Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, một trong
những mục tiêu quan trọng đó là tạo nguồn ngoại tệ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa- hiện đại hoá đất nước. Do vậy đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu là biện pháp
hữu hiệu.
Thị trường EU là thị trường lớn, với nhu cầu nhập khẩu cao phần lớn là
nguyên liệu, may mặc, giày da, thuỷ sản...Mọi doanh nghiệp đều muốn thâm nhập
vào thị trường đầy tiềm năng này. Nhưng bên cạnh đó, cạnh tranh trên thị trường
này cũng hết sức khốc liệt. Đối với nước ta, EU luôn được coi là đối tác lâu dài và
ổn định. Nước ta đã xuất khẩu nhiều mặt hàng sang thị trường EU như dệt may,
giày dép, thủ công mỹ nghệ...Trong đó ngành giày dép đóng vai trò quan trọng
trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang EU. Thị trường giày dép đã dần
khẳng định được vị thế của mình trên thị trường này thể hiện kim ngạch xuất khẩu
trong những năm gần đây liên tục tăng. Nhưng những thành tích đó vẫn chưa
xứng đáng với tiềm năng của ngành.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều khó khăn, mặt hàng giày dép của nước ta đã bị
kiện bán phá giá trên thị trường EU- điều này ảnh hưởng nhiều đến kim ngạch
xuất khẩu của ngành đồng thời còn ảnh hưởng nhiều đến đời sống lao động. Do
vậy cần có những biện pháp để tránh cho nước ta có nguy cơ mất thị trường đầy
tiềm năng. Do vậy tôi lựa chọn đề tài:"Thúc đẩy xuất khẩu giày dép sang thị
trường EU của các doanh nghiệp."
Mục tiêu của đề tài:" Từ cơ sở lý luận và đánh giá một cách khách quan ưu,
nhược điểm cũng như những thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp xuất
khẩu giày dép trong thời gian qua, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy
xuất khẩu sản phẩm giày dép sang thị trường EU của các doanh nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu, với thời gian có hạn và tính chất phức tạp của
vấn đề nghiên cứu nên đề án này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em
mong được sự đóng góp, phê bình từ phía người đọc để đề tài sẽ có giá trị thực
tiễn hơn.
Trong khi thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ của giáo viên
về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương mà sản xuất trong nước đang cần.
Gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu mà trong đó, bên đặt ở nước
ngoài cung cấp máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu hoặc bán thành phẩm the
Phạm Thị Nhàn 2 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
yêu cầu của bên đặt gia công và nhận về một khoản thù lao ( phí gia công ) mà hai
bên đã thoả thuận từ trước.
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu mà theo đó hàng hoá
được thực hiện theo nghị định thư giữa các chính phủ của hai nước. Ưu điểm của
hình thức này là giá cả hàng hóa dễ được chấp nhận, khả năng thanh toán tốt.
Như vậy tuỳ thuộc vào khả năng của từng doanh nghiệp mà doanh nghiệp
có thể lựa chọn theo các hình thức xuất khẩu khác nhau sao cho phù hợp với doanh
nghiệp và đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu
-Vai trò đối với đất nước.
Mở rộng và đẩy mạnh xuất khẩu làm tăng nguồn ngoại tệ cho ngân sách
nhà nước, từ đó tạo cơ hội cho việc thúc đẩy hoạt động nhập khẩu máy móc thiết
bị, công nghệ hiện đại nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hoá
đất nước.
Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, vùng kinh tế,
sản xuất phát triển theo chiều rộng và cả theo chiều sâu. Đồng thời khi hoạt động
xuất khẩu phát triển góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp; từ đó
góp phần ổn định đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Mặt khác, nó cũng góp phần mở rộng mối quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại
giao của nước ta với các nước trên thế giới.
- Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Đối với doanh nghiệp mục tiêu quan trọng là tạo ra lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến hoạt động kinh doanh của mình
nhằm tăng năng lực sản xuất, tăng sức cạnh tranh nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu sản phẩm, hàng hoá ra thị trường thế giới. Xuất khẩu không chỉ đóng vai trò
tế.
