Allopurinol và
febuxostat trong điều trị
gút! (kỳ 3)
Hiệu quả lâm sàng
Trong nghiên cứu giai đoạn II, hiệu quả điều trị của febuxostat với liều dùng
40 mg, 80 mg, và 120 mg /ngày. Febuxosat được đánh giá trên 153 bệnh
nhân tăng acid uric máu (uric máu > 0,48 mmol / L) và bệnh gút. Độ tuổi từ
23 - 80 tuổi. Các đối tượng uống febuxostat (40 mg, 80 mg, 120 mg) hoặc
giả dược mỗi ngày một lần trong 28 ngày và dự phòng colchicine trong 14
ngày trước và 14 ngày sau khi bắt đầu uống. Kết quả cho thấy số bệnh nhân
điều trị febuxostat có urat huyết ≤ 0,36 mmol/l nhiều hơn đáng kể so với giả
dược tại mỗi lần kiểm tra (P <0.001 cho mỗi so sánh). Urat huyết thanh mục
tiêu ( ≤ 0,36 mmol/l) đạt được cuối nghiên cứu: 0% bệnh nhân trong nhóm
giả dược; và 56%, 76%; 94% tương ứng với liều dùng 40 mg, 80 mg, và 120
mg febuxostat.
Các đối tượng hoàn thành nghiên cứu này, tiếp tục tham gia cuộc nghiên cứu
mở và thời điểm đầu uống febuxostat 80 mg/ ngày. Giữa tuần thứ 4 và tuần
thứ 24, liều có thể được điều chỉnh febuxostat 40 hoặc 120 mg. Tất cả các
đối tượng nhận điều trị dự phòng cơn gút trong thời gian 4 tuần đầu tiên.
Các cơn gút cấp, chỉ số acid uric huyết, hạt tophi và độ an toàn được giám
sát trong quá trình nghiên cứu. Trong số 116 đối tượng tham gia ban đầu ,
liều được điều chỉnh cho 44 đối tượng (38%). Kết quả: Liều duy trì
febuxostat của 8 đối tượng uống 40 mg, 79 đối tượng 80 mg, và 29 đối
tượng 120 mg. 5 năm sau: 93% (54/58) đối tượng còn lại có ure huyết ≤ 6,0
mg dL / (≤ 0,36 mmol / L); 58 đối tượng (50%) ngưng thuốc trong đó 38 đối
tượng trong năm đầu tiên. Lý do chính để ngưng thuốc là: 22 đối tượng vì lý
do cá nhân (19,0%), 13 đối tượng tác dụng không mong muốn (11,2%), 8
đối tượng bị gút cấp (6,9%), bị mất liên lạc 5 người (4,3%), vi phạm cam kết
trong nghiên cứu này giới hạn 300mg/ngày, đây là điều cần chú ý vì mức độ
an toàn cần nghiên cứu ở liều lớn nhất. Allopurinol 600 mg/ngày có hiệu quả
hơn và liều tối đa 800 mg/ngày (hoặc 900 mg/ngày ở một số quốc gia).
Trong thử nghiệm APEX, 1.072 bệnh nhân bị bệnh gút, bao gồm những
người có chức năng thận bị suy giảm, và với nồng độ ≥ 0,48 mmol/l. Chọn
ngẫu nhiên điều trị febuxostat (80 mg hoặc 120 mg hoặc 240 mg)
so với allopurinol (300 mg hoặc 100 mg) mỗi ngày một lần trong 28 tuần và
so sánh kết quả với giả dược. Kết quả: Các đối tượng có urat huyết thanh
<0,36 mmol / L là cao hơn so với allopurinol (22%) và giả dược tại thời
điểm cuối chính (ít nhất 3 tháng). Phần trăm bệnh nhân suy thận được điều
trị với 80 mg febuxostat (4/9 = 44%), 120 mg (5/11 = 45%), và 240 mg (3/5
=60% ) đạt điểm kết thúc cao hơn điều trị bằng 100 mg allopurinol (0 / 10=
0%). Tác dụng không mong muốn xảy ra tương tự ở tất cả các nhóm, mặc dù
tiêu chảy và chóng mặt thường gặp hơn ở nhóm 240 mg febuxostat. Lý do
chính ngưng sử dụng thuốc tương tự giữa các nhóm trừ cơn gút cấp xảy ra
thường xuyên hơn febuxostat so với allopurinol. Schumacher và cộng sự đưa
ra kết luận: Đối với bệnh nhân tăng acid uric máu và bệnh gút kèm theo suy
giảm chức năng thận, tất cả các liều dùng febuxostat đều có hiệu quả điều trị
hơn so với allopurinol hoặc giả dược.
