Điều tra dịch tễ học tình hình Viêm gan B và Viêm gan C của người dân tại hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang - Pdf 12

18 Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) cao trên thế giới. Theo Bộ Y tế năm 2004,
có khoảng 12 - 16 triệu người nhiễm HBV, số người nhiễm HBV mạn tính khoảng 10 triệu người. Nhằm
xác đònh tỷ lệ hiện mắc HBV và HCV trong cộng đồng, thực trạng dự phòng viêm gan và mối liên
quan giữa một số hành vi cá nhân và can thiệp y tế với tình trạng mắc HBV và HCV, Hội Y tế công
cộng Việt Nam cùng với Bệnh viện K đã thiết kế và triển khai một nghiên cứu cắt ngang từ tháng 8
đến tháng 12 năm 2008 trên quần thể từ 15-60 tuổi thông qua chọn mẫu xác suất nhiều giai đoạn ở
hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang thuộc hai tỉnh/thành phố Hà Nội và Bắc Giang. Kết quả cho thấy
tỷ lệ nhiễm HBV và HCV chung của Sóc Sơn và Lạng Giang lần lượt là 8,0 % và 2,7%. Tỷ lệ nhiễm
HBV và HCV ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang, lần lượt là 9,5% so với 6,5% đối với HBV và 4,5%
so với 0,5% đối với HCV. Tỷ lệ đối tượng nhiễm cả hai virut viêm gan B và C là 0,3%. Thực trạng tiêm
phòng VGB tại hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang chưa cao (10%). Ba hành vi nguy cơ phổ biến nhất
được coi là liên quan đến tình trạng nhiễm virut viêm gan B (VGB) và viêm gan C (VGC) là dùng chung
bơm kim tiêm (BKT), dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng. Tại Lạng Giang,
phân tích đơn biến cho thấy, những người nhận máu có khả năng có HBsAg cao gấp 6,3 lần người
không nhận máu từ người khác (OR=6,3). Những người đã từng được phẫu thuật/mổ xẻ có khả năng
mang anti HCV cao gấp 13,4 lần so với người chưa từng được phẫu thuật/mổ xẻ.
Từ khóa: viêm gan B, viêm gan C, dòch tễ học viêm gan, đường lây truyền viêm gan, nhóm nguy cơ
cao, yếu tố nguy cơ lây nhiễm viêm gan
Epidemiological investigation of HBV and
HCV infection among people in Soc Son and
Lang Giang districts
Tran Huu Bich(*), Tran Vu (**), Nguyen Kim Ngan (**)
Viet Nam is among the countries with high prevalence of Hepatitis B virus (HBV). According to data
announced in 2004 by Ministry of Health, there were approximately 12 -16 million HBV infected
people and nearly 10 million people who have to live with the chronic infection. To identify the
Điều tra dòch tễ học tình hình nhiễm
viêm gan B và viêm gan C của người dân
tại hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang
Trần Hữu Bích(*),Trần Vũ (**),Nguyễn Kim Ngân (**)