Nghiên cứu thị trường theo nghĩa rộng là quá trình điều tra để tìm triển
vọng bán hàng cho một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phương
pháp thực hiện mục tiêu đó. Qúa trình nghiên cứu thị trường thực chất là quá trình
thu thập thông tin, số liệu về thị trường, so sánh, phân tích những số liệu và rút ra
kết luận, từ đó đề ra biện pháp thích hợp đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp Việt Nam muốn thâm nhập thị trường EU thì điều quan
trọng là phải có đầy đủ thông tin về thị trường EU để có thể đề ra các phương án
Phạm Thị Nhàn 4 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hay chiến lược kinh doanh phù hợp. Các doanh nghiệp cần trang bị cho mình
những kiến thức về thị hiếu, phong tục, thu nhập...của người dân.
EU là một thị trường khó tính, người tiêu dùng yêu cầu sản phẩm có chất
lượng cao và đặc biệt yếu tố quyết định khi họ lựa chọn sản phẩm là sản phẩm đó
phải có thương hiệu. Những xu hướng tiêu dùng của người dân Châu Âu ngày
càng thể hiện sự chú trọng hơn nữa vào chất lượng, kiểu dáng, xu hướng thời trang
của thế giới...
Khi các doanh nghiệp tham gia thị trường xuất khẩu thì có rất nhiều vấn đề
cần được giải quyết và chính giai đoạn nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho doanh
nghiệp giải quyết được những thắc mắc. Nghiên cứu thị trường giúp doanh nghiệp
giải quyết các câu hỏi sau:
- Nước nào là thị trường có triển vọng đối với các sản phẩm của doanh
nghiệp?
- Số lượng hàng hóa bán ra là bao nhiêu?
- Sản phẩm có những thích ứng trước đòi hỏi của thị trường như thế nào?
- Các doanh nghiệp tham gia bán sản phẩm đó trên thị trường như thế nào?
- Lựa chọn phương thức bán hàng cho phù hợp?
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường doanh nghiệp có thể áp dụng 2 phương
pháp để có thể thu thập thông tin cần thiết đó là phương pháp nghiên cứu tại bàn
và phương pháp nghiên cứu tại hiện trường. Hai phương pháp này hỗ trợ lẫn nhau
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu
- Thực hiện các hoạt động điều chỉnh và viết báo cáo.
1.2.2 Xác định nhu cầu của thị trường xuất khẩu
Sau khi nghiên cứu thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ xác định cho
mình thị trường mục tiêu của doanh nghiệp. Để cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu
quả thì nhất thiết doanh nghiệp cần phải xác định chính xác nhu câu của thị
trường là như thế nào, để từ đó đưa ra được chiến lược sản xuất kinh doanh phù
hợp với doanh nghiệp và có hiệu quả cao.
Nghiên cứu thị trường đã giúp cho doanh nghiệp xác định được phong tục
tập quán, thị hiếu tiêu dùng, thu nhập, và dự đoán được khả năng thanh toán của
khách hàng. Từ đó đưa ra những chiến lược sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng.
Phạm Thị Nhàn 6 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3 Ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi nghiên cứu và lựa chọn được thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ
tiến hành giao dịch và ký kết hợp đồng. Để có thể ký kết hợp đồng mua bán với
nhau, hai bên mua bán thường phải tiến hành giao dịch, thương lượng về các điều
kiện giao dịch. Các bước giao dịch thường diễn ra như sau:
- Hỏi giá (inquiry): Về phương diện pháp luật thì đây là lời thỉnh cầu bước
vào giao dịch, nhưng xét về phương diện thương mại thì đây là việc người mua đề
nghị người bán báo cáo cho mình biết giá cả và các điều kiện để mua hàng.
Người mua có thể hỏi về: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, địa
điểm giao hàng, phương thức thanh toán...
- Phát giá hay chào hàng ( offer): luật pháp coi đây là lời đề nghị ký hợp
đồng và như vậy phát giá có thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Nhưng
trong buôn bán thì phát giá lại là chào hàng, là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý
định bán hàng của mình.
Trong chào hàng người ta nêu rõ: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số
lượng...
Nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty hoặc một
địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng và đảm bảo điều kiện
xuất khẩu được.
Công tác thu mua tạo nguộn hàng cho xuất khẩu là một hệ thống nghiệp vụ
trong kinh doanh mua bán, trao đổi hàng hoá nhằm tạo ra nguồn hàng cho xuất
khẩu.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng
trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, thực hiện chuyên môn hoá,
phân công lao động xã hội trên phạm vi quốc tế, tiết kiệm nhân công giảm lao
động dư thừa đồng thời góp phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng theo
đúng tiêu chuẩn. Có nhiều hình thức tạo nguồn hàng xuất khẩu như mua theo đơn
đặt hàng, theo hợp đồng gia công...hoặc thông qua liên doanh, liên kết, đại lý...
Tạo nguồn hàng xuất khẩu gồm các nội dung sau: nghiên cứu nguồn hàng
xuất khẩu, tổ chức thu mua hàng cho xuất khẩu, ký kết hợp đồng trong tạo nguồn,
xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu, tiếp nhận bảo quản và xuất kho giao
hàng.
Phạm Thị Nhàn 8 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.5 Tổ chức việc thực hiện xuất khẩu
Sau khi doanh nghiệp đã có hàng hoá xuất khẩu theo đúng yêu cầu của đối
tác nước ngoài, doanh nghiệp sẽ tổ chức bán hàng ra nước ngoài. Việc bán hàng
dựa trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp và đối tác. Doanh nghiệp
phải lựa chọn cho mình phương thức bán hàng xuất khẩu và chi phí thấp nhất song
lại tối ưu và hiệu quả nhất. Việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu cần thực
hiện các yêu câu sau:
- Xin giấy phép xuất khẩu.
- Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
- Kiểm tra chất lượng hàng hoá.
- Thuê tàu lưu cước
- Mua bảo hiểm
Mọi doanh nghiệp khi quyết định xuất khẩu hàng hoá vào thị trường nào đó
cần nghiên cứu vấn đề kinh tế của thị trường đó. Đây là vấn đề quan trọng, là yếu
tố tiên quyết để có thể khẳng định quốc gia đó có hấp dẫn doanh nghiệp tiến hành
hoạt động xuất khẩu hay không?
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp: như thu nhập của người dân, mức sống của dân cư, nhu câu tiêu
dùng của người dân, khả năng chi trả của người dân... do vậy cũng ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn thu được lợi nhuận cao, mức tiêu thụ lớn thì quốc gia
nhập khẩu mà doanh nghiệp lựa chọn phải có nền kinh tế ổn định, tăng trưởng
đều... Như vậy thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị
trường, và có thể ổn định được sức mua của người tiêu dùng. Ngược lại, nếu
doanh nghiệp quyết định xuất khẩu hàng hoá vào quốc gia có nền kinh tế biến
động thì thị trường kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ không ổn định, do vậy sẽ
gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp khó có
Phạm Thị Nhàn 10 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thể thâm nhập vào thị trường đó và sẽ không thể nghĩ tới việc mở rộng thị trường
kinh doanh của mình.
- Nhân tố chính trị, pháp luật.
Tình hình chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế
của quốc gia đó. Và chính trị cũng là nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất
khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp vào quốc gia đó.
Chính trị thường gắn liền với kinh tế của mỗi quốc gia. Chính trị không ổn
định sẽ không thể tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh.
