LUẬN VĂN: Thúc đẩy phát triển nền kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong nước phát triển - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Thúc đẩy phát triển nền kinh tế, tạo điều
kiện cho các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp trong nước phát triển

a-Khái niệm nhà nước:
Nhà nước về thực chất là một thiết chế quyền lực chính trị, là cơ quan thống trị
giai cấp của một hoặc một nhóm giai cấp này đối với một hoặc toàn bộ các giai cấp
khác, đồng thời còn để duy trì và phát triển xã hội mà nhà nước đó quản lý trước các
nhà nước khác và trước lịch sử.
( Giáo trình quản lý xã hội-ĐHKTQD )
b-Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức mang tính bao trùm toàn bộ xã hội, đặc trưng bởi các dấu
hiệu sau:
-Thứ nhất, nhà nước là sự phân chia dân cư theo lãnh thổ. Nếu các bộ lạc, thị tộc
được hình thành theo quan hệ huyết thống thì nhà nước là bộ máy quyền lực, tập trung
trên một cơ cấu lãnh thổ nhất định và dân cư được phân chia theo lãnh thổ quốc gia thống
nhất.
-Thứ hai, nhà nước thiết lập một bộ máy quyền lực xã hội, bộ máy quyền lực công
này dường như tách ra ngoài xã hội, đứng trên xã hội, nhưng lại trực tiếp cai trị xã hội.
Ngày nay nó thường la bộ máy đồ sộ bao gồm một hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh
vực của đời sống xã hội như: tuyên truyền, cổ động, cưỡng chế, đàn áp, và các cơ quan
quản lý khoa học kỹ thuật, kinh tế, tài chính
-Thứ ba, nhà nước là quyền lực công xuất hiện đồng thời với việc xác định chủ
quyền nhà nước-đó là quyền lực tối cao mang tính độc lập của nhà nước trong việc giải
quyết những công việc đối nội, đối ngoại của xã hội.
-Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi tổ chức,
mọi thành viên trong xã hội. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và bằng các biện
pháp khác nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là chủ yếu, thông qua hệ thồng pháp luật
nhà nước chi phối đến mọi hoạt động của nền kinh tế. Có thể sự chi phối đó là tốt hoặc
xấu cho nền kinh tế, và gây ra các hậu quả tương ứng. Như vậy nhà nước đặc biệt phải chú

định xã hội đồng thời không làm triệt tiêu tính tích cực sản xuất kinh doanh của
các thành viên trong xã hội. Nhà nước thông qua các công cụ về thuế, giá cả,
chính sách thu nhập, bảo trợ để điều tiết sự bất bình đẳng trong thu nhập, tạo
điều kiện xoá đói giảm nghèo, rút ngắn chênh lệch về kinh tế xã hội giữa các
vùng, các khu vực và các tầng lớp dân cư. Mặt khác khuyến khích mọi người
đầu tư phát triển, làm giàu chính đáng. Ngoài ra còn phải bảo đảm trật tự an
ninh quốc phòng, bảo đảm sự phát triển sự nghiệp phúc lợi công cộng của xã
hội.
 Xây dựng các dự án, chiến lược phát triển, các kế hoạch chương trình phát triển
kinh tế xã hội có hiệu quả: Nhà nước dự đoán khoa học sự phát triển của các
quá trình kinh tế xã hội thông qua phân tích tiểu sử của sự vật, phát hiện ra xu
hướng phát triển theo thời gian của nó để có thể thấy trước tương lai từ đó có
những chiến lược phát triển kinh tế xã hội phù hợp định hướng xã hội chủ
nghĩa.
 Nhà nước đầu tư kinh doanh và tham gia vào việc kinh doanh một số lĩnh vực:
thông qua việc đầu tư xây dựng, phát triển các doanh nghiệp nhà nước mà nhà
nước giữ các đỉnh cao chỉ huy và tạo thực lực kinh tế cho mình trong nền kinh
tế thị trường.
 Một số chức năng khác: Bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng các tài sản quốc gia, dự
báo và xác định các cân đối cơ bản ở tầm vĩ mô
b-Sự biểu hiện của vai trò nhà nước trong các nền kinh tế hiện đại:
Tất cả các nền kinh tế thị trường của các nước đã và đang phát triển đều có sự quản
lý, điều khiển, can thiệp của nhà nước ở các phạm vi, mức độ khác nhau và bằng các
phương thức khác nhau:
Tại Mỹ vai trò của chính phủ liên bang biểu hiện trên các mặt sau:
-Thứ nhất: Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm xây dựng và khống chế hoạt động
thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế như đường xá giao thông, phương tiện vận chuyển,