Các đối tượng đã hoàn thành thử nghiệm lâm sàng FACT hoặc APEX được
mời ghi danh vào một nghiên cứu mở rộng giảm urat huyết (ULT) với liều
hàng ngày cố định febuxostat (80 mg hoặc mg 120) hoặc allopurinol
(EXCEL). Các đối tượng chủ yếu là nam giới, và da trắng, và trong độ tuổi
45 đến 65 tuổi. ULT đã ký kết lại trong các tháng 1-6, nồng độ urat máu đạt
3,0-6,0 mg/dL (0,18-0,36 mmol / L). Cơn gút cấp, hạt tophi, độ an toàn và
urat huyết được kiểm soát trong 40 tháng điều trị. Sau khoảng 1 tháng điều
trị ban đầu, >80% đối tượng dùng febuxostat đạt urat huyết < 6,0 mg / dL (<
0,36 mmol / L) trong khi chỉ 46% đối tượng uống allopurinol. Đối tượng
ngẫu nhiên ban đầu dùng allopurinol yêu cầu ký kết lại cho ULT để đạt được
urat huyêt < 6,0 mg / dL nhiều hơn so với các đối tượng uống febuxostat.
cáo trong đó có 3 người điều trị allopurinol và 3 người febuxostat 80
mg/ngày. 5 người chết trong quá trình nghiên cứu, 1 trong nhóm febuxostat
và 3 trong nhóm allopurinol. CONFIRMS cũng đưa thêm bằng chứng thử
nghiệm FACT và APEX hỗ trợ phác đồ điều trị giảm urat máu cho bệnh
nhân huyết >10 mg / dL hoặc xuất hiện hạt tophi bằng liều thử nghiệm
febuxostat. Hiệu quả điều trị và khả năng dung nạp của febuxostat trong các
thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được kiểm soát và các nghiên cứu được
theo dõi tổng kết trong bảng 3 và bảng 4.
Khả năng dung nạp Febuxostat và mức độ an toàn
Xét về mức độ an toàn, cho đến nay, kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng chỉ
ra rằng febuxostat được dung nạp tốt và tương đối an toàn so sánh với giả
dược và allopurinol (Bảng 3 và 4). Các tác dụng phụ thường gặp là suy giảm
chức năng gan (3,5%), tiêu chảy (2,7%), nhức đầu (1,8%), buồn nôn (1,7%),
và phát ban (1,5%). Chức năng gan bất thường liên quan đến colchicin. Tiêu
chảy, buồn nôn, và nôn ói thường gặp hơn ở những bệnh nhân dùng đồng
thời colchicine. Một số phát ban nghiêm trọng do sử dụng febuxostat đã
được báo cáo trong nghiên cứu APEX. Vì allopurinol có thể gây ra dị ứng
nghiêm trọng (hội chứng Stevens-Johnson), tuy hiếm gặp nhưng cần phải hết
sức thận trọng.
Cũng có một số lo ngại về mức độ an toàn của febuxostat. Trong nhóm thử
nghiệm FACT làm gia tăng nghi ngờ febuxostat ảnh hưởng tim mạch, tuy
nhiên trong báo cáo lâm sàng tháng 7/2006 về thử nghiệm lâm sàng giai
đoạn III, kết quả không lặp lại như trên. Do đó thuốc đưa ra thị trường cần
phải theo dõi nghiêm ngặt.
Lợi ích điều trị febuxostat đối với người cao tuổi
Dựa trên dữ liệu hiện có và ý kiến chuyên gia, điều trị bằng febuxostat cần
được cân nhắc chỉ định cho bệnh nhân gút và tăng acid uric liên quan trong
một số trường hợp:
+Không dung nạp allopurinol do dị ứng hoặc rối loạn tiêu hóa hoặc thay đổi
ngày hoặc benzbromarone 100 mg / ngày. Febuxostat giảm kích thước hạt
tophi hoặc giảm cơn gút cấp.
Khởi phát bệnh gút ở người cao tuổi có nhiều điểm khác biệt trên lâm sàng
so với nam giới tuổi trung niên, do đó cần phải xem xét cẩn thận. Khi điều
trị dự phòng cho người cao tuổi, hiệu quả điều trị được đánh giá cao hơn rủi
ro. Điều trị giảm uric máu thành công phụ thuộc rất nhiều vào phác đồ điều
trị của các thuốc hiện có. Điều này bao gồm dự phòng cơn gút cấp trong quá
trình điều trị gút, lựa chọn thuốc phù hợp tình trạng bệnh nhân và mức liều
để đạt urat mục tiêu. Febuxostat là sự lựa chọn mới điều trị giảm acid uric
máu. Điều này đóng vai trò quan trọng trong điều trị lâm sàng, đặc biệt cho
bệnh nhân gút chưa thỏa mãn với liệu pháp điều trị hiện tại.
Tài liệu tham khảo: Management of hyperuricemia in gout: focus on
febuxostat (Mattheus K Reinders Tim L Th A Jansen).