gan tới sức khỏe con người và đặc biệt tỷ lệ nhiễm
viêm gan cao tại Việt Nam trong khi các nghiên cứu
dòch tễ học về vấn đề này còn khá hạn hẹp, Hội Ytế
Công cộng Việt Nam dưới sự hỗ trợ về kinh phí,
nguồn lực của Bệnh viện K và trường Đại học Y tế
Công cộng, đã thực hiện nghiên cứu dòch tễ học về
tình hình nhiễm VGB và VGC của người dân tại hai
huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và Lạng Giang (Bắc
prevalence of HBV and HCV in the community, the prevention status and related issues raised
between the risk factors and two viral infection types, the Vietnam Public Health Association in close
collaboration with Vietnam National Cancer Hospital have conducted a cross - sectional study in
Soc Son district (Ha Noi suburban) and Lang Giang district (Bac Giang province) from August to
December, 2008. The study employed a multistage random sampling of 15 - 60 years old residents in
those two districts. The results reveal that the overall 15-60 year-old HBV and HCV infection
prevalence in two mentioned districts was 8 % and 2.7 %, respectively. The proportion of HBV
infection in Soc Son was evidently higher than that in Lang Giang (9.5% compared to 6.5%) while
the HCV prevalence in Soc Son was 4.5% and 0.5% in Lang Giang. The proportion of people living
with both HBV and HCV infection was 0.3%. Immunization rate with VGB in those two districts was
pretty low - 10%. Three main risk behaviors found to be associated with HBV and HCV infection were
needle sharing, acupuncture needle sharing and sharing tooth brushes. According to univariate
analysis, in Lang Giang, those who were blood receivers were 6.3 times more likely to have HbsAg
than those who did not receive blood (OR=6.3). Similarly, those who have ever been involved in
surgery were 13.4 times more likely to have anti-HCV than those who have not.
Keywords: Hepatitis B, Hepatitis C, Hepatitis epidemiology, transmission of hepatitis, high risk
groups, risk factors for hepatitis transmission.
Tác giả
(*) TS. Trần Hữu Bích, giảng viên khoa Dòch tễ học - Trường Đại học Y tế Công cộng, 138 Giảng Võ,
Ba Đình, Hà Nội. Email:
(**) Hội Y tế công cộng Việt Nam, 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội. Email:
- CN. Trần Vũ, Cán bộ chương trình

tuổi từ 15-60 tuổi, tự nguyện tham gia nghiên cứu
và có khả năng giao tiếp thông thường. Phương
pháp chọn mẫu nghiên cứu là chọn mẫu ngẫu nhiên
nhiều giai đoạn. Đây là việc tiến hành chọn mẫu
tuần tự theo từng cấp, mỗi cấp sẽ chọn và xây dựng
một cỡ mẫu riêng. Trong nghiên cứu này, mẫu được
chọn theo từng cấp từ cấp huyện đến cấp xã, cấp tổ
dân phố và cấp hộ gia đình. Phương pháp chọn mẫu
này được sử dụng nhằm đáp ứng cho tính vó mô của
nghiên cứu, là cuộc điều tra trên phạm vi rộng tại
hai huyện lớn. Việc sử dụng phương pháp chọn mẫu
này còn có nhiều thuận lợi khi xây dựng dàn chọn
mẫu, giảm chi phí thu thập dữ liệu do các đơn vò
điều tra tập trung ở bậc chọn mẫu.
Giai đoạn 1 lập danh sách các xã thò trấn thuộc
hai huyện và chọn ngẫu nhiên 1 xã, 1 thò trấn trong
hai huyện. Giai đoạn hai chọn ngẫu nhiên đơn giản
để lấy ra 2 tuyến tổ dân phố/cụm dân cư/thôn trong
mỗi thò trấn/xã. Giai đoạn 3 chọn ngẫu nhiên hệ
thống với bước nhảy k=2 trên 100 hộ gia đình trong
danh sách tất cả các hộ gia đình của 2 tuyến tổ dân
phố/cụm dân cư/thôn. Cuối cùng, chọn ngẫu nhiên
một đối tượng trong hộ gia đình từ 15 đến 60 tuổi.
Việc chọn ngẫu nhiên này sử dụng phương pháp
chọn dựa vào bảng Kish. Bảng Kish là bảng bao
gồm số thứ tự của hộ gia đình và số thành viên của
hộ. Dựa trên chữ số cuối cùng của mã hộ gia đình
và tổng số thành viên phù hợp (trong độ tuổi từ 15
- 60) của hộ gia đình để tìm ra số thứ tự của người
được phỏng vấn.

