TÍNH PHỒN THỰC TRONG TÁC PHẨM MỸ THUẬT-DẤU ẤN CỦA
MỘT BÌNH DIỆN VĂN HÓA VIỆT NAM
Tín ngưỡng phồn thực, một biểu hiện của khát vọng về cuộc sống con người và
thiên nhiên nẩy nở, sinh sôi, viên mãn, trường tồn đã làm cho đời sống văn hóa nói
chung và nghệ thuật tạo hình của nhân loại nói riêng ngay từ buổi hồng hoang đã
chứa đựng những chất sống sung mãn và đạt được sức mạnh biểu hiện sâu sắc.
Phồn thực luôn được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là giao hòa đực cái, sự sinh
sôi nòi giống hay biểu đạt tính tượng trưng của giao hòa nam nữ mà còn là sự
mong muốn, khát khao cuộc sống no đủ, đông đúc, cuộc sống được sinh sôi, nẩy
nở, mùa màng tươi tốt, cây cỏ xanh tươi, hoa quả nặng trĩu cành. Đối với cư dân
văn minh lúa nước Đông Nam á, tín ngưỡng phồn thực là mạch sống bền bỉ thấm
sâu trong cuộc sống. Trong đó có nước ta nơi tín ngưỡng phồn thực trở thành
những phẩm chất, thuộc tính văn hóa sâu đậm và cũng là những dấu ấn đặc sắc của
nghệ thuật tạo hình dân tộc trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hóa Việt
Nam. Đó là những tác phẩm mỹ thuật thẩm thấu sâu sắc cội nguồn lịch sử dân tộc
và những giá trị tinh thần nhân văn lớn lao, khát vọng tâm linh sinh tồn thuần khiết
của người xưa.
1. Khái niệm phồn thực
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “Phồn: cỏ tốt, nhiều - Thực: đầy đủ -
phồn thực : nẩy nở ra nhiều “, “Sinh thực khí: Sinh: đẻ ra - Sinh thực khí : cơ quan
của động, thực vật dùng để sinh thực”[1].[119], [129], [458], [194], [197]. Trong
Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm giải nghĩa: Việc thờ
cúng cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là sinh thực khí (sinh: đẻ, thực: nẩy nở,
người phụ nữ, nói chung” [6.328]. Như vậy một phần tư duy phồn thực là sự thiêng
liêng hóa sinh thực khí với ước vọng phồn sinh mạnh mẽ, bạo liệt. Tín ngưỡng
phồn thực được biểu hiện tập trung nhất ở tục thờ sinh thực khí, với những biểu
tượng sống động, đầy tính gợi tưởng tính dục. Mỗi biểu tượng phồn thực đều hàm
chứa những ý nghĩa sinh tồn và chúng được truyền lại từ đời này sang đời khác. Có
khá nhiều biểu tượng của sinh thực khí nam giao hòa với đất để sinh ra hoa trái,
quả cành tươi tốt, trĩu nặng. Từ xa xưa người dân vùng văn minh lúa nước đã xem
hành động giao hoan của con người sẽ ứng sang mọi vật, vì vậy nhiều vùng khi bắt
đầu mùa gieo hạt, cấy trồng đã đưa nhau ra bờ bãi để giao hoan hay tổ chức các lễ
hội xuống đồng mô phỏng động thái ân ái nam nữ. Trong lịch sử văn hóa Việt
Nam, có những giai đoạn khi nhà nước phong kiến suy yếu, tôn giáo được cởi mở
hơn, ví dụ vào thời Mạc khi Nho giáo không còn quá khắt khe thì tín ngưỡng phồn
thực có cơ hội phát triển mạnh. Dưới thời Mạc thế kỷ XVI, thời Lê mạt cuối thế kỷ
XVIII và ngay cả triều Nguyễn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng phải chấp
nhận các câu chuyện trào lộng, dí dỏm đôi phần tục vượt ra khỏi thuần phong mỹ
tục, gia phong xứ Huế như chuyện các cung nữ thỏa mãn tính dục với quả chuối
lùn (Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa Huế, còn gọi là chuối bà lùn vì thế mà
người Huế kiêng đặt cúng bằng loại chuối này), chuyện các công tử chọc gái, ngủ
thuyền, chuyện “mắm tôm” của một công tử chơi bời
Nhìn vào hiện thực cuộc sống của các làng quê ở Bắc Bộ ta thấy khá phổ biến
trong các lễ hội là những hình thức phỏng sinh tồn đầy tính nhục cảm. Một số Hội
làng có tục rước nõ nường, sau khi tế lễ xong trai gái tự do chen, sờ soạng nhau
trong bóng tối. Trong một số lễ hội các hành vi giao hoan nhiều khi lại được làm
thực để cầu mong mang lại sự phồn thực, no đủ cho cả làng. Khi nói về Hội làng
Quan Lang - Thái Bình tác giả Nguyễn Tri Nguyên viết: “Tục thờ cúng ông Đùng
bà Đà gắn liền với tín ngưỡng phồn thực đã có mặt trong một số lễ hội ở vùng
đồng bằng Bắc bộ ”. “Đình cô, Đình cậu thỉnh thoảng mô phỏng động tác tính
giao (mang ý nghĩa phồn thực) “ [3]. [318],[319]. Trong Từ điển văn hóa cổ truyền
Việt Nam có giới thiệu về trò chơi Bắt chạch trong chum. Đây là một tục thi vui
mang tính phồn thực giữa trai gái trong hội làng Văn Trưng (Vĩnh Phú) vào ngày
chồng hoa ở thân thạp Đào Thịnh khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau
nối đuôi chiếc trước, khiến cho hai con cá sấu - rồng được gắn ở mũi và lái của hai
chiến thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan.
