Nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án cho vay vốn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Nam Định - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
*Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ trình duyệt dự án .................................................................. 11
* Bước 2: Lập hội đồng thẩm định .................................................................................. 11
* Bước 3: Tổ chức thẩm định dự án ................................................................................ 11
* Bước 4: Phê duyệt dự án và dự thảo quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư .......... 12
2.3.3. Một số nguyên nhân. .............................................................................................. 57
3.2.3.Nâng cao chất lượng của công tác thu thập thong tin trong thẩm định dự án đầu
tư. ...................................................................................................................................... 71
3.2.5. Lập quỹ thẩm định dự án đầu tư. ........................................................................... 73
3.3.1.Về phía ngân hàng Nhà Nước. ................................................................................ 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................................... 79
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế là mục tiêu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó
có Việt Nam. Trên thực tế, chúng ta đang tiến hành công cuộc Công nghiệp
hoá- Hiện đại hoá bằng việc đẩy mạnh đầu tư trung và dài hạn cũng để nhằm
mục tiêu chung đó. Những năm qua, tốc độ đầu tư trong nền kinh tế có sự
tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó không thể không kể đến vai trò của hệ thống
Ngân hàng thương mại với tư cách là nhà tài trợ lớn cho các nhà đầu tư. Ở
một số ngân hàng còn tình trạng ứ đọng vốn trong khi các doanh nghiệp lại
thiếu vốn để sản xuất. Nợ quá hạn còn ở mức cao, độ an toàn trong hoạt động
ngân hàng còn thấp. Đã có rất nhiều kiến nghị, giải pháp được đưa ra nhưng
tình trạng đó vẫn còn tồn tại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tổn thất
tín dụng đó chính là những thiếu sót yếu kém, chủ quan trong công tác thẩm
dịnh dự án đầu tư.
Đứng trước thực tế đó, đòi hỏi toàn hệ thống Ngân hàng thương mại phải
không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng mà trọng tâm là nâng cao chất
lượng và hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư. Việc nâng cao chất
lượng và hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư không chỉ có ý nghĩa đối
với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng mà còn góp phần tiết kiệm vốn cho
toàn xã hội, thúc đẩy mở rộng, phát triển an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế đất

2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội , ngày 21 tháng 10 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Xuân Trang
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái quát hoạt động cho vay dự án của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại.
NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín
dụng, thực hiện hoạt động nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán và cung cấp các
dịch vụ khác có liên quan. Ngày nay do chức năng của NHTM ngày càng đa
dạng, theo Peter.S.Rose, chuyên gia tài chính của Ngân hàng thế giới, thì
Ngân hàng thương mại là một tổ chức cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.
Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong những năm gần đây có
những bước phát triển nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Hệ thống 5
NHTM quốc doanh bao gồm NH Ngoại thương, NH Công thương, NH Đầu
tư và phát triển, NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và NH Nhà đồng
bằng sông Cửu Long. Ngoài ra còn có các NH cổ phần hoạt động trên
nhiều lĩnh vực.
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2. Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại.

thể đi vay không có khả năng hoàn trả tiền vay và lãi.
- Cho vay không có bảo đảm: là những khoản vay mà n gân hàng
không quản lý hoặc nắm giữ bất kỳ một tài sản nào của chủ thể đi vay nhằm
mục đích thu nợ. Loại hình này trước đây ít có ở nước ta, song kể từ khi có
nghị định mới của chính phủ về đảm bảo tiền vay thì đã ngày càng được áp
dụng rộng rãI hơn.
Theo thời gian sử dụng tiền vay:
- Khoản vay có thời hạn : là khoản vay trong thời gian cho vay được xác
định cụ thể, bao gồm các khoản vay ngắn hạn (thời hạn vay dưới 12 tháng)
và các khoản vay trung và dài hạn (thời gian vay dàI hơn 1 năm).
- Khoản vay không có thời hạn: là những khoản vay mà thời hạn hoàn
trả không được xác định trước, thay vào đó là những điều kiện về việc hoàn
trả tiền vay mà ngân hàng và chủ thể đi vay thoả thuận với nhau.
1.1.3. Tín dụng dự án của ngân hàng thương mại.
Lịch sử phát triển kinh tế xã hội cho thấy tín dụng là một phạm trù kinh
tế ra đời và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá và chính nó lại là động
lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ ngày càng
cao. Khó có thể đưa ra mọt định nghĩa chính xác, đầy đủ, rõ ràng về tín dụng.
Vì vậy, tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của
thuật ngữ này. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo nghĩa sau:
“Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữ hai
chủ thể, trong đó có sự chuyển giao tạm thời một lượng giá trị từ chủ thể
này sang chủ thể khác với những điều kiện mà hai bên thoả thuận với
nhau”. Như vậy, trong quan hệ kinh tế này, đối tượng của sự chuyển nhượng
có thể dưới hình thái hiện vật - hàng hoá hoặc tiền tệ, điều kiện mà hai bên
thoả thuận bao gồm khối lượng giá trị chuyển nhượng, thời hạn sử dụng của
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
người vay, thu nhập mà người cho vay được hưởng và những điều kiện khác

