TVA) được giao phát triển khu vực
tích hợp, bao gồm sự bảo vệ môi trường cũng như trách nhiệm quản lý nguồn nước và
năng lượng (Molle, 2009). Tuy nhiên, do sự thay đổi về ưu tiên chính trị ở Mỹ, phương
pháp khai thác nguồn nước chiếm ưu thế (Barrow, 1998). Trong thời hiện đại, tài liệu chỉ
ra rằng phần lớn các mô hình lớn về các kế hoạch tích hợp, phân bổ và quản lý tìm thấy
trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, hơn là lĩnh vực năng lượng. Bất kể thế nào
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 4
Nguyễn Thị Huyền Trang
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
trong lĩnh vực năng lượng, kế hoạch tích hợp khu vực đã có vào những năm 1980 trước
một chương trình cải cách kinh tế nhằm tư nhân hóa tài sản điện (Byrne, 2003).
3. Các nguyên tắc trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước
3.1 Nguyên tắc Dublin
Để tiếp cận đầy đủ quan điểm phát triển bền vững tài nguyên nước theo tinh thần
hội nghị thượng đỉnh của liên hiệp quốc về môi trường và phát triển họp tại Rio de
janeiro năm 1992 và bốn nguyên tắc về nước và phát triển bền vững được hội nghị quốc
tế Dublin năm 1992 thông qua:
Nguyên tắc sinh thái: Nước sạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, dễ bị tổn thương, cần
cho sự sống, phát triển và môi trường. Do đó tiếp cận sử dụng tổng hợp phải tính đến các
thành phần cán cân nước, hoạt động phát triển và tác động tại mỗi vùng thượng hạ lưu, sử
dụng đa mục đích, liên kết đa ngành, gắn kết xã hội loài người và thiên nhiên. Tỷ lệ dòng
chảy tự nhiên không bị khai thác phản ánh điều kiện cư trú dưới nước: 10% của dòng
chảy trung bình năm sẽ tạo nên điều kiện cư trú kém, 30% là khá và >40% là tốt.
Nguyên tắc thể chế: Phát triển và quản lý nguồn nước cần dựa trên tiếp cận có sự
tham gia của các bên có liên quan thuộc khu vực công cộng và tư nhân, các cộng đồng và
những người sử dụng nước, các nhà lập kế hoạch, hoạch định chính sách ở mọi cấp để đạt
tới các thỏa thuận chung có tính lâu dài và cùng chịu trách nhiệm, chia sẻ, chấp nhận hy
sinh để nâng cao hiệu quả dùng nước và bảo vệ nước.

nhận bởi hầu hết các nước.
Từ góc độ quản lý, Margerum (2001) nhấn mạnh những vấn đề sau đây trong
IWRM: cách nhìn hoặc quá trình mang tính tổng thể hoặc hệ thống hơn là đơn ngành,
thẩm quyền hoặc tập trung vào vấn đề đơn lẻ; nhìn nhận trong mối liên quan lẫn nhau
trong toàn hệ thống chẳng hạn như vấn đề ranh giới; làm rõ mục tiêu quản lý; khả năng
tích hợp giữa chiến lược và sự tiếp cận thích ứng trong việc ra quyết định phù hợp cho sự
tham gia và các hoạt động chủ yếu. Vì vậy, nó là đối ngược lại với cách tiếp cận đi từ các
yếu tố và cách tiếp cận theo từng phần riêng rẽ trong những năm gần đây. Hơn nữa, tiếp
cận tổng hợp được áp dụng đối với các lưu vực, một quốc gia, hệ thống sông và kế hoạch
quốc gia (Westcoat & White, 2003). Mặc dù đã trở thành một vấn đề chủ đạo và đã được
thảo luận trong nhiều giai đoạn, nhưng ý tưởng này cũng phải chịu không ít những ý kiến
phản đối. Ngay trong khái niệm của IWRM cũng cho thấy sự không thống nhất và thiếu
sự nhất trí về những vấn đề cơ bản được bao gồm trong quản lý tổng hợp, làm thế nào và
ai làm hoặc thậm chí ngay cả khi kết hợp với những lĩnh vực rộng lớn như vậy liệu có khả
thi hay không (Biswas, 2004; Biswas, Varis & Tortajada, 2005). Do đó, mô hình này gần
như không thể triển khai (Edsel E. Sajor and Nguyen Minh Thu, 2009). Để hiểu rõ hơn,
nhóm tác giả sẽ phân tích trên 3 vấn đề: (a) bộ máy quan liêu rời rạc, (b) hệ thống quản lý
từ trên xuống gây ra những tác động tiêu cực đến sự tham gia của nhà đầu tư và (c) quyền
lực tập trung.
4.1Bộ máy quan liêu rời rạc:
Để hoàn chỉnh hệ thống quản lý nguồn nước cần có sự chung tay giữa các tổ chức
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 6
Nguyễn Thị Huyền Trang
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
chính phủ có quyền hạn tương đương dù là cấp địa phương hay trung ương và sự hòa hợp
về trách nhiệm, quyền lợi và quyền hạn. Những rào cản đó là những thách thức lớn khi
mà quyền lợi cơ bản cũng như quyền hạn của các tổ chức vốn không tương xứng (Hjorth
& Dan, 1994: Hooper, MacDonald & Mitchell, 1999). Thông thường, vấn đề về thành

