Nâng cao chất lượng thẩm định TCDA tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Nam Định - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCDA: Tài chính dự án.
NHTM: Ngân hàng thương mại.
NHNo&PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
Bảng 1: Phân tích độ nhạy của dự án.
Bảng 2: Công tác huy động vốn.
Bảng 3: Cho vay qua các năm.
Bảng 4: Bảng cân đối kế toán.
Bảng 5: Kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm.
Bảng 6: Kế hoạch trả nợ.
Bảng 7: Sản lượng dự kiến qua các năm.
Bảng 8: Tính toán giá thành in trên 1m
2
vải, 1 màu, 1 lượt in.
Bảng 9: Tính toán giá thành in 1 kg nilon, giấy bạc, giấy màu.
Bảng 10: Tính toán giá thành in 10.000 biểu mẫu, tờ quảng cáo B
2
.
Bảng 11: Gía thành lắp ráp 01 bộ máy vi tính.
Bảng 12: Tính toán giá thành cho 1 năm sản xuất.
Bảng 13: Tổng hợp doanh thu qua các năm.
Bảng 14: Kết quả sản xuất kinh doanh.

Chương I: Lý luận chung về chất lượng thẩm định tài chính dự án
của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng về chất lượng thẩm định TCDA tại chi nhánh
NHNo&PTNT tỉnh Nam Định.
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định TCDA
tại chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Nam Định.
Chuyên đề tốt nghiệp là một bài viết khá rõ về tình hình thực trạng về
thẩm định TCDA của chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Nam Định. Bài viết này
giúp cho các nhà quản lý và các đọc giả hiểu thêm về thẩm định tài chính dự án
một cách khách quan nhất. Để hoàn thành được chuyên đề tốt nghiệp Tôi đã
được sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn: THS. Lê Hương Lan, và cùng toàn thể
các cán bộ của phòng tín dụng thuộc chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Nam Định.
Tôi xin cảm ơn mọi người đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Chuyên đề tốt nghiệp “Nâng cao chất lượng thẩm định TCDA tại chi nhánh
NHNo&PTNT tỉnh Nam Định” không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, vậy
mong được sự góp ý của mọi người để Chuyên đề tốt nghiệp được hoàn chỉnh
hơn.
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
(TCDA) CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức

thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi
khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân
hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua
ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng.
Vì vậy công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm
cách áp dụng rộng rãi.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.
a. Hoạt dộng mua bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán)
ngoại tế - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và
hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do
các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao,
đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
b. Nhận tiền gửi.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách
huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi (thanh
toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ
người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và dành được
các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như phần thưởng cho khách
hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
4
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng tạm thời để kinh doanh. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn
ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16%năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích
cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay lãi suất gấp 3 lãi
suất tiết kiệm.
c. Cho vay.
-Cho vay thương mại: ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương
phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải

Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan
trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng vói sự phát triển của công nghệ thông tin,
nhiều thể thức thanh toán được phát triển như ủy nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng
điện, thẻ, L/C…
f. Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều
cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có
kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng
đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý
việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt
tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần
tiền mặt để thanh toán.
g. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ.
Chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy khoản vay của những ngân
hàng lớn. Khi ngân hàng trung ương thành lập, Chính phủ đều tìm cách tham dự, hoặc
trực tiếp can thiệp để có được các khoản tín dụng lớn. Ngày nay, Chính phủ giành quyền
cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách
của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
6
Chuyên đề tốt nghiệp
theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được, hoặc
phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
h. Bảo lãnh.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho
khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát
triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và
trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác …

m. Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn
phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân
hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi,
làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.2. Thẩm định tài chính dự án của NHTM.
1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án và thẩm định TCDA.
Khá niệm thẩm định dự án:
Vấn đề về rủi ro đạo đức và thông tin không cân xứng thường xuyên xảy ra trước,
trong và sau khi dự án đươc hoàn thành. Vì vậy để khẳng định một cách chắc chắn mức
độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự
án, cần phải xem xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn
thảo dự án, hay nói cách khác là cần phải thẩm định dự án. Trên phương diện tài trợ vốn
cho dự án, các Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính – tín dụng cũng đặc
biệt quan tâm đến vấn đề này, qua thẩm định dự án sẽ khẳng định được tính hiệu quả và
tính an toàn của công cuộc đầu tư. Nhờ đó mà các tổ chức tài chính – tín dụng có được
cơ sở vững chắc trong quá trình ra quyết định tài trợ vốn.
Nói tóm lại: Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học
khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đế dự án nhằm
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
8
Chuyên đề tốt nghiệp
khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu
tư. Trong quá trình thẩm định dự án, nhiều khi phải tính toán, phân tích lại dự án.
Khái niệm thẩm định TCDA:
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế khác, các cá nhân. Thẩm định dự án là nội dung quan trọng trong thẩm định dự
án. Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông
tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.

đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư. Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí
vốn làm giảm hiệu quả của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí.
Hiện nay, tổng mức vốn đầu tư cho một dự án được chia thành ba thành phần: là
vốn cố định, vốn lưu động ban đầu cho dự án và vốn đầu tư dự phòng.
Tính toán về vốn cố định:
Vốn cố định bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến việc hình thành tài sản cố
định từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc
xây dựng dự án vào sử dụng, cụ thể:
-Chi phí chuẩn bị: Những chi phí dùng để soạn thảo nghiên cứu lập hồ sơ dự án
đầu tư, chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước. Đối với loại chi phí này cần phải có sự xác
nhận của cơ quan có thẩm quyền và phải lập bằng văn bản cụ thể. Các chi phí này phải
phù hợp với quy định của Bộ tài chính về tiền thu mặt đất, mặt nước để có được khoản
chi hợp lý.
-Gía trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có được sử dụng cho dự án.
-Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xươởn cũng như các kết cấu hạ tầng.
-Chi phí mua máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải.
-Chi phí chuyển giao công nghệ.
-Chi phí đào tạo cán bộ.
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
10
Chuyên đề tốt nghiệp
-Các chi phí khác.
Tính toán vốn lưu động:
Vốn lưu động là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo cho việc dự trữ các tài sản
lưu động nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của dự án. Chỉ có vốn lưu động ban đầu
mới được quyền tính vào vốn đầu tư gồm:
-Vốn sản xuất: Chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, phụ tùng, bao, bì, tiền
lương…
-Vốn lưu thông: Sản phẩm dở dang, tồn kho, thành phẩm tồn kho, hàng hoá bán
chịu, vốn bằng tiền, chi phí tiếp thị…

-Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp( bao gồm cả vốn do các bên tham gia đóng góp).
-Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước.
-Nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
-Nguồn vốn vay hoặc liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài.
-Nguồn vốn huy động trực tiếp thông qua con đường phát hành trái phiếu…
Thẩm định về doanh thu, chi phí và lợi nhuận hàng năm của dự án.
NHTM là nhà tài trợ cho vốn cho dự án đặc biệt quan tâm đến vấn đề về doanh
thu, chi phí và lợi nhuận, trên cơ sở có đầu tư vào dự án hay không. Chính vì vậy, thẩm
định về chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của dự án là việc làm không
thể thiếu trong thẩm định tài chính của dự án.
Trên cơ sở doanh thu và chi phí hàng năm sẽ tính được lợi nhuận ròng hàng năm
của dự án. Lợi nhuận ròng được tính theo công thức sau
Thu nhập Doanh Chi phí Thu nhập
chịu thuế = thu trong - hợp lý + khác trong
trong kỳ kỳ trong kỳ kỳ
Kỳ tính thuế ở đây là năm dương lịch hoặc năm tài chính.
Thuế thu nhập = Thu nhập chịu thuế trong kỳ ×thuế suất thuế thu nhập DN
Lợi nhuận ròng = Thu nhập chịu thuế - thuế thu nhập
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Thẩm định tính chính xác, hợp lý, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là
dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kỹ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh
tế kỹ thuật của ngành đó do Nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chức năng công bố và dựa
trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kỹ thuật – công nghệ, tổ chức để Ngân hàng thẩm
định tính chính xác, hợp lỹ của bảng dự trù tài chính.
-Xem xét tính toán các bảng tài chính.
-Bảng dự trù chi phí sản xuất hàng năm.
-Bảng dự trù doanh thu, lãi lỗ.
-Bảng dự trù cân đôi.

không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra, mà còn tạo ra lợi nhuận, không những thế, lợi
nhuận này còn được xem xét trên cơ sở giá trị thời gian của tiền. Ngược lại, nếu NPV
âm có nghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư.
Tuy nhiên, NPV chỉ mang ý nghĩa về tài chính. Việc tín toán NPV cho các dự án
xã hội, môi trường phức tạp hơn nhiều, phải lượng hoá được các tác động xã hội hay
môi trường lên dòng tiền của dự án. Khi đó, NPV mới phản ánh lợi ích tăng thêm từ việc
thực hiện dự án xã hội đó.
Cách xác định.
( )
0
1
1
CF
k
CF
NPV
n
t
t
t

+
=

=
Trong đó:
CF
0
: Vồn đầu tư bỏ ra ban đầu, giả định vốn đầu tư được bỏ ra một lần, vào đầu năm thứ
nhất của dự án.

t
t
t
CF
k
CF
NPV
1
0
0
1
Ý nghĩa:
IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án, dựa trên giả định các dòng tiền thu
được trong các năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên trong
nền kinh tế thị trường việc giả định các dòng tiền tái đầu tư với lãi suất chiết khấu là
không thuyết phục, vì lãi suất chiết khấu sẽ thay đổi trong các năm, thể hiện chi phí cơ
hội của chủ đầu tư trong từng năm thay đổi.
Cách xác định:
21
1
1
)12(
NPVNPV
kkNPV
kIRR
+

