MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 2
I/ Tổng quan chung về hoạt động kinh doanh và quản lý tại Công ty CP xi
măng Bỉm Sơn…………………………………………………………………… 3
1/ Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty…………………………… 3
2/ Đặc điểm kinh doanh của Công ty…………………………………………………… 7
3/ Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty xi măng Bỉm Sơn………………… 11
4/ Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh……………………………….. 15
II/ Đặc điểm công tác kế toán của Công ty CP xi măng Bỉm Sơn……………. 20
1/ Đặc điểm bộ máy kế toán của Công ty………………………………………… 20
2/ Chế độ kế toán của Công ty CP xi măng Bỉm Sơn…………………………….. 22
3/ Hệ thống Báo cáo kế toán trong Công ty CP xi măng Bỉm Sơn……………….. 26
4/ Giới thiệu phần mềm FAST Accounting4……………………………………… 26
5/ Công tác kiểm tra, kiểm soát số liệu sổ sách và phân tích tài chính tại Công ty CP
xi măng Bỉm Sơn……………………………………………………………… 29
III/ Một số phần hành kế toán chủ yếu tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn……30
1/ Kế toán TSCĐ…………………………………………………………………...30
2/ Kế toán thanh toán………………………………………………………………32
3/ Kế toán vật tư, hàng hoá………………………………………………………...36
4/ Kế toán lao động tiền lương…………………………………………………….37
5/ Kế toán chi phí và tính giá thành ……………………………………………….38
6/ Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả…………………………………………….40
IV/ Đánh giá chung về tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty CP xi măng Bỉm
Sơn…………………………………………………………………………………46
1/ Những thành tựu đạt được và ưu điểm………………………………………….46
2/ Một số những tồn tại, hạn chế của Công ty CP xi măng Bỉm Sơn………………46
KẾT LUẬN………………………………………………………………………..48
phụ lục......................................................................................................................49
1
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty CP xi măng Bỉm Sơn là một trong những doanh nghiệp đầu ngành sản
dựng nhằm tiến hành công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước ngay khi thống nhất
đất nước.
Giai đoạn I: Tiến hành xây dựng nhà máy Xi măng Bỉm Sơn (1968 - 1981)
- Tiến hành công tác khảo sát – thăm dò địa chất(1968-1974)
Để chuẩn bị cho việc xây dựng một nhà máy xi măng lớn nhất nước, nhiệm vụ
quan trọng trước mắt là tiến hành khảo sát thăm dò địa chất. Sau một thời gian khảo
sát thăm dò vùng đất Bỉm Sơn, phương án xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn được
hoạch định. Với vị thế thuận lợi về 4 phương diện cơ bản là: Thị trường tiêu tụ sản
phẩm rộng lớn, nguồn nguyên vật liệu phong phú, giao thông thuận lợi và nguồn
nhân lực dồi dào. Ví dụ về nguyên liệu: Đá vôi thuộc dãy núi Tam Điệp và các vùng
phụ cận với trữ lượng khảo sát là 270 triệu tấn; đất sét ở Bỉm Sơn… Đây là những
điều kiện thuận lợi cơ bản có tính chiến lược của Nhà máy xi măng Bỉm Sơn.
- Quá trình thi công xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn (1974 – 1981)
Khi xây dựng nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Đảng và Nhà nước ta nhận được sự
hợp tác, giúp đỡ của nhân dân Liên Xô. Theo ký kết giữa hai chính phủ thì Liên Xô
sẽ giúp đỡ chúng ta toàn bộ công nghệ, trang thiết bị hiện đại, thiết kế kỹ thuật để xây
dựng nhà máy với 2 dây chuyền sản xuất xi măng có công suất 1.2 triệu tấn/năm.
Đồng thời Liên Xô đưa sang ta một tập thể chuyên gia có trình độ chuyên môn cao,
giúp ta lắp đặt, xây dựng, vận hành và hiệu chỉnh nhà máy.
Sau khi kết thúc công tác thăm dò địa chất, mọi tài liệu về địa chất, địa tầng
luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án xây dựng thi công Nhà máy xi măng Bỉm
Sơn được Nhà nước phê duyệt. Việc thi công xây dựng nhà máy được khai triển
nhanh chóng.