chủ hơn là ở các nước công nghiệp hoá phát triển.
Với các nước ASEAN sự can thiệp của nhà nước thể hiện trên các mặt:
-Định hướng chiến lược đúng đắn hướng cho nền kinh tế bước vào giai đoạn phát
triển mới với những thay đổi căn bản.
-Trên cơ sở định hướng đúng đắn sự điều tiết của nhà nước vào thay đổi nền kinh tế
sao cho phù hợp với thị trường thế giới.
-Công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước chủ yếu là gián tiếp thông qua các chính
sách kinh tế lớn.
Các nước kể ra ở trên đã rất thành công trong việc tổ chức một nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước. Mặc dù cách thể hiện vai trò của mình khác nhau,
nhưng có thể nói các nhà nước này rất “đạt” khi họ quản lý và điều khiển nền kinh tế.
Điều đó chứng tỏ rằng: về nguyên tắc nhà nước có thể và cần phải can thiệp vào thị
trường.
3-Khái quát chung nền kinh tế thị trường ở Việt Nam:
Kinh tế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dưới sự chi
phối của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản kinh tế thị trường là cung-cầu và giá cả thị trường.
Đại hội VI –cột mốc đánh dấu sự đổi mới, thừa nhận nền “kinh tế hàng hoá”
nhưng chưa đề cập đến “kinh tế thị trường” mà vẫn coi “Tính kế hoặch là đặc trưng số
một của một cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ”. Đến hội
nghị trung ương 6( khoá VI ) có sự phát triển của tư duy kinh tế “ Cơ chế thị trường thể
hiện sự vận động của các qy luật sản xuất và lưu thông hàng hoá tác động quan hệ
qua lại với các quy luật kinh tế khác phải vận dụng nhất quán trong kế hoạch và các
chinh sách kinh tế”.Đến đại hội VII Đảng ta lại phát triển sâu thêm về tư duy kinh tế và
chỉ ra “Cơ chế vận hành kinh tế hang hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN
là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Đến đại hội VIII Đảng ta rút ra “
Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,

-Nền kinh tế hiện đại với tính chất xã hội hiện đại (xã hội XHCN ).
Mặc dù nền kinh tế nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển
nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường, thì thế giới
đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường. Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất
thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự
do.
-Nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
nước.
Nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường phải là một nền kinh tế đa thành phần,
đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thi trường mà chúng ta xây dựng là nền kinh
tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự tham gia của “Bàn tay hữu hình” của nhà nước
trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời, chính nó sẽ đảm bảo sự định hướng
phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản lý, điều tiết, định hướng phát triển kinh tế
của nhà nước là thông qua các công cụ chinh sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của
khu vực kinh tế nha nước. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh
vực then chốt, có ý nghĩa là “Đài chỉ huy, là “Mạch máu” của nền kinh tế, Nhà nước cần
coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp, đặt chúng trong mối quan
hệ gắn bó, hữu cơ thống nhất, không tách rời, biệt lập
-Nhà nước quản lý kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta là
Nhà nước pháp quyền XHCN, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường hiện đại là
Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với Nhà nước của nhiều nền
kinh tế thị trường trên thế giới, Nhà nước ta là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”,
Nhà nước công, nông, Nhà nước của đại đa số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam.
-Cơ chế vận hàng nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường với
sự tham gia quản lý điều tiết của Nhà nước.

lao động là chủ yếu kết hợp một phần theo vốn và tài sản.
Đây là điểm khác giữa nền kinh tế thị trường trong CNTB với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta. CNXH đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát
triển. Cho nên, trong phân phối thu nhập và thành quả lao động của xã hội, CNXH nhấn
mạnh đến nhân tố lao động và yếu tố tiền lương-thu nhập của người lao động.
Tóm lại, quá trình triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta phải là
“ Quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân
dân làm chủ, nhân ái có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện
cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”.
c-Tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở
Việt Nam:
Với Việt Nam thì đây là một vấn đề khách quan và thực tế đã chứng minh bắt buộc
phải chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước: Sau kháng
chiến thắng lợi, đất nước ta bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa
trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Nền kinh tế kế hoạch hoá trong thời
kì đầu thực hiện ở nước ta tỏ ra phù hợp, tạo bước chuyển biến quan trọng về kinh tế xã
hội. Từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nước đã tập
trung vào tay mình một lưc lượng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn
định và phát triển nền kinh tế.
Từ sau ngày giải phóng miền nam bức tranh mới về thực trạng kinh tế xã hội đã
thay đổi. Trong nền kinh tế cùng lúc tồn tại cả ba loại hình kinh tế tự cấp tự túc nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá . Đó là thực tế khách quan nhưng chúng ta
vẫn tiếp tục chủ trương xây dựng nền kinh tế chỉ huy như ở miền bắc truước đây. Việc áp
dụng cơ chế quản lí cũ vào nền kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện nhiều tiêu cực. Ta đã
không quản lý có hiệu quả các nguồn tà nguyên sản xuất dẫn đến v iệc sử dụng lãng phí
nghiêm trọng. Tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm, sản xuất kém
hiệu quả, nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Đièu đó đã gây hậu quả xấu cho nền kinh

