Lời nói đầu
Đất nớc ta, ngay sau khi giành đợc độc lập, đã bớc vào công cuộc xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Nhng cho đến trớc thời kỳ đổi mới, dù có đạt đợc
một số thành tựu nhất định, song nền kinh tế nớc ta nói chúng cha huy động
đợc mọi tiềm năng để phát triển sản xuất nh những tiềm năng về vốn, kỹ
thuật, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, trình độ quản lý... Nguyên
nhân thì có nhiều, trong đó có nguyên nhân liên quan đến vấn đề sử dụng các
thành phần kinh tế. Chúng ta lúc đầu cho rằng, sở hữu công cọng các t liệu
sản xuất là điều kiện tiên quyết để tranh sự bóc lột ngời lao động, để xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhng thực tế đã cho thấy không phải nh
vậy. Việc xoá bỏ các thành phần kinh tế nh thành phần kinh tế cá thể, biểu
chủ... đã khiến cho nớc ta có một nền kinh tế trì trệ, lạc hậu. Trong nhiều
năm trở lại đây, nhận thấy thiếu sót này, Đảng Nhà nớc đã khuyến khích sự
phát triển của các thành phần kinh tế và nớc ta đã bắt đầu có những khởi sắc
rõ rệt. Vấn đề đặt ra là sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta có phải là tất yếu khách quan không? N-
ớc ta có những thành phần kinh tế nào, đặc điểm, thực trạng của chúng rasao?
Nguyên nhân của thực trạng đó? Phơng hớng sử dụng các thành phần kinh tế
này trong thời gian tới?...
Việc trả lời những câu hỏi này có ảnh hởng trực tiếp đến sự nghiệp đổi
mới ở nớc ta. Chính vì vậy, tác giả của bài tiểu luận này đã chọn nó làm đề tài
nghiên cứu cho mình. Hy vọng nó sẽ giúp các bạn hiểu hơn về thực trạng và
tơng lai phát triển của "Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nớc ta".
1
Chơng I
Cơ sở lý luận - tính tất yếu khách quan của
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
1.1. Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ ở nớc ta.
1.1.1. Một số khái niệm.
Thành phần kinh tế bao gồm những đơn vị kinh tế mà đợc đặc trng bởi
nhiều thành phần.
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế này của cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần trong thời kì quá độ ở nớc ta. Trớc hết, bắt nguồn từ quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất. Phải có sự phù hợp đó thì sản xuất mới phát triển đợc. Nừu nh
trong nền kinh tế, lực lợng sản xuất phát triển với nhiều tính chất và trình độ
khác nhau, tức là tồn tại nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất và
do đó, tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Trong đó luôn có những
quan hệ sở hữu, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế của
một nớc.
ở nớc ta, khi bớc vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, điểm xuất
phát về lực lợng sản xuất, về phân công lao động xã hội, về năng suất lao
động và trình độ phát triển còn thấp và không đều giữa các xí nghiệp, các
ngành, các vùng... trong nền kinh tế, công cụ lao động còn tồn tại nhiều trình
độ khác nhau, có cả thủ công thô sơ, máy móc, cơ khí, tự động hoá; n lao
động có ngời không lành nghề, cha qua đào tạo, có ngời lành nghề, đợc đào
tạo một cách có hệ thống... Do đó, tất yếu tồn tại nhiều cách thức kết hợp t
3
liệu sản xuất với sức lao động, nhiều qui mô trình độ sản xuất khác nhau,
nhiều quan hệ sản xuất khác nhau và nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Lịch sử đã cho thấy, hầu nh không nớc nào có một nền kinh tế thuần
nhất, tức chỉ tồn tại duy nhật một thành phần kinh tế. Về mặt lý luận, cả Mác
và lênin đều cho rằng: không có chủ nghĩa t bản thuần tuý và không có chủ
nghĩa t bản độc quyền thuần tuý, mà ở đó chỉ có duy nhất một quan hệ sản
xuất t bản chủ nghĩa, một thành phần kinh tế t bản t nhân. Cho đến nay, nhận
định này vẫn còn giữ nguyên giá trị, bên cạnh thành phần kinh tế t bản t nhân
chiếm địa vị thống trị, còn tồn tại và phát triển các thành phần kinh tế khác
nh: kinh tế t bản Nhà nớc, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ... Và lênin cũng đã
chỉ ra đặc điểm kinh tế mang tính phổ biến trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, mặc dù ở mỗi nớc, mỗi thời kỳ
thành phần kinh tế đã góp phần phát huy tốt hơn mọi tiềm năng của đất nớc
để phát triển kinh tế.