Trong khoảng thời gian (1974 – 1977) tiến hành bước đầu xây dựng cơ sở vật
chất như: xây dựng hệ thống giao thông; xây dựng các trạm biến thế; xây dựng hệ
thống lấy nước - dẫn nước; các kho bãi, xưởng gia công phụ trợ; hệ thống trộn bê
tông và lắp rắp…
Sau khi hoàn thành công việc xây dựng cơ sở vật chất ban đầu, bước sang một
giai đoạn mới, giai đoạn tổ chức thi công lắp đặt các hạng mục công trình. Giai đoạn
3
lượng. Đồng thời đi đôi với việc đổi mới, cải tiến công tác tổ chức, sắp xếp các đơn
vị sản xuất. Nhà máy đã dần tự chủ về các mặt hoạt động của mình như tổ chức xây
dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh; chủ động về vốn…
Giai đoạn III: Xi măng Bỉm Sơn đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh, thực hiện
mục tiêu kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường (1991-nay)
Thực hiện mục tiêu sản xuất – kinh doanh thời kỳ này, ban giám đốc đã xác
định và nhận thức đúng đắn sự tác động của các chính sách, cơ chế quản lý mới .
Lãnh đạo Nhà máy đã xác định đúng mục tiêu với giải pháp tích cực, với ý chí tự lực
tự cường tìm ra bước đi phù hợp với lực lượng sản xuất của Nhà máy; khơi dậy trí
tuệ của người lao động. Điều này đã toạ điều kiện làm nảy nở nhiều biện pháp quản
lý mới , nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã được ứng dụng trong sản xuất. Cán bộ
công nhân kỹ thuật của Nhà máy đã hoàn toàn làm chủ vận hành dây chuyền sản
4
xuất, không có sự kèm cặp của chuyên gia Liên Xô. Đây là một tín hiệu chứng tỏ xi
măng Bỉm Sơn đã trưởng thành một cách vượt bậc.
Thực hiện việc tổ chức sản xuất kinh doanh, Tổng Công ty xi măng Việt Nam
đã quyết định sát nhập Công ty kinh doanh vật tư xi măng số 4 vào Nhà máy xi măng
Bỉm Sơn và chính thức đổi tên thành “Công ty xi măng Bỉm Sơn” từ ngày 01/9/1993,
đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Tổng công ty xi măng Việt Nam và Bộ Xây Dựng.
Như vậy sau 13 năm Nhà máy đi vào sản xuất, đến thời điểm này mới thực hiện đầy
đủ việc sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Thời kỳ 1993 – 1996 sản xuất kinh doanh
có nhiều bước phát triển mới, thu được nhiều thành công như: sản phẩm sản xuất và
tiêu thụ của Công ty đều tăng và vượt công suất thiết kế, mức tăng trưởng bình quân
hàng năm là 9.8%; đi đôi với sản xuất và tiêu thụ, Công ty đã hoàn thành vượt chỉ
tiêu nộp ngân sách góp phần ổn định nguồn thu chi ngân sách địa phương; ngoài sản
lượng thì chất lượng sản phẩm xi măng của Công ty xi măng Bỉm Sơn luôn đạt tiêu
chuẩn chất lượng Nhà nước. Để tăng cường nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm
xi măng, ngày 30/3/1994 theo Quyết định số 124TTg, chính phủ đã phê duyệt chủ
trương đầu tư cải tạo, hiện đại hoá Công ty xi măng Bỉm Sơn. Chuyển đổi phương
pháp sản xuất từ ướt sang khô nâng công suất sản xuất từ 1,2 triệu tấn/năm lên 1,8
- Về vị trí: Công ty xi măng Bỉm Sơn nằm trên quốc lộ 1A, đặt cách ga xe lửa
Bỉm Sơn 3 km. Được thiết kế ở vị trí trung tâm một thị trường gồm các tỉnh
Nam Bắc Bộ, hơn nữa các tỉnh miền Trung và các tỉnh miền Nam là thị
trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm, chưa kể thị trường các nước Đông
Dương và các nước Đông – Nam Á. Đây là lợi thế giúp Công ty mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của mình.