đình và đối tượng nghiên cứu. Trong đó, thông tin
chung về hộ gia đình được mô tả bằng các biến nhân
khẩu học (tuổi, giới, nghề nghiệp,tình trạng hôn
nhân, trình độ học vấn), số thành viên trong độ tuổi
15 - 60 và tiền sử xét nghiệm VGB, VGC. Biến
n =
Z
2
1
-
αα//22
p(1-p)
d
2
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14) 21
HBsAg là biến nhò phân, mô tả việc có hay không
phát hiện ra HBsAg trong huyết thanh của một
người chứng tỏ người đó có HBV và có khả năng
truyền bệnh cho người khác. Tương tự với biến Anti
HCV được đònh nghóa là khi xét nghiệm máu xác
đònh có kháng thể HCV trong huyết thanh. Các biến
về hành vi nguy cơ liên quan đến lây nhiễm viêm
gan B và C bao gồm: từng tiêm thuốc/truyền dòch,
nhận máu, hiến máu, dùng chung bơm kim tiêm, sử
dụng bơm kim tiêm. Các biến hành vi nguy cơ đều
có các lựa chọn từ không bao giờ, "1 lần", "2-3 lần",
"nhiều hơn 3 lần" (các lựa chọn được nhóm lại thành
lựa chọn "Đã từng" khi phân tích các câu hỏi về
hành vi nguy cơ).

công cộng được giao nhập số liệu bằng phần mềm
Epidata.
Phần mềm Stata 9.0 được sử dụng trong phân
tích số liệu bao gồm các phân tích mô tả được thực
hiện nhằm mô tả các đặc điểm nhân khẩu học và
tình hình mắc HBV, HCV cũng như sự phân bố của
các yếu tố nguy cơ tiềm tàng với tình trạng bệnh của
người dân sống tại đòa bàn nghiên cứu. Kiểm đònh
khi bình phương, hồi quy logistic được thực hiện
nhằm kiểm đònh một số mối liên quan giữa các hành
vi nguy cơ tiêm thuốc truyền dòch, dùng chung bơm
kim tiêm, truyền máu, phẫu thuật mổ xẻ với nhiễm
HBV và HCV. Mức ý nghóa 0,05 được lựa chọn cho
kiểm đònh thống kê. Tỷ suất chênh OR bao gồm OR
thô và OR được hiệu chỉnh với một số yếu tố nhiễu
tiềm tàng (tuổi, giới, trình độ học vấn) được lựa
chọn là đơn vò đo lường sự kết hợp giữa hai yếu tố.
2.3. Quy trình xét nghiệm
- Sau khi kết thúc phỏng vấn, ĐTV đưa cho đối
tượng một phiếu hẹn xét nghiệm. Chỉ những người
có phiếu hẹn mới được tiến hành xét nghiệm. Đối
tượng được thuyết phục để đến xét nghiệm sớm
trong vòng 24 giờ sau phỏng vấn.
- Nhóm nghiên cứu đề nghò chính quyền đòa
phương bố trí một đòa điểm lấy máu xét nghiệm
chung, thường là trạm y tế xã. Một ĐTV trực tại đòa
điểm xét nghiệm. Khi đối tượng mang phiếu hẹn
xét nghiệm đến, ĐTV này kiểm chứng đúng đối
tượng đã được xét nghiệm bằng cách hỏi một số
thông tin trong bộ câu hỏi. Nếu xác đinh đúng, đối