tư cho tài sản cố định, tín dụng trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu
động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới
thành lập.
-Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên
được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất.
“Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách
thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian
xác định đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư
phát triển hoặc phục vụ đời sống”.
Trong trường hợp khan hiếm nguồn tài trợ, chủ đầu tư thường quan
tâm tới tín dụng ngân hàng. Các khoản tín dụng cho dự án đầu tư chủ yếu
là các khoản tín dụng trung và dài hạn. Việc cung cấp tín dụng cho các dự
án với số vốn lớn và thời gian cho vay lại tương đối dài, có những dự án
kéo dài đến hàng chục năm sẽ dẫn đến rủi ro cao cho ngân hàng. Để phần
nào giảm bớt được những rủi ro tiềm ẩn có thể gặp phải, trước khi tiến
hành cấp tín dụng cho dự án ngân hàng phải tiến hành một bước rất quan
trọng đó là kiểm tra tính khả thi của dự án, xem xét các đặc điểm của dự
án, các yếu tố thuộc về môi trường có thể ảnh hưởng tới dự án,... công việc
đó chính là công tác thẩm định dự án đầu tư.
1.2. Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án
1.2.1. Thẩm định tài chính dự án là gì?:
Thông qua việc phân tích và tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài
chính của dự án và các kế hoạch tài chính nhằm đánh giá hiệu quả tài chính
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mà dự án mang lại.
1.2.2. Các bước lập dự án.
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đây là giai đoạn tiền đề và quyết định sự thành

của tình hình kinh doanh. Sau đó tiến hành đánh giá dự án về các mặt, xem
xét tính phù hợp và hiệu quả của dự án. Khi dự án đã hết thời hạn thì tiến
hành thanh lý và nghiên cứu dự án mới.
1.2.3. Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án.
* Sự cần thiết đối với người xin vay vốn.
Một dự án dù có được chuẩn bị kỹ càng đến mấy cũng vẫn mang tính chủ
quan của người soạn thảo, bởi vì người soạn thảo thường đứng trên góc độ
hẹp để nhìn nhận vấn đề. Để đảm bảo tính khách quan cần phải thẩm
định.Việc thẩm định thực hiện độc lập với quá trình soạn thảo sẽ cho phép
chủ đầu tư nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn, từ đó thấy
được những thiếu sót trong quá trình soạn thảo để kịp thời bổ sung. Nhờ vậy,
chủ đầu tư có thể khẳng định quyết định đầu tư của mình là đúng đắn. Ngoài
hiệu quả dự án, mục đích thẩm định còn xem xét đến những rủi ro, những trở
ngại có thể gặp phải khi thực hiện dự án nhằm có đối pháp quản lý.
*Sự cần thiết đối với nền kinh tế.
Việc thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay vốn của NHTM không
những đem lại những lợi ích cho bản thân NHTM và người xin vay vốn mà
thông qua đó cũng đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế. Mục đích thẩm
định là nhằm đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát
triển chung của ngành, của địa phương và của cả nước trên các mặt: mục tiêu,
quy mô, quy hoạch và hiệu quả. Đồng thời việc thẩm định giúp xác định tính
lợi hại và sự tác động của dự án khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh như:
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ứng dụng công nghệ mới, trình độ sử dụng vốn, ô nhiễm môi trường cũng như
các lợi ích kinh tế-xã hội khác mà dự án đem lại.Việc xem xét kỹ lưỡng tính
khả thi và hiệu quả của dự án giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế nói
chung, tránh được những thất thoát, lãng phí các nguồn lực của nền kinh tế.
*Đối với các Ngân hàng thương mại.