Đồng thời nếu nước đó có nền chính trị thông thoáng sẽ có nhiều chính sách tạo cơ
hội cho doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường. Chính trị không ổn định thì kinh
tế rất khó có thể phát triển. Do đó nếu doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá vào quốc
gia có nền chính trị ổn định thì sẽ rất có lợi cho hoạt động xuất khẩu. Đặc biệt, nếu
nước xuất khẩu lại có mối quan hệ chính trị ngoại giao tốt đẹp với nước ta thì việc
có phù hợp với phong cách tiêu dùng của nước nhập khẩu hay không? nếu không
quan tâm đến vấn đề đó thì doanh nghiệp không thể đưa sản phẩm của mình chiếm
lĩnh thị trường. Để làm tốt vấn đề này thì doanh nghiệp cần phải tăng cường công
tác nghiên cứu thị trường và nhu cầu của khách hàng nhằm đưa ra sản phẩm phù
hợp. Với mọi nền văn hoá thì đính hướng sản phẩm và các hoạt động khác theo
nền văn hoá của nước nhập khẩu chứ không nên cố gắng thay đổi phong cách tiêu
dùng của nước nhập khẩu. Riêng đối với sản phẩm giày dép thì ngoài những yếu
tố trên còn chiụ sự tác động của yếu tố thời trang. Đây là yếu tố đầu tiên mà doanh
nghiệp cần phải quan tâm khi tiến hành kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhân tố khoa học - công nghệ
Khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá
trình kinh doanh thì sẽ làm giảm chi phí cho hoạt động kinh doanh, làm tăng hiệu
quả sản xuất của doanh nghiệp. Đặc biệt với tốc độ phát triển của khoa học- kỹ
thuật ngày nay thì tác động của khoa học kỹ thuật ngày càng trở nên sâu sắc thì
ảnh hưởng của nó tới hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mạnh mẽ. Máy
móc thiết bị tham gia vào hẩu hết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên
yếu tố này lại càng trở nên quan trọng. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu việc tiến
hành cải tiến máy móc. thiết bị sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng năng suất
lao động, giảm giá thành sản phẩm, và nâng cao chất lượng hàng hoá... Từ đó
giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể cạnh tranh được với các hàng hoá
Phạm Thị Nhàn 12 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khác có mặt trên thị trường. Đồng thời trong quá trình vận chuyển hàng hoá, bảo
quản hàng hoá công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm lượng hao phí
và chi phí, thời gian...
Đặc biệt, EU có ngành công nghiệp giầy từ rất lâu với quy mô sản xuất lớn
và tiên tiến. Công nghệ sản xuất, máy móc, dây chuyền sản xuất giày của EU luôn
được đầu tư và đổi mới, nâng cao, đạt tới trình độ tinh xảo. Do đó mà sản phẩm
giày mà thị trường sản xuất ra có chất lượng cao và tinh xảo. Đây cũng là một khó
thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc sản xuất hàng hoá, sản phẩm và thâm nhập
thị trường. Chất lượng của sản phẩm hàng hoá sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào
nguyên vật liệu và trình độ lao động. Nên nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các yếu
tố đầu vào thì sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thuận
lợi đồng thời sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá
và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam thì nguyên vật liệu chủ yếu là nhập
khẩu từ nước ngoài, giá nhập khẩu cao làm cho giá thành sản phẩm tăng lên. Đồng
thời, nguyên vật liệu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu nên các doanh nghiệp không
chủ động được nguyên vật liệu đầu vào gây khó khăn cho sản xuất.
Do vậy doanh nghiệp cần phải chủ động hơn trong việc cung ứng nguyên
vật liệu, phải tận dụng triệt để nguồn nguyên liệu trong nước: giá rẻ, ổn định...
- Nguồn lao động
Lao động là yếu tố không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh doanh trong
bất cứ doanh nghiệp nào. Lao động là người trực tiếp tạo nên sản phẩm do đó trình
độ của người lao động là rất quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm và tạo nên giá
trị của sản phẩm. Đối với các quốc gia có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công
rẻ sẽ làm cho chi phí sản xuất sản phẩm giảm tạo điều kiện mở rộng và phát triển
thị trường xuất khẩu.
Đối với ngành giày dép, lao động chủ yếu là lao động giản đơn, có thể đào
tạo tại chỗ, vừa học vừa làm. Đồng thời nước ta có thuận lợi là một nước đông
dân, số người trong độ tuổi lao động lớn nên rất thuận lợi cho ngành giày dép.
Song với yêu cầu của thị trường đòi hởi doanh nghiệp cần phải tạo ra
những sản phẩm chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quy định do vậy doanh nghiệp cần
có biện pháp đào tạo người lao động, tạo cho người lao động có trình độ cao, có
Phạm Thị Nhàn 14 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tác phong công nghiệp, có khả năng sử dụng máy móc công nghệ hiện đại và tạo
ra sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
- Máy móc, trang thiết bị, công nghệ
THỜI GIAN QUA
2.1 Khái quát về ngành giày dép Việt Nam và đặc điểm thị trường EU
2.1.1 Đặc điểm và vai trò hoạt động xuất khẩu giày dép.