khác còn nhiều Từ đó đòi hỏi Nhà nước phải tích cực hơn nữa trong việc hoàn thiện môi
trường pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Đặc biệt, Lụât Doanh Nghiệp mới ra đời đã thổi một luồng gió mới vào nền kinh tế.
Từ khi luật doanh nghiệp ra đời đã tạo điều kiện rất nhiều cho sự phát triển của các doanh
nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, thời gian chờ đăng ký thành lập doanh
nghiệp chỉ còn 15 ngày, đây là một cố gắng rất lớn của nhà nước.
b-Tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế.
Từ khi đổi mới Đảng ta đã nhận định, nền kinh tế đất nước là nền kinh tế hàng hoá,
nhiều thành phần.
-Kinh tế nhà nước.
-Kinh tế tư nhân.
-Kinh tế tư bản tư nhân.
-Kinh tế hợp tác xã.
-Kinh tế hộ gia đình.
Song hiện tại, vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt
là thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân. Sự ưu tiên nghiêng về phía
doanh nghiệp nhà nước nhiều hơn các doanh nghiệp tư nhân trong hầu hết cac lĩnh vực.
Hiện tại kinh tế tư nhân Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhà nước cần
cố gắng hạn chế sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, và tích cực ủng hộ các
thành phần kinh tế này phát triển.
c-Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính, làm
tinh giản bộ máy hành chính của mình.
Hịên nay, bộ mày hành chính đã được gọn nhẹ hơn so với trước. Các phòng, ban đã
được thu gọn lại. Trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ được quy định rõ ràng hơn, cụ thể
hơn tạo hiệu quả làm việc cao hơn.
Đặc biệt, Nhà nước ta đã cải cách thủ tục hành chính một cách sâu rộng. Trước đây,
các doanh nghiệp luôn phàn nàn về thủ tục hành chính quá phiền hà, nhiêu khê, quá nhiều
cửa và phân định không rõ ràng. Hiện nay, thủ tục hành chính đã gọn nhẹ hơn và chặt chẽ
hơn nhiều. Thủ tục hành chính đi từ nhiều cửa đến một cửa, đã tạo điều kiện hết sức thuận
lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và các thành phần kinh tế nói chung.

-Quét sạch nạn hàng giả, hàng lậu Nhà nước cần có các biện pháp mạnh với
hiện tượng này. Đây là một trong những khía cạnh của canh tranh không lành mạnh. Nhà
nước đã và đang giải quyết hiện tượng này, tạo sự bình ổn về giá cả trong nước.
-Giải quyết nạn tham nhũng, sự dối trá trong các dự án, đặc biệt là dự án công
trình xây dựng.
-Một vấn đề mới nảy sinh la vấn đề thương hiệu, vì chưa đăng ký bản quyền ở cục
sở hữu công nghiệp, cho nên xảy ra nhiều sự vi phạm, gây rối loạn, thiệt hại lớn cho các
doanh nghiệp và nền kinh tế. Nhà nước cần có vai trò hướng dẫn đăng ký va giải quyết
công bằng cho những trường hợp vi phạm thương hiệu.
g-Nhà nước có vai trò ổn định lạm phát và chống khủng hoảng kinh tế.
Khủng hoảng kinh tế với mức lạm phát cao ở khu vực Đông Nam A năm 1997 đã
làm tê liệt, đẩy lùi kinh tế ở khu vực này. VN là một nước ở khu vực ĐNA, nhận biết tính
nguy hại của khủng hoảng kinh tế cho nền kinh tế Nhà nước cần có những giải pháp hợp
lý, nhằm kiềm chế lạm phát và chống khủng hoảng. Vai trò này là to lớn và duy nhất của
nhà nước, chỉ có Nhà nước là có thể giải quyết vấn đề này.
Hiện nay, Nhà nước đã và đang cố gắng bình ổn lạm phát, hạn chế và tránh khủng
hoảng chu kỳ. Vì thế, cho đến thời điểm hiện nay, kể từ sau thời kỳ bao cấp nền kinh tế
nước ta tăng trưởng liên tục, lạm phát bình ổn ở mức hợp lý và nhất là tránh được khủng
hoảng tài chính tiền tệ năm 1997. Đó là công lao to lớn của Nhà nước.
Bằng những hành động thực tế của mình. Nhà nước đã chứng minh cho chúng ta về
khả năng lãnh đạo và vai trò quan trọng của mình trong việc xây dựng nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN. Chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng vào tương lai của nền
kinh tế nước nhà, vì có sự lãnh đạo và quản lý, điều hành của Nhà nước CHXHCN-VN.
2-Thực trạng quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt nam có sự quản lý của nhà
nước.
a-Những thành tựu đã đạt được.
Sau khi thực hiện đường lối đổi mới và nhất là từ sau đại hội VII đến nay, nước ta GDP
tăng
3.782 4.858 8.0187