- Về nguồn nhân lực: Phần đông số công nhân được đào tạo ở các trường
chuyên môn thuộc Tổng Công ty xi măng Bỉm Sơn. Được đào tạo năng cao
tay nghề cũng như trình độ chuyên môn thường xuyên nhằm đáp ứng nhu
cầu công việc ngày càng cao.
- Điểm mạnh của Xi măng Bỉm Sơn là có bề dày hoạt động 25 năm trong lĩnh
vực sản xuất, kinh doanh xi măng; sản phẩm đã có uy tín lâu năm trên thị
trường; thiết bị dây chuyền sản xuất đạt mức tiên tiến của khu vực, được đầu
tư thích hợp, tiết kiệm và hiệu quả; hệ thống sản phẩm phong phú, đa dạng
với chất lượng cao và giá cả hợp lý…
Bên cạnh những thuận lợi trên cũng như các doanh nghiệp khác, Công ty xi
măng Bỉm Sơn có những khó khăn nhất định có thể kể đến như:
- Về công nghệ: Công ty đang duy trì 2 dây chuyền công nghệ sản xuất
Clinker với hai phương pháp khác nhau, dây chuyền 1 sản xuất Clinker theo
phương pháp ướt, dây chuyền 2 sản xuất Clinker theo phương pháp khô. Vì
vậy, việc sắp xếp lao động cho 2 dây chuyền gặp không ít khó khăn.
- Máy móc thiết bị công nghệ do Liên Xô cung cấp đã hao mòn và trở nên lạc
hậu do thời gian sử dụng lâu . Nhiều thiết bị ở trạng thái hư hỏng… Đây là
khó khăn cơ bản nhất đối với Công ty xi măng Bỉm Sơn trong sản xuất và
cạnh tranh trên thị trường
- Hiện nay, trong nước có khoảng 13 công ty sản xuất xi măng, clinker và
khoảng 9 công ty chuẩn bị sản xuất sản phẩm này. Theo đó, Xi măng Bỉm
Sơn sẽ phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các DN cùng ngành. Có DN do
tiềm lực mạnh về vốn, dây chuyền công nghệ hiện đại, khấu hao hết đã liên
tục giảm giá bán sản phẩm, áp dụng các chính sách quảng cáo khuyến mại
nắm 7,15% và bán ra bên ngoài 20% - đúng bằng tỷ lệ chào bán thấp nhất theo quy
định tại Thông tư 126/2004/TT-BTC.
2.2/ Một số đặc điểm về lao động của Công ty
Một trong những lợi thế của Công ty xi măng Bỉm Sơn là có đội ngũ lao động
được đào tạo và có tay nghề cao. Việc tổ chức, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ,
công nhân kỹ thuật được tiến hành song song cùng với quá trình xây dựng Nhà máy.
Ngay khi Nhà máy xây dựng xong năm 1980 với đội ngũ cán bộ công nhân có 907
người : 1 PTS khoa hoc, 58 người có trình độ ĐH, 68 người trình độ trung cấp, 780
người là công nhân kỹ thuật. Trong những năm tiếp theo, thì đội ngũ cán bộ, công
nhân kỹ thuật được đào tạo bổ sung cho nhà máy không ngừng tăng lên. Năm 1982 là
1583 người, năm 1983 là 2157 người, năm 1984 là 2259 người…Trong đó, cán bộ
công nhân viên có trình độ DDH và trên DDh cũng tăng lên một cách nhanh chóng.
Đến năm 1995 số này đã lên tới 237 người.
Trong những năm gân đây, số lượng cán bộ công nhân viên dần giảm xuống và
dần đi vào ổn định hơn. Số lượng cán bộ công nhân viên của Công ty trong 3 năm
2004, 2005, 2006 được thể hiện ở bảng sau:
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
2786 2776 2595
Nguồn nhân lực là một nhân tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của DN, chính vì thế Công ty xi măng Bỉm Sơn đã thường xuyên tổ chức và cử
7
đi học năng cao tay nghề, trình độ cho cán bộ công nhân viên nhằm đáp ứng được
yêu cầu công việc và đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất và quản lý. Bình quân tay
nghề bậc thợ của công nhân trong toàn nhà máy tăng lên nhiều so với giai đoạn đầu
khi mới xây dựng Nhà máy.