Đặc điểm
Giày dép luôn là mặt hàng có nhu cầu trên thị trường, được sự quan tâm
của tất cả mọi người, mọi lứa tuổi. Do vậy thị trường tiêu thụ giày dép là rất lớn.
Đồng thời ngành giày dép là ngành có hàm lượng chế biến cao, kỹ thuật sản xuất
đơn giản, tốc độ thay đổi kiểu dáng và mẫu mã nhanh. Việc sản xuất giày trên thị
trường có thể phát triển trên mọi vùng kinh tế, sản xuất không cần đòi hỏi quy mô
lớn, ít phụ thuộc vào biến động toàn cầu về năng lượng, nhiên liệu, nhưng lượng
giày dép tiêu thụ trên thị trường lại rất lớn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tốc
độ tăng trưởng dân số hàng năm, mức tăng thu nhập và yếu tố giá cả.
Khi thu nhập của người dân càng cao thì nhu cầu về giày dép của người
tiêu dùng càng lớn đồng thời là yêu cầu về chất lượng sản phẩm, về chủng loại,
kiểu dáng đặc biệt là tính thời trang của sản phẩm càng cao.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu giày dép sang thị trường nước ngoài thì
cần phải gắn sản phẩm của mình với thị hiếu và thói quen tiêu dùng, đời sống văn
hoá của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu.
Thị trường giày dép ở 27 nước Châu Âu ( EU) có nhữn đặc trưng riêng,
song vẫn có những đặc điểm chung. Các đặc điểm chung này tạo nền tảng cơ bản
mang tính định hướng, đón đầu cho bất cứ doanh nghiệp nước ngoài nào. EU là
một thị trường đầy tiềm năng trong việc xuất khẩu giày dép của nước ta. Nhiều
năm qua, lượng giày dép nước ta xuất vào thị trường này đều đạt trên 70%. Do đó,
cơ hội sẽ mở ra ngày càng nhiều cho Việt Nam. Các đặc điểm chung của thị
trường giày EU:
- Sự già hoá dân số
Dân số EU đang có xu hướng già đi. Nhiều nhà xã hội học châu Âu đều có
chung nhận định rằng, xu hướng này sẽ diễn ra mạnh hơn trong tương lai, đặc biệt
Phạm Thị Nhàn 17 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan trọng nhất đối với người tiêu dùng Đức, cho dù sản phẩm đó thuộc thương
Phạm Thị Nhàn 18 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiệu nào. Và số lượng người mua sắm theo quan điểm này chiếm đến 70% thị
trường giày dép ở Đức.
Các nhà xuất khẩu nhiều kinh nghiệm dự báo, người tiêu dùng EU đang bắt đầu
thú vị với những sản phẩm làm nên sự thoải mái hơn là các sản phẩm sang trọng,
lịch lãm.
- Thời trang và nữ giới
Các sản phẩm giày dép tuy không cần lịch lãm sang trọng như đã nêu trên
song vẫn phải thời trang. Người tiêu dùng châu Âu, đặc biệt là phái nữ có 2
khuynh hướng thời trang trong việc lựa chọn giày dép.
Một là, sản phẩm đó có mẫu mã đơn giản, giá cả trung bình nhưng phải đặc biệt
trong chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, phụ kiện trang trí.
Hai là, sản phẩm đó không đẹp nhưng phải có tính bền cao, thể hiện cá tính
mạnh. Ngoài ra, khoảng hơn một nửa doanh thu xuất khẩu giày dép vào EU của họ
tập trung vào nhóm giày dép nữ có mẫu mã đơn giản nhưng mang tính thời trang
cao. Trong nhiều năm tới, sản phẩm thời trang cho nữ được nhận định là rất tiềm
năng.