thống, vai trò ủy thác theo luật định (Westcoat & White, 2003). Phương thức quản lý từ
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 7
Nguyễn Thị Huyền Trang
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
trên xuống truyền thống cũng có khả năng làm lợi cho những người được phân phối sử
dụng nước trong khi không mang lại lợi ích và sự nhất trí của các nhà đầu tư (Calder,
2005). Những mối quan hệ thứ bậc cứng nhắc giữa các bộ cũng tạo ra đặc quyền cho các
bộ quyết định các dự án phân phối và điều hòa nước theo quy tắc từ trên xuống của chính
quyền. Sau đây là một số phương sách giúp hạn chế quy tắc từ trên xuống của chính phủ
và cổ vũ các nhà đầu tư tham gia. Ví dụ như ở Nam Phi, luật sử dụng tài nguyên nước
quốc gia ban hành năm 1998 là do các nhà đầu tư cùng hợp tác tạo ra, giúp cơ quan quản
lý hệ thống dẫn nước bao gồm đại diện của các nhà đầu tư quan trọng trong lĩnh vực quản
lý nguồn nước cùng với chính quyền địa phương, đại diện người sử dụng và cộng đồng
sử dụng nước (Schreiner, 2007). Những quan hệ liên kết đặc biệt và sự hợp tác chặt chẽ
cũng giúp quá trình phục hồi nguồn nước sông ở sông Mersey (Anh) và lưu vực sông
Siuslaw ở bang Oregon (Hoa Kỳ) và lưu vực Torbay ở miền Tây nước Úc do sự hợp tác
của các nhà đầu tư, sự đồng thuận từ phía chính phủ, sự quản lý tốt và những hoạt động
tích cực đã dẫn đến sự thành công(Edsel E. Sajor and Nguyen Minh Thu, 2009).
4.3Quyền lực tập trung:
Một trong những yêu cầu quản lý tổng hợp nguồn nước là sự phân quyền trong lập
kế hoạch, tiến hành, quyết định và điều hành quá trình quản lý nguồn nước phù hợp với
quản lý môi trường sinh thái nói chung. Ở nhiều quốc gia, các tổ chức quản lý lưu vực
sông đã được thành lập với mục đích tạo ra sự phân chia quyền lực hợp lý và tự quản lý.
Tuy nhiên, phân quyền quản lý nguồn đất và nước tập trung thu hút đầu tư cũng gây ra
những vấn đề mới cho các tổ chức chính phủ quen với phương pháp làm việc tập trung
quyền lực, từ trên xuống dưới. Hiệu quả của RBO về tổ chức quản lý lưu vực sông hiệu
quả có thể coi là một mối đe dọa đến lối làm việc theo quyền lực tập trung do tạo ra một
hoàn cảnh mới cho các bên liên quan có thể tự tìm cho mình một giải pháp thoả thuận

từ công cuộc đổi mới, sự mở cửa và liên kết với cộng đồng phát triển quốc tế (đặc biệt là
viện trợ) đã có kết quả tốt trong việc thay đổi các quy định luật pháp, chính trị và tiêu
chuẩn môi trường gần hơn với các nước phát triển. Tất nhiên điều này cũng bao gồm cả
những quan điểm và cách tiếp cận quản lý sông. Biến đổi khí hậu được xem là yếu tố làm
thay đổi dòng chảy mặt hiện tại và chế độ mưa. Hầu hết các mô hình cho thấy, trung bình
lượng mưa tăng cao hơn lượng bốc hơi do nhiệt độ tăng, kết quả người ta dự đoán lượng
dòng chảy trung bình sẽ tăng, khoảng 50 mm/năm (xấp xỉ lượng tăng 5%). Hầu hết lượng
mưa tăng trung bình hàng năm được dự đoán sẽ diễn ra vào các tháng mùa mưa, chỉ có
lượng nhỏ mưa tăng thêm trong mùa khô. Nếu không quản lý tài nguyên nước hiệu quả,
nước ta sẽ chịu ảnh hưởng mạnh do biến đổi khí hậu. Như vậy, để quản lý tổng hợp tài
nguyên nước đạt hiệu quả cần có các chính sách cụ thể và khả thi như sau:
 Tăng cường năng lực cho Cục Quản lý TNN cả về cơ sở vật chất, nhân lực,
phương tiện quản lý.
 Đào tạo, đào tạo lại để nâng cao kiến thức quản lý tổng hợp TNN cho cán bộ làm
việc trong lĩnh vực này.
 Hoàn thiện bộ máy quản lý TNN từ Trung ương đến địa phương, trong đó kiến
nghị lập đơn vị Thanh tra ngành nước.
 Đẩy mạnh sự hợp tác với các tổ chức quốc tế để học hỏi kinh nghiệm, tranh thủ tài
trợ về kinh phí, các phương tiện quản lý và đào tạo cán bộ chuyên ngành.
Học viên cao học: Nguyễn Hào Quang
Võ Thị Thúy Hằng 9
Nguyễn Thị Huyền Trang
Tiểu luận: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Quân
 Nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng cơ chế chính sách để động viên nhân
dân tham gia vào công tác quản lý tổng hợp TNN theo nguyên tắc: Dân biết, dân
bàn, dân làm và dân kiểm tra.
 Nghiên cứu cơ chế phối hợp phù hợp để tăng cường sự hợp tác giữa các Bộ, ngành
từ Trung ương đến địa phương trong công tác quản lý TNN.
Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status