5.375 6.102 8.626 7.9401

8.992 9.5 9.631 9

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1997, tổng cục thống kê.

b-Những bất cập cần giải quyết.
Mặc dù kinh tế nước ta đang dần mạnh lên, song thật sự Việt Nam vẫn là một trong
những nước thuộc nhóm quốc gia ngèo trên thế giới. Trong những nưm qua, cơ chế quản
lý mặc dù đã tác động góp phần làm chuyển biến tình hình, nhưng rõ ràng vẫn còn bị hạn
chế và chưa đủ sức để cho nền kinh tế vận động thoát ra khỏi quỹ đạo trì trệ, kém hiệu quả
.
Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu tính hệ thống, tính phối hợp, nhiều văn bản
pháp luật cùng điều chỉnh một loại kinh tế còn mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở hoặc triệt
tiêu hiệu lực của nhau.
Hệ thống pháp luật kinh tế của nước ta còn thiếu đồng bộ. Sự không đồng bộ tồn tại
ngay trong cùng một lĩnh vực cần phải điều chỉnh bằng pháp luật, chưa chưa nói là thiếu
đồng bộ giữa các lĩnh vực khác nhau.
Việc tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật kinh tế còn chưa tương xứng do
nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính bắt nguồn từ ý thức và trình độ văn hoá
pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kinh tế.
Cải cách hành chính nhà nước còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới kinh tế, bộ

mắt vấn đề có ý nghĩa quan trọng hang đầu để chống tụt hậu xa là đảm bảo tăng trưởng
kinh tế cao và ổn đinh.
Vấn đề có ý nghĩa quyết định để có thể tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là phải
đảm bảo các điều kiện về giải quyết các mối quan hệ trong quá trình tăng trưởng.
 Phải có đủ nguồn vốn để cung cấp cho nhu cầu về vốn của thị trường.
 Phải có một nền công nghệ cao, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế. Muốn
vậy phải có chiến lược phát triển khoa học công nghệ, trong đó vừa nghiên cứu
cơ bản vừa nghiên cứu ứng dụng.
 Phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thúc đẩy và tạo môi trường lành
mạnh cho sự phát triển của các thành phần kinh tế.
 Cần phải nâng cao chất lượng lao động. Tăng cường cho đầu tư giáo dục, cố
gắng đảm bảo cho mọi người lao động có việc làm
 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát.
 Giải quyết tổt mối quan hệ giữa tăng trưởng và dân số.
 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và phân phối thu nhập.
 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và thị trường.
 Đổi mới cơ chế quản lý và cải cách lại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước.

thực hiện sứ mệnh “Xây dựng một nền kinh tế phát triển hoạt động theo cơ chế thị
trường có sự định hướng XHCN của Nhà nước”.

Mục lục
A.phần mở đầu.

B.nội dung.
I-Lý luận chung về nhà nước, nền kinh tế thị trường ở việt nam và vai trò của
nhà nước trong nền kinh tế.
1-Lý luận về nhà nước.
a-Khái niệm nhà nước.
b-Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước.
2-Lý luận về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
a-Mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước.
b-Sự biểu hiện của vai trò nhà nước trong các nền kinh tế thị trường hiện đại.
3-Khái quát chung nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
a-Ưu và nhược của cơ chế thị trường.
b-Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
c-Tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở Việt
Nam.
II-Vai trò của nhà nước trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
1-Vai trò quản lý của nhà nước với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status