hành lập hồ sơ dự án và nộp cho cấp có thẩm quyền thẩm định và quyết định
đầu tư hay cấp giấy phép đầu tư. Tập hồ sơ dự án được coi là hợp lệ khi nó
tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tuân thủ
đầy đủ các qui chế đầu tư qui định hiện hành của Nhà nước, của ngành và của
địa phương.
*Bước 2: Lập hội đồng thẩm định
Sau khi tiếp nhận hồ sơ dự án của chủ đầu tư, tuỳ thuộc vào nội dung và
yêu cầu của dự án đầu tư mà quyết định có thành lập hội đồng thẩm định hay
không, số lượng các thành viên trong hội đồng thẩm định là bao nhiêu. Thủ
trưởng hay người đại diện các lĩnh vực chuyên môn liên quan đến dự án có
thẩm quyền quyết định số lượng các thành viên tham gia trong hội đồng.
*Bước 3: Tổ chức thẩm định dự án
Để quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư thì trong quá trình tổ
chức thẩm định dự án cần hai nhóm chuyên gia.
Nhóm 1: Nhóm chuyên môn, chuyên sâu
Nhóm này bao gồm các chuyên gia có trình độ cao làm việc tại các sở ,
bộ chuyên ngành (hay còn gọi là chuyên gia bên trong) và các chuyên gia tư
vấn độc lập từ các viện nghiên cứu, các trường đại học....trong và ngoài nước
(hay còn gọi là chuyên gia bên ngoài)
Nhóm 2: Nhóm tư vấn độc lập
Là tổ chức hoặc cá nhân có thể trong nước hoặc nứơc ngòai có trình độ
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chuyên môn cao trong các lĩnh vực có liên quan đến dự án. Các tổ chức tư
vấn hoặc các chuyên gia tư vấn độc lập làm nhiệm vụ phản biện toàn bộ hoặc
từng phần dự án. Việc lựa chọn hình thức thực hiện việc thẩm định do người
có thẩm quyền phê duyệt.
Các nhóm chuyên gia sau khi thẩm định phải viết báo cáo thẩm định
trình lên đơn vị đầu mối, đồng thời báo cáo này cũng có thể được sử dụng để

tiền lương, chi phí quản lý... của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật
chính thức hoặc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế.
_Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư .
_Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo
hiện hành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
_Các chỉ tiêu mới phát sinh ....
Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu
dùng để tiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và
đặc điểm cụ thể của từng dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến
của các cơ quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược). Tránh
khuynh hướng so sánh máy móc, cứng nhắc rập khuôn.
* Phương pháp thẩm định theo trình tự:
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một
trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho
kết luận sau.
Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội
dung cơ bản thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án. Thẩm
định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan
trọng của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác
định các căn cứ pháp lý của dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ
máy quản lý dự án dự kiến. Dự án có thể bị bác bỏ nếu không thoả mãn các
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
yêu cầu về pháp lý, các thủ tục quy định cần thiết và không phục vụ gì cho
chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Thẩm định chi tiết : là việc xem xét một cách khách quan, khoa học,
chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu
quả, tính hiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật
công nghệ, môi trường, kinh tế... phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế

*Phương pháp triệt tiêu rủi ro
Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dự đoán một số
rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn
chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có
liên quan đến dự án.
Rủi ro thường được phân chia ra làm 2 giai đoạn như sau:
Giai đoạn thực hiện dự án: trong giai đoạn này thường gặp các rủi ro
như sau:
- Rủi ro chậm tiến độ thi công: để hạn chế rủi ro này phải kiểm tra
việc đấu thầu, chọn thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Rủi ro vượt tổng mức đầu tư : để hạn chế rủi ro này phải kiểm tra
hợp đồng giá (một giá hoặc các điều kiện phát sinh tăng giá...)
- Rủi ro về cung cấp dịch vụ kỹ thuật, công nghệ không đúng tiến độ,
chất lượng không đảm bảo, không đồng bộ. Để hạn chế rủi ro này
cần kiểm tra hợp đồng chọn gói và bảo lãnh hợp đồng.
- Rủi ro về tài chính như thiếu vốn, giải ngân không đúng tiến độ: để
hạn chế rủi ro này phải kiểm tra các cam kết của các bên góp vốn,
bên cho vay hoặc bên tài trợ vốn.
- Rủi ro bất khả kháng: để hạn chế rủi ro này phải kiểm tra bảo hiểm
đầu tư, bảo hiểm xây dựng.
Giai đoạn sau khi dự án đi vào hoạt động: trong giai đoạn này
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thường gặp các rủi ro sau đây:
- Rủi ro về cung cấp các yếu tố đầu vào không đầy đủ, không đúng
tiến độ: để hạn chế rủi ro này cần xem xét hợp đồng cung cấp dài
hạn với các công ty cung ứng có uy tín, các nguyên tắc thoả thuận
về giá cả.
- Rủi ro về tài chính như thiếu vốn kinh doanh: để hạn chế rủi ro này

- Chỉ chấp nhận các dự án có NPV >= 0.
- Nếu lựa chọn dự án trong một tập hợp các dự án thì dự án được chọn là
dự án có NPV lớn nhất
Chỉ tiêu NPV có các hạn chế sau:
- Không thấy được lợi ích thu được từ một đồng vốn đầu tư.
- Phụ thuộc vào cách lựa chọn tỷ suất triết khấu .
- Không áp dụng được trực tiếp để so sánh, lựa chọn các dự án có vòng đời
hay vốn đầu tư khác nhau.
* Hệ số hoàn vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Return).
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất triết
khấu để tính chuyển các khoản thu và các khoản chi của dự án về mặt bằng
thời gian hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác là
giá trị hiện tại của thu nhập thuần của dự án sẽ bằng không. Đây là một chỉ
tiêu cơ bản trong phân tích tài chính dự án. Nó cho biết mức lãi suất mà dự án
có thể đạt được. Dự án được lựa chọn khi IRR
da
> MARR (Minimum
Attractive Rate of Return) . MARR được gọi là mức lãi suất thấp nhất có thể
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
17

=
+

=
n
i
i
ii
r

biến dạng, thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc ngược lại, vì có rất nhiều
đáp số khác nhau.
* Thời gian hoàn vốn (Pay - back Period)
Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động
thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời gian cần
thiết để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc
tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm.
Thời gian hoàn vốn có thể được tính theo hai cách: thời gian hoàn vốn
giản đơn (không chiết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
Thời gian hoàn vốn giản đơn:
∑∑
==
=−
T
i
i
T
i
i
CB
00
0
Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng không xét đến thời giá
của đồng tiền nên không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn.
Trong đó : T là thời gian hoàn vốn chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền.
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
∑ ∑

đó tại đây thì dự án chưa có lãi nhưng cũng không bị lỗ. Bởi vậy, chỉ tiêu này
cho biết khối lượng sản phẩm hoặc mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp
nhất cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra.
Điểm hoà vốn có thể được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật (sản lượng tại
điểm hoà vốn) hoặc chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểm hoà vốn). Nếu sản
lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu của
dự án tại điểm hoà vốn thì dự án có lãi, ngược lại nếu thấp hơn thì dự án bị lỗ.
Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an toàn của dự án
càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn. Có hai cách xác định điểm hoà vốn
đó là phương pháp đại số và phương pháp đồ thị.
Theo phương pháp đại số, người ta gọi x là khối lượng sản phẩm sản
xuất hoặc bán được, gọi x
0
là khối lượng sản phẩm tại điểm hoà vốn, f là chi
phí cố định (định phí), v là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm (biến
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phí), v.x là tổng biến phí, p là đơn giá sản phẩm. Ta có hệ phương trình sau:
y
DT
= px
y
CF
= vx + f
Tại điểm hoà vốn thì px
0
= vx
0
+ f suy ra :