Hiện nay, người tiêu dùng nữ luôn chiếm xấp xỉ 50% tại các thị trường giày
dép ở Anh, Pháp, Đức. Dự báo tỷ lệ lao động nữ sẽ tăng mạnh tại các quốc gia Ý,
Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hy Lạp trong nhiều năm tới. Điều
đó sẽ góp phần làm gia tăng giá trị cho thị trường giày dép thời trang tại các quốc
gia này. Đây sẽ là cơ hội cho những nhà xuất khẩu giày dép các nước nói chung và
nước ta nói riêng.
Vai trò
Ngành giày dép có kim ngạch ngày càng tăng trong hệ thống các mặt hàng
chủ lực. Hiện nay, ngành công nghiệp giày dép đang phát triển rất nhanh. Ngành
giày dép là một trong ba ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất nước ta
đứng sau dầu thô và dệt may, chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
lao động, an sinh xã hội, thâm hụt ngân sách, chính sách đối ngoại, an ninh phòng
thủ chung...
Đồng tiền chung châu Âu (Euro) sau 21 năm đã được lưu hành tại 12 nước thành
viên từ 1/1/2002, kết thúc quá trình nhất thể hoá về tiền tệ, một sự kiện quan trọng
thứ 2 sau việc Mỹ quyết định chấm dứt đổi USD ra vàng, làm cho vị thế của USD
bị hạ thấp.
Phạm Thị Nhàn 20 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hiện nay, với dân số đông trên 500 triệu người, đời sống cao vào loại nhất
thế giới, nhu cầu giày dép là rất lớn. Mỗi người dân một năm trung bình tiêu dùng
khoảng từ 4 đến 5 đôi giày. EU là thị trường giày lớn nhất thế giới, đồng thời cũng
có ngành sản xuất giày dép từ rất lâu đời với quy mô sản xuất lớn và tiên tiến.
Công nghệ sản xuất, máy móc, dây truyền sản xuất luôn được đầu tư đổi mới và
nâng cao đạt tới trình độ tinh xảo. Ngành công nghiệp này có vai trò quan trọng
trong việc giữ ổn định, tăng trưởng, duy trì lượng cung cấp giày dép ổn định và
chất lượng cao, tinh xảo, thời trang cho thị trường thế giới. Trong đó, Italia là
nước có vai trò chủ chốt trong công nghiệp giày khu vực Châu Âu. Quốc gia này
có quy mô sản xuất giày lớn nhất, sản lượng đứng đầu, chất lượng cao nổi tiếng
trên thế giới. Nhưng sức sản xuất giày của EU vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu.
Đồng thời, EU là thị trường khó tính người tiêu dùng yêu cầu sản phẩm có chất
lượng cao và đặc biệt khi họ quyết định mua sản phẩm thì sản phẩm đó phải có
thương hiệu nổi tiếng. Xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng Châu Âu càng thể
hiện sự chú trọng cao hơn về chất lượng, kiểu dáng, xu hướng thời trang của thế
giới. Thị trường EU về cơ bản có những nhóm người tiêu dùng sau:
- Nhóm 1: có khả năng thanh toán cao, chiếm gần 20% dấn số EU, dùng
hàng chất lượng tốt nhất, giá cả đắt nhất hoặc những hàng hoá hiếm, độc đáo.
- Nhóm 2: có khả năng thanh toán trung bình, chiếm khoảng 68% dân số
EU, sử dụng hàng hoá chất lượng, giá cả thấp hơn nhóm 1.
- Nhóm 3: có khả năng thanh toán thấp, chiếm khoảng 10% dân số EU, sử
dụng hàng hoá chất lượng, giá cả thấp hơn nhóm 1 và nhóm 2.
Khoa học kỹ thuật với các mục tiêu:
- Đảm bảo các điều kiện cần thiết thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư
trên cơ sở cùng có lợi và dành cho nhau quy chế tối huệ quốc.
- Trợ giúp phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam , đặc biệt chú trọng cải
thiện đời sống cho các tầng lớp dân cư nghèo.
- Trợ giúp các nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế theo
cơ chế thị trường.
- Trợ giúp nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên
thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững.