So với khi mới thành lập Nhà máy trình độ của cán bộ công nhân viên năm 2005 đã
có sự phát triển vượt bậc. Sau hơn 25 để so sánh được sự thay đổi đó được thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Chỉ tiêu 1980 2005
Tổng số CBCNV 907 2595
NXM
Sản lượng tiêu
thụ
Tấn 151.438 292.485 459.022
Trong 3 năm đầu khi Nhà máy đi vào hoạt động, sản lượng sản xuất không
ngừng tăng lên.
Để thấy rõ hơn sự thay đổi về sản lượng sản xuất trong thời kỳ đầu, được thể
hiện qua biểu đồ tổng hợp kết quả sản xuất từ năm 1982-1999
B iể u đ ồ s ả n lư ợ n g s ả n x u ấ t 1 9 8 2 -1 9 9 9
0
2 0 0 0 0 0
4 0 0 0 0 0
6 0 0 0 0 0
8 0 0 0 0 0
1 0 0 0 0 0 0
1 2 0 0 0 0 0
1 4 0 0 0 0 0
1982
1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
vào hoạt động, lợi nhuận của Công ty đã đạt 8.856.558 đồng. Sau hơn 20 năm phát
triển Công ty đã nộp vào Ngân sách một khoản tương đối lớn.
Trong vài năm gần đây, tình hình kinh doanh của Công ty tương đối tốt và có
được nhiều thành quả đáng khích lệ.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Doanh thu
thuần
Đồng 1.578.502.780.791 1.539.701.700.803 1.579.919.194.207
Lợi nhuận
thuần
Đồng 80.970.014.557 104.726.391.328 116.659.397.004
Lợi nhuận thuần của Công ty tăng lên qua từng năm, có tốc độ tăng nhanh hơn
so với doanh thu chứng tỏ Công ty có các biện pháp nhằm giảm được các khoản chi
phí, góp phần làm tăng lợi nhuân thuần của Công ty lên. Để thấy rõ hơn tình hình tài
chính của Công ty, ta đi tính các chỉ tiêu liên quan đến lợi nhuận thuần.
chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
LN trên DT 0.051295 0.068017 0.073839
LN trên tổng TS 0.066446 0.059854 0.03985
Ta thấy tỷ suất lợi nhuận trên Doanh thu tăng lên qua 3 năm từ 2004 đến 2006 tăng
lên 0.022543 hay tăng lên 43,94812 %. Với tốc độ tăng như trên chứng tỏ tình hình
tiêu thụ sản phẩm của Công ty tốt, đây là một lợi thế mà Công ty cần phát huy.
3/ Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty xi măng Bỉm Sơn
3.1/ Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
Xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn, chúng ta nhận được sự hợp tác, giúp đỡ
của Chính phủ Liên Xô với một dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng tiên tiến và
hiện đại nhất nước ta vào thời điểm đó. Càng về sau này, công nghệ ngày một được
10
cải tiến theo phương hướng hiện đại hoá. Công ty xi măng Bỉm Sơn có 2 khối sản
xuất: khối sản xuất chính và khối sản xuất phụ.
*/ Khối sản xuất chính
S
ơ đồ 1: Khái quát quy trình sản xuất xi măng
*/ Quy trình sản xuất theo phương pháp ướt ( Sơ đồ 2)
Ưu điểm: Chất lượng xi măng sản xuất theo phương pháp này có chất lượng tốt,
vì các nguyên liệu và phụ gia được trộn đều.