tượng (tại Sóc Sơn (9/215), xã Tiên Dược (7/199),
thò trấn Vôi (8/200) và xã TânThanh (1/200) không
lấy máu xét nghiệm sau khi được phỏng vấn, chiếm
tỷ lệ 4,3%.
3.1. Tình trạng nhiễm HBV và HCV của
người dân trong độ tuổi từ 15 - 60 trên đòa
bàn nghiên cứu.
Khi tìm hiểu sự phân bố tỷ lệ đối tượng có
HBsAg và Anti-HCV theo đòa bàn tại 2 huyện Sóc
Sơn và Lạng Giang, kết quả so sánh cho thấy có sự
chênh lệch giữa hai huyện này.
Kết quả biểu đồ 1 cho thấy, khi so sánh tỷ lệ
hiện nhiễm giữa 2 đòa bàn điều tra, tỷ lệ anti-HCV
ở Sóc Sơn cao hơn ở Lạng Giang (4,9% so với 0,
5%). Sự chênh lệch này có ý nghóa thống kê với p
< 0,001. Tuy nhiên, tỷ lệ HBsAg ở Sóc Sơn (9,5%)
cao hơn so với Lạng Giang (6,4%) nhưng sự khác
biệt này không có ý nghóa thống kê với p = 0,105.
Kết quả biểu đồ 2 cho thấy, trong quần thể
nghiên cứu, tỷ lệ các đối tượng dương tính với cả 2
loại xét nghiệm không cao và chỉ chiếm 0,3%. Có
2/62 người nhiễm HBV có kết quả dương tính với
xét nghiệm tìm anti HCV, chiếm tỷ lệ 3,2% trong
số những người nhiễm HBV.
Thực trạng tiêm phòng vi-rút VGB tại hai huyện
Sóc Sơn và Lạng Giang cho thấy việc dự phòng
VGB tại hai huyện này chưa cao. Tiêm vacxin
phòng nhiễm VGB thường được chỉ đònh cho những
người chưa nhiễm HBV. Đây được coi là biện pháp
thực hành có hiệu quả trong phòng chống nhiễm

7,0%
8,0%
9,0%
10,0%
HBsAg

Anti- HCV

Loại nhiễm
Sóc sơn
Lạng Giang
Tỉ lệ phân bố theo
đòa điểm nghiên cứuBiểu đồ 1. Tỷ lệ đối tượng có HBsAg và Anti-HCV
theo đòa bàn nghiên cứu
Biểu đồ 2. Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có virus
viêm gan B và anti HCV theo loại nhiễm
Bảng 1. Tình hình tiêm phòng HBV tại hai huyện
Sóc Sơn và Lạng Giang
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14) 23
khối sau Đại Học là 16,7%. Trong khi đó, tỷ lệ này
ở nhóm tiểu học là 7,1%, nhóm THCS là 6,7% và
nhóm PTTH là 11,7%. Tổng số người mù chữ trong
quần thể nghiên cứu nhỏ (7 người) tỷ lệ tiêm phòng
HBV trong nhóm này là 12, 5%. Tỷ lệ tiêm phòng
HBV trong các nhóm trình độ học vấn có sự chênh
lệch, tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý nghóa về

hành phổ biến liên quan đến lây nhiễm HBV và
HCV. Kết quả biểu đồ 5 cho thấy tỷ lệ này ở Lạng
Giang cao hơn so với ở Sóc Sơn (lần lượt là 84,4%
và 65,3%). Trên cả quần thể nghiên cứu, 73,7% đối
tượng được phỏng vấn đã tiêm thuốc/truyền dòch ít
nhất một lần.
Việc nhận máu từ người khác không phổ biến
trong nghiên cứu này, số người nhận máu truyền chỉ
chiếm 1,97% trong tổng số người được hỏi.
Ba yếu tố nguy cơ liên quan đến lây nhiễm
HBV và HCV khác cũng được y văn chỉ ra là dùng
chung BKT, dùng chung kim châm cứu và dùng
chung bàn chải đánh răng.
Biểu đồ 3. Phân bố tỷ lệ hiện mắc anti HCV theo
nhóm tuổi và giới tính
Biểu đồ 4. Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có HBsAg
theo nhóm tuổi và giới tính
Biểu đồ 5. Phân bố tần số tiêm thuốc/truyền dòch
tại hai huyện Sóc Sơn và Lạng Giang.
24 Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Trong tổng số đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ từng
sử dụng chung BKT là 28,4%. Tỷ lệ từng dùng
chung BKT với tần suất nhiều hơn ba lần khá cao,
tương ứng ở Lạng Giang là 30,1% và Sóc Sơn là
8,4%. Sự chênh lệch này cho thấy việc sử dụng
chung BKT ở Lạng Giang là phổ biến hơn ở Sóc
Sơn. Những đối tượng nghiên cứu ở Lạng Giang chủ
yếu đều đã sử dụng chung BKT trên 3 lần.
Có 199 đối tượng đã từng châm cứu. Trong đó,