Trên nắp trống đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) khắc những cặp chim ngồi trên lưng
nhau trong tư thế đạp mái, tượng cóc giao phối, điệu múa nam nữ úp mặt và tay
đưa hai vật thể chạm nhau như kiểu múa “tùng - dí” trong lễ hội làng ở Phú Thọ
sau này. Hình cá sấu trong chạm khắc có ở nhiều trống đồng Đông Sơn và các vật
dụng khác như các tấm chắn của chiến binh, bùa hộ mệnh, và chúng thường song
đôi
Hình ảnh nam nữ nô đùa, chọc ghẹo nhau, ân ái được thể hiện hầu hết các ngôi
đình ở Bắc Bộ. Nhiều nhà nghiên cứu đã thống kê được hàng loạt cảnh tượng
mang tính phồn thực như vậy được chạm khắc ở đình Lỗ Hạnh, đình Phú Lưu,
đình Diềm, đình Trà Cổ, đình Chu Quyến, đình Phú Lão, đình Hồi Quan với
những hình ảnh sống động như trên một tấm ván có đôi trai gái âu yếm nhau, bá
vai nhau đùa nghịch. Hình ảnh Trai làng chọc ghẹo các cô gái tắm dưới đầm sen.
(Đình Đông Viên-Hà Tây), Quan binh ghẹo gái (Đình Đệ tam- Nam Hà) Trai gái
vui đùa (Đình Hưng Lộc- Nam Hà) là những hình chạm sinh động, dí dỏm và
thấm đượm tính phồn thực dân gian.
4. Tính phồn thực trong tượng tròn
Như trên đã trình bày, ở Việt Nam thời Nguyên thủy tính phồn thực trong nghệ
thuật tạo hình đã hình thành và phát triển khá mạnh mẽ. Tượng Người đàn ông ở
Văn Điển (Hà Nội), tìm thấy năm 1966 bằng chất liệu đá ngọc được coi là một
trong những tượng phồn thực thể hiện nghệ thuật tạo hình bằng đá tinh xảo. Tượng
thể hiện kích thước cực nhỏ, chỉ cao 3,6 cm. Tính thẩm mỹ trong phương pháp tạo
hình được thể hiện thông qua cách tả thân hình và đầu tượng. Thân tượng được kéo
thon dài, mặt tạo khối trái xoan thanh tú. Tính thẩm mỹ của pho tượng không được
nhấn mạnh, nhưng vẫn phản ánh năng lực sáng tạo thẩm mỹ cao của người đương
thời. Tượng được xếp vào loại tượng thờ cúng sinh thực khí, đề cao nhu cầu sinh
tồn của người nguyên thủy. Hình thể tượng với một chân bị gãy ,trên đầu có sừng
bị gãy, đầu chỉ có hai hốc mắt, không tay, diễn tả một người đàn ông với sự nhấn
giáo kết hợp với truyền thống mỹ cảm phồn thực dân gian. Hình ảnh tiêu biểu của
tính phồn thực trong mỹ thuật thời Lý là cột đá tại chùa Dạm. Chùa Dạm (Bắc
Ninh) xây dụng năm 1084 với 4 lớp nền nay còn dấu tường móng và một trụ đá
chạm rồng quấn, rộng 70m dài 120m, chiều cao giữa các lớp nền là 8m, mỗi cấp có
25 bậc đá. Tại đây có cột biểu được coi là một tác phẩm điêu khắc kết hợp với kiến
trúc, là một biến thái Linga-Yoni. Đường kính bệ 4m50 cao 1m chạm hoa văn sóng
nước, cột giữa cao 5m,đường kính 1m30 chạm đầu rồng vươn cao.
Trên bình diện văn hóa ở miền Trung, vùng đất xa xưa của vương quốc Chàm vẫn
còn lại những tháp và tượng mang tính phồn thực sâu sắc. Tháp Chàm là một loại
hình kiến trúc tôn giáo, được xây dựng thành từng cụm trên những đồi núi cao
khoảng 50m -70m, tháp quay về hướng Đông đón ánh mặt trời và như gợi về
nguồn xa, biển cả tạo nên những khối hình xây dựng với cảnh quan hoành tráng.