Nhược điểm:
- Tốn nhiều nhiên liệu để làm bay hơi nước
- Cần nhiều nhân công phục vụ cho quá trình sản xuất
12
Khai thác
Nguyên
liệu
Nghiền
nguyên
liệu
Nung
Clinker
Nghiền xi
măng
Đóng bao Sản phẩm
Sơ đồ 2: Dây chuyền sản xuất xi măng theo phương pháp ướt
*/ Quy trình sản xuất theo phương pháp khô
Ưu điểm:
- Tốn ít nhiên liệu vì tận dụng khói lò để sấy khô nguyên liệu
- Số công nhân sản xuất là ít hơn vì giảm được một số khâu trong dây chuyền
sản xuất so với lò ướt
Nhược điểm:
13
Phụ gia
Đập
lò
lọc
bụi
ống khói
H2O
- Bắt buộc phải có thiết bị lọc bụi.
Sơ đồ 3: Dây chuyền sản xuất xi măng theo phương pháp khô
Hiện nay với những ưu điểm của sản xuất xi măng theo phương pháp khô thì phương
pháp này đang được dần thay thế cho phương pháp ướt.
4/ Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh
4.1/ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
(Sơ đồ 4)
14
Phụ gia
Đập
Sấy
Silô chứa
Phân phối
Đá vôi
Đập
Đất sét
Cán nhỏ
Nhiên liệu
(than đá)
Đập
Sấy
Silô chứa
Phân phối
Máy nén
Sây-nghiền
ứng vật tư thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng phục vụ sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ chủ yếu: Theo dõi cung ứng vật tư, máy móc thiết bị cho sản xuất
như: tổng hợp và cân đối nhu cầu vật tư hàng năm; mua sắm vật tư thiết bị; nghiệm
thu vật tư hàng hoá mua săm. Lập báo cáo thực hiện kế hoạch theo đúng quy định;
bảo đảm duy trì hệ thống quản lý chất lượng của Công ty.
*/ Phòng cơ khí
Phòng cơ khí có chức năng quản lý các kỹ thuật cơ khí các thiết bị trong dây
chuyền sản xuất của Công ty, nhằm đảm bảo các máy móc, thiết bị hoạt động an
toàn, ổn định đạt năng suất và hiệu quả cao.
Nhiệm vụ: Theo dõi tình hình hoạt động của các thiết bị; lập kế hoạch sửa chữa
định kỳ của dây chuyền công nghệ và các thiết bị gia công cơ khí; lập quy trình vận
hành, sử dụng cho các thiết bị gia công cơ khí; bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết
bị; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy trình quy phạm; cấp phát vật tư phụ
tùng cho Công ty; đánh giá chất lượng, tình trạng máy móc, kiểm tra tình trạng kỹ
thuật; nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sửa chữa…
*/ Phòng năng lượng
Phòng năng lượng có chức năng quản lý kỹ thuật, lĩnh vực điện, điện tự động,
nước, khí nén, thiết bị lọc bụi của Công ty nhằm đảm bảo các thiết bị an toàn, ổn
định.
Nhiệm vụ: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình liên quan đến việc cung cấp năng
lượng cho sản xuất và ác thiết bị điện. Tổ chức công tác kiểm tra kiểm định tiêu
chuẩn các thiết bị điện, các thiết bị bảo vệ dụng cụ đo lường. Xây dựng, chỉ đạo thực
hiện định mức tiêu hao điện năng , nước, khí nén…
*/ Phòng kỹ thuật sản xuất
Phòng kỹ thuật sản xuất có chức năng quản lý kỹ thuật công nghệ sản xuất xi
măng, đảm bảo xi măng sản xuất đúng chất lượng theo quy định, quản lý chặt chẽ các
16
quy trình sản xuất sản phẩm, tiến bộ kỹ thuật, định mức nhằm đạt hiệu quả kinh tế
cao.