3.4.1. Mối liên quan giữa một số hành vi nguy cơ
với tình trạng có HbsAg và anti HCV tại Sóc Sơn
Khi phân tích thô, những người được phân vào
nhóm nhận máu là những người từng nhận máu từ 1
lần trở lên. Mặc dù kết quả cho thấy sự khác biệt về
việc mang anti HCV ở hai nhóm nhận và không
nhận máu; những người đã từng nhận máu có khả
năng mang anti HCV cao gấp 2,5 lần so với những
người không nhận máu. Tuy nhiên sự kết hợp này
không có ý nghóa thống kê (p = 0,39 > 0,05). Mặc
dù vậy, với khoảng tin cậy 95% rộng (0,3-21,1) có
xu hướng nghiêng về sựï kết hợp dương tính cho ta
gợi ý về sự thiếu hụt mẫu nghiên cứu trong việc đảm
bảo sự kết hợp có ý nghóa thống kê giữa việc nhận
máu với lây nhiễm HCV. Nhận máu được cho là yếu
tố có liên quan đến mang HBsAg. Tuy nhiên, trong
Bảng 2. Phân bố tần suất các hành vi nguy cơ theo
đòa bàn nghiên cứu
Bảng 3. Mối liên quan giữa việc nhận máu với việc
mang anti HCV tại Sóc Sơn
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14) 25
nghiên cứu này, tỉ lệ có mang HBsAg trong nhóm
nhận máu (9,1%), không thấp hơn nhiều so với
nhóm chưa từng nhận máu (10,9%). Tuy nhiên, sự
kết hợp giữa hai yếu tố này cũng không có ý nghóa
thống kê.
Phân tích đo lường độ mạnh của sự kết hợp
tương tự được tiến hành cho thấy không có mối liên
quan giữa việc dùng chung BKT, phẫu thuật mổ xẻ

tình trạng mang HBsAg cho thấy không có mối liên
quan giữa các yếu tố này với tình trạng mang
HBsAg.
Tương tự, không có mối liên quan giữa nhận máu
từ người khác, dùng chung kim châm cứu với tình
trạng mang HCV.
- Nhóm dưới 24 tuổi là nhóm tham chiếu (so với
nhóm trên 24 tuổi)
- Nhóm nam là nhóm tham chiếu (so với nhóm nữ)
- Nhóm trình độ học vấn dưới PTTH trở lên là nhóm
tham chiếu (so với nhóm từ PTTH trở lên)
Bảng 6 thể hiện mối liên quan giữa các hành vi
nguy cơ với một số yếu tố nhiễu tiềm tàng. Hầu hết
các yếu tố nhiễu đều không có mối liên quan với
các biến độc lập, chỉ có biến học vấn có sự kết hợp
với hành vi nhận máu khá mạnh, với OR là 2.
Để kiểm soát những yếu tố nhiễu tiềm tàng tuổi,
giới và trình độ học vấn tác động tới mối liên quan
giữa tình trạng mang HbsAg với yếu tố nhận truyền
máu, mô hình hồi quy đã được sử dụng. Bảng 7 cho
thấy mối liên quan giữa việc từng nhận máu với
mang HBsAg không còn mang ý nghóa thống kê (p
Bảng 4. Mối liên quan giữa việc từng được phẫu
thuật/mổ xẻ với anti HCV (+) tại Lạng
Giang
HBsAg
Dương tính
Âm tính
Tổng
Nhận máu