Giữa lòng tháp là bệ thờ, trên có cặp tượng linga - yoni mang hình tượng sinh thực
khí nam nữ, là sự hòa hợp âm dương theo tư tưởng phồn thực. Mặt tháp còn được
gắn một số tượng đá sa thạch với đề tài được tôn giáo mà phổ biến là tượng thần
Siva, Visnu, Brahma, các tiên nữ Apsara, đặc biệt là các biểu tượng sinh thực khí
thiêng liêng Linga và Yoni tràn đầy chiếm chỗ trong nhiều không gian kiến trúc.
Trong điêu khắc có nhiều chủ đề ca múa, những thân hình đầy đặn, ngồn ngộn sức
sống phồn thực với những cặp tay múa uyển chuyển. Các sinh hoạt tâm linh phồn
thực của người Chàm cho dù ít nhiều bị phủ các lớp lễ nghi, tôn giáo khác nhưng
sự ca ngợi vẻ đẹp cơ thể của phụ nữ vẫn được nhấn mạnh.
Đối với các dân tộc ở Tây Nguyên thì việc biểu thị phồn thực qua các tác phẩm
tượng nhà mồ là sự cầu mong cho con người đã khuất có được cuộc sống ở thế giới
âm như cuộc sống ở trên trần. Từ đó nảy nở các biểu tượng phồn thực dành cho
người chết với những tác phẩm điêu khắc thể hiện nam nữ khỏa thân có bộ phận
sinh dục phóng đại hoặc là tượng nam nữ giao hoan được đặt ở nhà mồ khi làm lễ
bỏ mả và tạo nên những nét riêng độc đáo trong văn hóa và mỹ thuật ở các dân tộc
cao nguyên. Pho tượng nam nữ giao hoan với sinh thực khí nam nữ được biểu tả
trực diện, phóng đại một cách hồn nhiên, dữ dội và đầy khát vọng sinh tồn hoang
dại. Ngoài ra còn có nhiều cột tả cặp vú phụ nữ, thường được làm ở đầu cầu thang
ta vẫn thấy thanh nhã, dí dỏm và cả thái độ phê phán chế độ đa thê. Đây là điều
khác biệt so với sự biểu thị tính phồn thực của các giai đoạn trước.
Vào thế kỷ XVI, mỹ thuật thời Mạc tiếp nhận được nhiều thành tựu của quá khứ,
thực sự mở ra giai đoạn mới, mang đậm chất dân gian, giàu phẩm chất hiện thực,
vì vậy nó cũng tạo ra những cơ hội cho ý niệm phồn thực dân gian phát triển. Một
nhà nghiên cứu mỹ thuật Nhật Bản là Takumi Hashegawa trong một bài viết có nói
đến những tranh trên đồ gốm Việt Nam, ông nhắc đến các hình vẽ nam nữ giao
hoan trên loại gốm men lam thế kỷ XVI-XVII. Tuy nhiên suốt một thời gian dài ở
Việt Nam trong các sưu tập gốm của nhà nước và các Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng
Lịch sử và sưu tập tư nhân đều không tìm thấy hình vẽ như vậy. Mãi đến gần đây
vào năm 2002 tại Cù Lao Chàm (Quảng Nam) chúng ta mới tìm thấy một sản
phẩm gốm như vậy. Trên website của Bộ GD & ĐT: www.diendan.edu.net, có bài
Sex ở Việt Nam thời Hồ -Mạc của Hồ Trung Tú , bài viết nói rõ về chiếc đĩa có
hình vẽ nam nữ giao hoan này được tìm thấy trong lòng một con tàu đắm chỉ chở
toàn hàng gốm sứ Chu Đậu, có thể xác định bước đầu chiếc đĩa đã được chế tạo
vào khoảng thế kỷ XVI-XVII
“Nét vẽ vụng về, hình người không cân xứng, trong khi đó bụi tre bên cạnh thì rất
đẹp cho thấy vẽ người không phải là sở trường của người thợ này. Tất cả như một
lần vẽ nghịch, vẽ đùa của một thợ nào đó. Thế nhưng cái tư thế làm tình không cổ
điển của hai người cũng như khuôn mặt thú ba dòm vào gợi cho người xem một
cảm giác về một câu chuyện có thật nào đó, đã xảy ra đâu đó trong làng hay trong
lò gốm, người ta bàn tán râm ran mà thành ra chuyện. Có thể nói đây là hình tượng
làm tình thú hai của người Việt kể từ sau các đôi người nằm chồng lên nhau trên
nắp thạp đồng Ngọc Lũ. Khoảng cách thời gian giữa hai hình tượng là xấp xỉ 2000
năm. Thế nhưng, nếu trên nắp thạp đồng Ngọc Lũ dễ tạo nên cảm thông bởi đó là
thời của các nền văn minh cổ đại, thời của các văn hóa, tôn giáo phồn thực, các
chuẩn mực đạo đức xã hội cũng chưa nhiều để có thể xem hành động giao cấu là
tội lỗi thì chiếc đĩa Chu Đậu này gây cho ta cảm giác về một điều gì đó vượt ra
ngoài lễ giáo.” [8. 01]
Sự biểu hiện phồn thực trong mỗi tác phẩm mỹ thuật đều thống nhất ở tinh thần