Nh vậy, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nớc
ta là một tất yếu khách quan. Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã chỉ ra: "Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
xã hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế quốc doanh, với sự điều tiết và quản lý của Nhà nớc là đờng
lối chiến lợc lâu dài của nớc ta"
5
Chơng II
Các thành phần kinh tế và vấn đề
sử dụng ở nớc ta
1.1. Các thành phần kinh tế ở nớc ta
1.1.1. Thành phần kinh tế Nhà nớc
Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức sở hữu Nhà nớc về t liệu sản
xuất. ở nớc ta, kinh tế Nhà nớc là thành phần kinh tế cơ bản bao gồm các
doanh nghiệp Nhà nớc, các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nớc nh đất đai, ngân
sách tài nguyên thiên nhiên... Phần góp vốn của Nhà nớc vào các doanh
nghiệp cổ phần hay liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác trong và ngoài nớc. Kinh tế Nhà nớc là một thành phần kinh tế
có nhiều bộ phận hợp thành trong đó, doanh nghiệp Nhà nớc là bộ phận nòng
cốt. ở nớc ta, kinh tế Nhà nớc đợc hình thành chủ yếu bằng hai con đờng:
quốc hữu hoá những cơ sở kinh tế của chính quyền cũ và một số cơ sở kinh tế
của t bản t nhân, hoặc Nhà nớc đầu t xây dựng mới từ nguồn vốn ngân sách tự
có, vốn vay hoặc nhận viện trợ của nớc ngoài.
Trong nến kinh tế nhiều thành phần, kinh tế Nhà nớc không ngừng lớn
mạnh và đóng vai trò chủ đạo. nó nắm những lĩnh vực then chột trong nền
kinh tế, những ngành, những lĩnh vực có tác động đến toàn bộ các hoạt động
kinh tế - xã hội hoặc có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội, chính trị của đất nớc nh ngành điện, nớc, giao thông, thông
tạo nên một bức tranh ảm đạm của nền kinh tế mà kinh tế quốc doanh giữ vai
trò chủ đạo.
Sau đại hội Đảng lần thứ VI, nớc ta bắt xoá bỏ dần nền kinh tế quan
liêu bao cấp, bớc vào nền kinh tế thị trờng. Nhà nớc chuyển sang chế độ hạch
toán kinh tế và kinh doanh, đề ra nhiều đổi mới và sắp xế. Chỉ trong vài năm
số doanh nghiệp Nhà nớc giảm mạnh, chủ yếi là các cơ sở làm ăn thua lỗ,
7
không đứng vững đợc trong cạnh tranh. Điều này đã làm giảm gánh nặng
cho ngân sách Nhà nớc, giúp Nhà nớc có thể đầu t hơn nào các lĩnh vực trọng
yếu. Sau một thời gian đầy biến động do việc đổi mới cơ chế quản lý, các
doanh nghiệp Nhà nớc đã dần dần đi vào ổn định và phát triển. Gần đây sau
khi thành phần kinh tế quốc doanh đổi tên thành thành phần kinh tế Nhà nớc
thì mục đích, phơng hớng, những u - khuyết điểm của nó đợc xác định rõ
ràng hơn. Để có thể khắc phục những khó khăn, vớng mắc nh công nghệ còn
lạc hậu, trình độ quản lý kém... và để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình,
thành phần kinh tế Nhà nớc cần thực hiện những biện pháp sau:
- Tiếp tục đổi mới, tổ chức, sắp xếp lại các thành phần, các đơn vị kinh
tế để nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả.
- "Tập trung phát triển kinh tế Nhà nớc trong những ngành, những lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế nh hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, cơ
sở hạ tầng...; các cơ sở, doanh nghiệp trọng yếu, đặc biệt là ccs doanh nghiệp
có liên quan đến an ninh quốc phòng. Chủ yếu là ot với qui mô lớn và vừa".
- Từng cơ sở, đơn vị hoạt động kinh tế cần giải quyết những vấn đề
sau:
+ Đổi mới công nghệ và cách thức tổ chức quản lý, đào tạo, nâng cao
tay nghề, trình độ của công nhân, cán bộ quản lý.
+ Đặt mình trong môi trờng tự do cạnh tranh, hợp tác và bình đẳng với
các thành phần kinh tế khác.
+ Đi vào hoạt động ở những ngành, những lĩnh vực có lãi ít, thu hồi
vốn chậm, nhiều rủi ro mà các thành phần kinh tế khác không đầu t nh cơ sở
Nhà nớc, kinh tế hợp tác cũng là một bộ phận của hình thức kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Để nó có thể hoạt động với hiệu quả cao cần tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản của quá trình hợp tác hoá mà V.I. lênin đã đề ra. Đó là
9