nhiễm HBsAg tại Lạng Giang
Bảng 6. Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân
khẩu học của đối tượng điều tra với 3
hành vi nguy cơ tại đòa bàn Lạng Giang
26 Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
= 0,112), cho dù sự kết hợp vẫn khá mạnh (OR =
4,1) khi nó được đưa vào mô hình hồi qui logistic.
Mặt khác, khoảng tin cậy rộng (CI 95%: 0,7-23,2)
có xu hướng về phía kết hợp dương tính giữa yếu tố
nguy cơ tiềm tàng với bệnh một lần nữa gợi ý việc
thiếu mẫu nghiên cứu trong phân tích đa biến.
4. Bàn luận
Tỷ lệ đối tượng có HBsAg trong nghiên cứu này
là 8%, tỷ lệ ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang.
Kết quả này thấp hơn so với hầu hết các nghiên cứu
trên cộng đồng dân cư trước đây như theo nghiên
cứu của Lê Vũ Anh [3] là 11,35%, ở An Giang theo
nghiên cứu của Châu Hữu Hầu [4] là 11% và ở
Thanh Hóa, theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Vân
và Vũ Hồng Cương [6] là 15,98%. Trong khi đó, tỷ
lệ mang anti-HCV là 2,7%, cao hơn so với kết quả
nghiên cứu của đề tài khoa học công nghệ của Viện
Vệ sinh dòch tễ, Bộ Y tế tại Hà Nội năm 2004
(0.79%) [1]. Theo một nghiên cứu của Hoàng Đăng
Mòch tại Hải Phòng, tỷ lệ nhiễm HCV trong nhóm
người khỏe mạnh khu vực nội thành là 1,69 % [5].
Kết quả này một lần nữa cho thấy tỷ lệ mang
HBsAg và anti HCV rất khác nhau tùy từng vùng
đòa lý, thiết kế nghiên cứu.

phẫu thuật mổ xẻ với tình trạng nhiễm HCV (huyết
thanh dương tính với anti- HCV) được xác đònh với
OR = 13,4. Tuy nhiên khi được kiểm soát với các
yếu tố nhiễu tiềm tàng như tuổi, giới tính và tình
trạng học vấn, độ mạnh của sự kết hợp giữa nhận
tryền máu và mang HbsAg là 4,1. Điều này có
nghóa là những người nhận truyền máu có khả năng
mang HbsAg(+) cao gấp 4 lần so với những người
không truyền máu. Tuy nhiên mối quan hệ này
không có ý nghóa thông kê với p= 0,11. Mối quan
hệ có xu hướng tưong tự cũng được thể hiện trong
nghiên cứu đo lường mối liên quan giữa truyền máu
với tình trạng nhiễm HBV ở những người khoẻ
mạnh. Tuy nhiên sự kết hợp thu được trong nghiên
cứu này nhỏ hơn và giá trò p lớn hơn so với nghiên
cứu của chúng tôi (OR thô = 2.11, CI 95%: 0,67-
6,48 và OR điều chỉnh = 1,26; CI 95%:0,36-4,44)
[34]. Mối liên quan giữa phơi nhiễm với máu, phẫu
thuật và tình trạng viêm gan do vius viêm gan C
cũng đã được khẳng đònh trong nghiên cứu về tình
trạng hiện mắc viêm gan C trong quần thể người
khoẻ mạnh tại Myanmar [21]. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, mặc dù sự kết hợp mạnh được xác
đònh giữa tiền sử phẫu thuật và viêm gan C trong
phân tích đơn biến, cỡ mẫu nhỏ đã là một cản trở
cho việc khẳng đònh độ mạnh của sự kết hợp trong
phân tích đa biến.
Nghiên cứu này cung cấp thông tin về tỷ lệ hiện
mắc HBV và HCV trong cộng đồng dân cư, trong
khi hiểu biết về mức độ trầm trọng của vấn đề này