Cùng với các Hiệp định giày dép, thoả thuận Việt Nam gia nhập WTO ký
năm 2004, quan hệ thương mại giữa EU với Việt Nam đã bước sang thời kỳ phát
Phạm Thị Nhàn 22 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
triển mới, mạnh mẽ và toàn diện hơn.
Việt Nam nhập khẩu từ EU nhiều máy móc, thiết bị công nghệ nguồn chất
lượng cao chiếm 10% kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu gồm thiết bị toàn bộ, máy,
phụ tùng, phương tiện vận tải bao gồm cả máy bay, tàu biển, ô tô, xe lửa, nguyên
liệu, hoá chất, tân dược, phân bón, vật liệu xây dựng, sắt thép, sản phẩm cơ khí,
hàng tiêu dùng cao cấp… Tuy vậy, thương mại dịch vụ chưa phát triển.
EU đồng thời là nhà cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam trong 19 lĩnh
vực gồm các dự án quản lý kinh tế, quản trị phát triển, tài nguyên, nông lâm thuỷ
sản, phát triển vùng, công nghiệp, năng lượng, thương mại, vận tải, truyền thông,
xã hội, y tế, phòng chống thiên tai, viện trợ nhân đạo, hỗ trợ về giới tính v.v…
Trong đó, các lĩnh vực/ngành nghề được tài trợ nhiều nhất là nông lâm thủy sản
(17,58%), tài nguyên (13,15%), y tế (9,59%), phát triển xã hội (9,58%). Ngoài ra,
các nước thành viên EU còn cung cấp vốn ODA thông qua các tổ chức tài chính đa
phương.
Hiện nay 19 trong số 27 nước thành viên EU có các dự án đầu tư vào Việt
Nam. Tính đến 3/2006, EU có 551 dự án với tổng vốn đăng ký 7,34 tỷ USD, thực
hiện 4,06 tỷ USD. Trong đó, Pháp dẫn đầu với 168 dự án tổng vốn đầu tư 2,8 tỷ
Bảng 1 : Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam 2004-2008
Đơn vị :( triệu USD)
Năm 2004 2005 2006 2007 KH 2008
Kim ngạch 26485 32420 39826 48000 57120
Biểu đồ 1 : Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 2003-2008
Phạm Thị Nhàn 24 Lớp: Thương mại 47B
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.2 Hoạt động xuất khẩu giày dép thời gian qua.
Sản xuất giầy dép của nước ta từ năm 1991 trở về trước, hầu như chỉ có
tiêu thụ nội địa, không có xuất khẩu. Đến năm 1992 ngành Da giầy đã xuất khẩu
được 5 triệu USD và đã liên tục tăng trưởng với tốc độ cao từ năm 1993 đến nay.
Sau 10 năm xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu da giầy đã tăng 369,2 lần, đó là tốc độ
tăng cao nhất so với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác trong thời gian tương
ứng.
Ngành da giày nước ta là ngành công nghiệp đạt vị trí thứ ba về kim ngạch
xuất khẩu, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Là
ngành có định hướng xuất khẩu rõ rệt (chiếm trên 90% sản lượng sản xuất), tỷ lệ
xuất khẩu của ngành luôn chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Việt Nam luôn là 1 trong 10 nước sản xuất và xuất khẩu giày lớn nhất thế
giới.
Trong số các thị trường xuất khẩu chủ yếu, EU là thị trường xuất khẩu giày
lớn của ngành giày da Việt Nam, hàng năm có khoảng 90% sản phẩm do ngành
sản xuất được xuất khẩu sang các thị trường, trong đó thị trường EU chiếm tỷ
trọng 59%. Hiện tại, hàng giày da của nước ta xuất sang thị trường EU đứng thứ 2
sau Trung Quốc và chiếm tỷ trọng lớn trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường EU. Các năm trước EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất nhưng
trong những tháng đầu năm 2008 thì Mỹ đã vươn lên đứng đầu.
Bên cạnh đó, khi xuất khẩu hàng hoá sang thị trường EU, hàng hoá nước ta
cũng gặp nhiều khó khăn. Ngày 07/07/2005 Uỷ ban châu Âu (EC) chính thức
thông báo quyết định mở cuộc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm mũ da