+=
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
15

16
Chuyên đề tốt nghiệp
để chuyển IRR từ đa trị thành đơn trị. Trường hợp này sẽ được trình bày cụ thể ở phần
sau.
Ưu điểm: IRR khắc phục được nhược điểm của NPV ở chỗ nó có thể so sánh
được các dự án có thời gian khác nhau hay vốn đầu tư khác nhau, nó thể hiện tỷ suất
sinh lời bình quân hàng năm của dự án. Thông thường, hai tiêu chuẩn này sẽ cho kết
luận như nhau, nhưng có một số trường hợp hai tiêu chuẩn này lại cho kết quả trái ngược
nhau, vì dòng tiền của hai dự án đang xem xét là trái ngược nhau về độ lớn.
Chỉ số doanh lợi (PI: Profit Index ).
Khái niệm: Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án tính bằng
tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. Thu
nhập này chưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra.
Cách xác định:
( )
0
1
1
CF
k
CF
PI
n
t
t
t

=
+

Dòng tiền ngay sau môc hoàn vốn
Trong đó, n: năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư.
Tiêu chuẩn lựa chọn dự án:
Khó có thể đưa ra một tiêu chuẩn chung nhât cho việc lựa chọn dự án theo PP. Vì
mỗi dự án có mức độ rủi ro khác nhau, thời gian thu hồi vốn khác nhau, do vậy, nếu đưa
ra một thời hạn là 3 năm hay 5 năm cho một dự án trung, dài hạn đủ để hoàn vốn thì
không phản ánh được liệu dự án có tạo ra lợi nhuận cho chủ đầu tư hay không. Do vây,
thông thường PP chỉ được sử dụng như một chi tiêu bổ sung cho các chỉ tiêu khác, hay
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
18
Chuyên đề tốt nghiệp
để so sánh các dự án với nhau. Tuy nhiên, để so sánh được nhiều dự án thì chỉ tiêu PP
đòi hỏi các dự án phải có thời hạn như nhau, vốn đầu tư như nhau, mức độ rủi ro như
nhau.
Do đó chỉ tiêu PP mặc dù vẫn có ý nghĩa khi thẩm định dự án nhưng nó phải
được sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác chư khó có thể sử dụng một cách độc lập để
đưa ra quyết định đầu tư.
Ví dụ:
0 1 2 3 ……………………….. n -200 100 70 80 ………………………..
Một dự án có thời hạn 5 năm, các dòng tiền ròng đã được hiện tại hoá với lãi suất
chiết khấu 8%/năm trong 3 năm đầu lần lượt là 100,70,80. Hỏi sau bao lâu thì dự án thu
hồi đủ vốn đầu tư biết vốn đầu tư bỏ ra tại thời điểm đầu năm thứ nhất là 200?
Giải:
Các dòng tiền đã được hiện tại hoá, sử dụng công thức trên ta tính được.
37,2
80
30

n
t
t
t
kC
kB
C
B
1
1
1
1
Trong đó: B
i:
Dòng tiền vào năm thứ t
C
i:
Dòng tiền ra năm thứ t
Nếu dự án có: B/C >1: thu nhập trội hơn chi phí.
B/C =0: thu nhập vừa đủ bù cho chi phí.
B/C <1: dự án bị lỗ.
Lựa chọn dự án theo nguyên tắc B/C >1. Nếu có nhiều dự án, lựa chọn dự án có
B/C cao hơn.
Phương pháp này có ưu điểm là cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ
đó giúp chủ đầu tư lựa chon, cân nhắc các phương án có hiệu quả. Nhưng đây là một chỉ
tiêu tương đối nên dễ đẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông
thường các dự án có B/C lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.
Phương pháp điểm hoà vốn (BP: Break even point Analysis).
Khái niệm: Điểm hoà vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi đủ vốn đầu tư.
Ý nghĩa:

Như vậy, sản lượng hoà vốn của dự án trong các năm thấp hơn rất nhiều so với
sản lượng tiêu thụ dự kiến. Tuy nhiên, để có kết luận chính xác hơn, cần xem xét các khả
năng tiêu thụ sản phẩm với các tình huống xấu nhất và tốt nhất.
Phương pháp phân tích độ nhạy của dự án (Sensitivity Analysis).
Trong nền kinh tế thị trường, các nhân tố về đầu vào và đầu ra của dự án thường
xuyên có sự biến đổi. Mặt khác, hoạt động đầu tư là hoạt động sử dụng một khối lượng
vốn lớn trong một thời gian rất dài và nó chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố. Chính
vì vậy rủi ro đến với dự án là điều tất yếu, vấn đề là phải cố gắng dự đoán các rủi ro đó
và xem chúng có tác động như thế nào đến dự án để từ đó có những đối sách thích hợp
để hạn chế rủi ro. Để thẩm định rủi ro tài chính các dự án hiện nay có nhiều công cụ
khác nhau, phổ biến nhất là phân tích độ nhạy của dự án.
SV: Phạm Văn Thưởng Lớp: Tài Chính 46Q
21

Trích đoạn TỶ TRỌNG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG ĐẾN 31/12/ BIỂU ĐỒ HUY ĐỘNG QUA CÁC NĂM 925 BIỂU ĐỒ TÍN DỤNG QUA CÁC NĂM 2.Nguồn vốn chủ sở hữu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status