với nguy cơ lây nhiễm HBV và HCV đã đưa ra
những phát hiện quan trọng. Nhưng, chúng ta vẫn
ần thêm nghiên cứu có cỡ mấu lớn hơn và thiết kế
đủ mạnh để khẳng đònh được mối liên quan có tính
chất nguyên nhân kết quả này. Những thông tin này
có thể là gợi ý cho các chương trình can thiệp dự
phòng lây nhiễm HBV và HCV cho cộng đồng.
Nghiên cứu sử dụng test kit để phát hiện kháng
thể kháng HCV chứ không xác đònh trực tiếp sự có
mặt của HCV trong máu. Điều này có thể dẫn đến
một ước lượng thấp hoặc cao của con số nhiễm HCV
trong thực tế. Tuy nhiên, test kit xác đònh anti HCV
lại phù hợp với những nghiên cứu, làm xét nghiệm
sàng lọc cộng đồng do chi phí thấp.
Bên cạnh các thực hành chăm sóc y tế, các hành
vi được cho là có nguy cơ cao dẫn đến lây nhiễm
HBV trong cộng đồng bao gồm xăm trổ, dùng chung
bàn chải đánh răng, dao cạo râu cũng như có quan
hệ tình dục với nhiều người. Trong nghiên cứu này,
hành vi xăm trổ không phổ biến trong cộng đồng
nghiên cứu, hành vi quan hệ tình dục với nhiều
người không phổ biến, xong dự đoán kết quả tìm
được là một ước lượng thấp của con số trong thực tế
do tính xác thực của câu trả lời từ các đối tượng
phỏng vấn không cao vì đây là câu hỏi nhạy cảm.
Một hạn chế nữa của nghiên cứu này là cỡ mẫu
chưa đủ để tìm ra mối liên quan giữa các hành vi
nguy cơ với lây nhiễm HBV và HCV. Các kết quả
phân tích đo lường độ mạnh của sự kết hợp (cả trong
phân tích đơn biến và đa biến) cho thấy có sự kết

đồng nhằm xác đònh nguy cơ dẫn đến xơ gan, ung
thư gan. Nghiên cứu áp dụng các biện pháp can
thiệp lâm sàng phù hợp đối với người được phát
hiện ung thư gan ở giai đoạn sớm nhằm giảm tỷ lệ
ung thư gan cũng như tử vong do ung thư gan.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm giảm
thiểu các nguy cơ cá nhân có thể dẫn đến lây nhiễm
VGB và VGC như dùng chung bơm kim tiêm, kim
châm cứu trong chăm sóc y tế và dùng chung bàn
chải đánh răng.
- Cần có các chiến lược giảm thiểu khả năng
gây nhiễm HBV và HCV từ các hoạt động chăm sóc
y tế như truyền máu, phẫu thuật ngoại khoa.
Đối với y tế cơ sở và chương trình tiêm chủng
mở rộng: “Cần mở rộng phạm vi đối tượng và tích
cực vận động người dân tiêm vắc-xin phòng VGB
cho những đối tượng trẻ nhỏ và người trưởng thành
không nhiễm HBsAg trong cộng đồng”.
Để khẳng đònh vai trò căn nguyên của các yếu
tố truyền máu, phẫu thuật ngoại khoa đối với tình
trạng nhiễm HBV và HCV, cỡ mẫu của nghiên cứu
dòch tễ học phân tích tiếp theo như bệnh chứng,
thuần tập phải lớn hơn nữa để tiếp tục khẳng đònh
tính giá trò đo lường sự kết hợp và mối quan hệ về
mặt thời gian giữa phơi nhiễm và bệnh.
Một khi chương trình sàng lọc viêm gan B và C
được triển khai trong cộng đồng, cấu phần đánh giá
của chương trình cần được thiết kế và triển khai
nhằm khẳng đònh tính hiệu quả của chương trình
sàng lọc.

Graham et al (2007). Epidemiology and transmission of
hepatitis B and C in Kazakhtan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status