Nhiệm vụ: Theo dõi hoạt động sản xuất các phân xưởng sản xuất chính và phân
Thí nghiệm KCS, phòng Kỹ thuật an toàn, phòng Bảo vệ quân sự, phòng Đời sống
quản trị. Đồng thời Công ty có một hệ thống tiêu thụ bao gồm 1 trung tâm giao dịch
tiêu thụ, 8 chi nhánh ở các tỉnh thành, 1 văn phòng đại diện bên Lào và rất nhiều cac
đại lý trên khắp cả nước có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Nhận xét
Công ty xi măng Bỉm Sơn là một trong những doanh nghiệp có quy mô lớn của
ngành công nghiệp sản xuất xi măng của nước ta. Để phù hợp với quy mô sản xuất
lớn như thế, tổ chức bộ máy quản lý trong Công ty cần có sự phân công nhiệm vụ rõ
ràng. Thông qua việc xem xét mô hình và các phòng ban, phân xưởng trong Công ty
xi măng Bỉm Sơn có thể nhận thấy rằng, việc phân công chức năng nhiệm vụ là
17
tương đối khoa học và hợp lý, phù hợp với nhu cầu quản lý cũng như đặc điểm sản
xuất kinh doanh trong Công ty. Tuy nhiên cũng cần hoàn thiện nhằm tinh giảm bộ
máy quản lý mầ vẫn đạt được hiệu quả quản trị và hiệu quả kinh doanh.
4.3/ Một số chính sách quản lý tài chính – kinh tế Công ty áp dụng
Cũng như các Doanh nghiệp khác, chính sách quản lý tài chính - kinh tế của
Công ty được thể chế hoá theo các văn bản pháp luật của Nhà nước và quy chế của
Tổng Công ty. Các quy chế, chính sách này áp dụng tại Công ty xi măng Bỉm Sơn,
các chi nhánh, trung tâm giao dịch tiêu thụ và văn phòng đại diện của Công ty tại
CHDCND Lào.
Dưới đây là một số chính sách quản lý tài chính – kinh tế đang được Công ty áp
dụng
4.3.1/ Chính sách về quản lý sử dụng vốn và tài sản trong Công ty
Trong chính sách về quản lý sử dụng vốn và tài sản trong Công ty được cụ thể
thành các điều. Mỗi điều đề cập đến phần khác nhau. Có thể nêu ra một số chính sách
như là:
- Quản lý sử dụng tài sản cố định vô hình và hữu hình, về sửa chữa TSCĐ,
cho thuê, thế chấp tài sản; thanh lý nhượng bán tài sản; kiểm kê đánh giá tài
sản và xử lý tổn thất tài sản;
- Quản lý vốn về đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý vốn bằng tiền …
này được quản lý tập trung toàn Công ty và được sử dụng cho mục đích
chung của toàn Công ty, được trích nộp về TCT để hình thành quỹ chung
của TCT theo quy định của TCT.
4.3.4/ Lập và nộp BCTC, công bố, công khai, kiểm tra BCTC
- Lập và nộp BCTC : Theo chế độ quy định hiện hành của Nhà nước và TCT.
Các công việc trước khi lập báo cáo phai làm, thời hạn nộp báo cáo.
- Kiểm tra kiểm toán BCTC: Tự tổ chức thường xuyên kiểm tra đảm bảo đúng
chế độ và quy định của Nhà nước…
- Công bố công khai tài chính : Quy định về mục đích, nội dung, hình thức,
thời điểm công khai.
- Nội dung BCTC: Hệ thống BCTC bao gồm các báo cáo theo quy định của
Bộ Tài chính. Gồm có:
Bảng Cân đối kế toán – Mẫu số B01-DN Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-
BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC
Báo cáo Kết quả kinh doanh - Mẫu số B02-DN Ban hành theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Mẫu số 03-DN Ban hành theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC
Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số 09-DN Ban hành theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC
► Nhận xét
Như vậy các chính sách tài chính của Công ty dựa theo và tuân thủ theo quy
định chung của Nhà nước. Đây là nền tảng để thực hiện các công việc cũng như các
phần hành trong Công ty. Các chính sách này được thay đổi phù hợp với từng thời kỳ
khi các chuẩn mực, các quy định của Nhà nước có sự thay đổi. Các chính sách này là
cơ sở xây dựng đặc điểm công tác kế toán của Công ty xi măng Bỉm Sơn. Công tác
kế toán có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và hiệu quả kinh doanh đối với
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có bộ máy kế toán tốt sẽ là một lợi thế trong cạnh
tranh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong doanh nghiệp.
II/ Đặc điểm công tác kế toán của Công ty CP xi măng Bỉm Sơn