Nếu L = [ L ] : dự án có số quay vòng vốn tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt
động của dự án. L > [ L ] : dự án không đạt hiệu quả hoạt động, cần được
sửa đổi . Trong đó [ L ] là số vòng quay vốn lưu động bình quân năm cho
phép
*Tỷ suất sinh lời vốn của vốn đầu tư
Wipv
RRi = ----------
Ivo
Trong đó: Wipv : Lợi nhuận thuần thu được năm thứ i theo mặt bằng giá trị
khi các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.
Ivo : Tổng vốn đầu tư thực hiện ước tính đến thời điểm các kết
quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.
Trường hợp RRi=[RRi], dự án có tỷ suất sinh lời vốn đầu tư càng lớn thì
hiệu quả tài chính dự án càng cao. RRi<[RRi], dự án đầu tư không đạt hiệu
quả cần được sửa đổi bổ sung. Trong đó [RRi] là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư
cho phép.
Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích, đánh
giá hiệu quả tài chính dự án. Tuỳ theo yêu cầu hay tình huống cụ thể mà
người thẩm định còn có thể lựa chọn rất nhiều các chỉ tiêu khác nữa nhằm đưa
ra đánh giá tổng quan hơn (ví dụ như tỉ suất sinh lời của vốn tự có, tỉ suất sinh
lời của vốn đầu tư tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư...)
1.3.4. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án tại
ngân hàng.
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Những nhân tố khách quan
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là những quy định của pháp luật làm cơ
sở để ngân hàng tiến hành các hoạt động giao dịch của mình, trong đó có hoạt

chất lượng thẩm định cho vay dự án đầu tư tại các ngân hàng. Ngược lại, một
môi trường kinh tế kém phát triển, biến động đầy bất trắc sẽ gây khó khăn
trong việc phân tích, đánh giá dự án.
Khách hàng vay :
Đây là đối tượng có quan hệ trực tiếp vơi ngân hàng. Để tiến hành cho
vay thì bộ hồ sơ xin vay do khách hàng cung cấp là nguồn thông tin cơ bản
nhất để ngân hàng tiến hành thẩm định để đi đến quyết định cho vay. Nếu như
khách hàng vay vốn là đối tượng có năng lực, trình độ thì chất lượng dự án do
khách hàng lập tỷ lệ cao là tốt, các báo cáo tài chính của khách hàng là rõ
ràng, chính xác và đầy đủ, thuận lợi cho công tác thẩm định. Tuy nhiên, chưa
hẳn điều này đã đúng vì do nhận thức yếu kém, khách hàng cố tình làm sai
lệch thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của mình, điều này sẽ làm ảnh
hưởng rất lớn đến công tác thẩm định dự án của các ngân hàng.
*Những nhân tố chủ quan
Nhân tố con người
Cán bộ thẩm định là chủ thể trực tiếp chi phối mọi hoạt động trong quá trình
thẩm định dự án đầu tư. Năng lực, đạo đức ngề nghiệp sẽ quyết định tính
chính xác trong kết quả thẩm định. Vì thẩm định dự án nói chung và thẩm
định tài chính dự án nói riêng là một công việc hết sức tinh vi, đòi hỏi người
thẩm định phải có kiến thức rộng, không chỉ hiểu biết về nghiệp vụ chuyên
môn đơn thuần mà còn phải có cả những hiểu biết về khao học, xã hội, kinh
Hồ Thị Xuân Trang Lớp: TCDN 17
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tế. Hơn nữa, kết quả thẩm định dự án là sản phẩm của ý kiến chủ quan của
người thẩm định. Một cán bộ thẩm định có năng lực, đạo đức nghề nghiệp
yếu kém sẽ dẫn đến kết quả đánh giá sai về dự án ( dự án khả thi thì lại cho là
không khả thi và ngược lại ), từ đó dẫn đến ra quyết định sai ( dự án đáng cho
vay thì không cho vay, dự án thực tế không có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi
thì lại cho vay ), làm giảm hiệu quả hoạt động cho vay dự án của các ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status