THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TỪ CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HOÀ BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA - Pdf 68

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TỪ CÁC DOANH NGHIỆP TRONG
NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
HOÀ BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA
1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Hoà Bình.
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hoà Bình.
1.1.1. Vị trí địa lý.
Hoà Bình là tỉnh miền núi thuộc tiểu vùng Tây Bắc của vùng Trung du miền núi
Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 4596.4 km
2
, chiếm 1.41 % diện tích của cả nước. Phía
Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Tây giáp
tỉnh Sơn La và Thanh Hoá; phía Đông giáp thành phố Hà Nội.
Toàn tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố và 210 xã phường, thị trấn (trong đó có 193
xã, 6 phường, 11 thị trấn), có 63 xã vùng cao thuộc huyện Mai Châu, Đà Bắc và một số
xã thuộc huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong. Hiện nay các xã thụ hưởng
chương trình 135 là 94 xã, trong đó có 70 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và 24 xã
vùng ATK.
Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc xuống vùng đồng bằng Sông
Hồng trù phú, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 76 km theo đường quốc lộ, có vị trí quan
trọng trong chiến lược phòng thủ khu vực và cả nước. Tỉnh có mạng lưới giao thông
đường bộ và đường thuỷ tương đối phát triển so với các tỉnh trong vùng, trong đó có
các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua như đường Hồ Chí Minh, trong tương lai
là đường cao tốc đi Hoà Lạc - Hà Nội… Mạng lưới giao thông phân bố khá đều khắp,
kết nối Hoà Bình với các tỉnh trong khu vực và các huyện trong tỉnh khá thuận lợi.
Hoà Bình có nguồn điện lực lớn, có thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất cả nước và hồ
Hoà Bình ngoài tác dụng cung cấp năng lượng cho nhà máy, còn có tác dụng quan
trọng trong việc điều tiết nước cho hệ thống sông Hồng.
1.1.2. Đặc điểm địa hình.
Điểm nổi bật của địa hình Hoà Bình là núi cao, chia cắt phức tạp không có các
cánh đồng rộng như Lai Châu và Sơn La. độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, chia thành hai vùng rõ rệt:

C, thấp nhất 5
o
C vào tháng 12 và tháng 1, ở vùng núi
cao có nơi nhiệt độ xuống tới 2
o
C, lượng mưa từ 100 - 200 mm (chiếm 10% lượng mưa
cả năm).
1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên đất: diện tích đất tự nhiên của Hoà Bình là 4596,4 km
2
, đất Hòa Bình
gồm 3 nhóm chính: nhóm feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất kết cấu hạt thô
trên các loại đá chủ yếu là sa thạch Pocfirit Spilit. Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích
và biến chất có kết cấu hạt mịn trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch. Nhóm
Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi.
Đất đai Hoà Bình có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng. Với hàng
trăm ngàn ha đất gồm các lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích khác
nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp. Phần đất trống, đồi núi trọc khó phát
triển nông nghiệp và trồng rừng có diện tích khá lớn thuận lợi cho việc phát triển và mở
rộng các khu công nghiệp.
- Tài nguyên nước: Tỉnh Hoà Bình có mạng lưới sông, suối phân bổ khắp trên tất
cả các huyện, thành phố. Nguồn cung cấp nước lớn nhất của Hòa Bình là sông Đà chảy
qua các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn với tổng chiều dài 151 km. Hồ
sông Đà với diện tích mặt nước khoảng 8.000 ha, dung tích 9.5 tỷ m
3
ngoài nhiệm vụ
cung cấp điện cho Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và
cung cấp nước cho vùng Đồng bằng sông Hồng.
Ngoài ra, Hòa Bình còn có 2 con sông lớn nữa là sông Bôi và sông Bưởi cùng
khoảng 1.800 ha ao hồ, đầm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh. Đây cũng là nơi trữ nước,

antimon, pyrit, photphorit... có trữ lượng ở các mức độ khác nhau.
Thế mạnh về khoáng sản của tỉnh là đá để sản xuất vật liệu xây dựng, nguyên liệu
sản xuất ximăng, nước khoáng khai thác với quy mô công nghiệp.
- Tài nguyên du lịch thiên nhiên: Tỉnh Hoà Bình có tài nguyên du lịch tự nhiên rất
phong phú, đa dạng, bao gồm các sông, hồ; suối nước khoáng, các khu bảo tồn thiên
nhiên, vườn quốc gia.
Hoà Bình có hệ thống sông suối phong phú, với các sông lớn là sông Đà, sông
Bôi, sông Bưởi. Ngoài ra tỉnh còn có số lượng các hồ, đầm khá lớn, góp phần quan
trọng cho việc điều hoà khí hậu trên địa bàn, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho phát
triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng. Có ý nghĩa nhất đối với du lịch Hoà Bình phải
kể đến hồ Hoà Bình với diện tích mặt nước khoảng 10.000 ha. Với dung tích nước lớn
và hơn 40 đảo nổi trong hồ, đây là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển thuỷ sản, du
lịch tham quan, du lịch sinh thái.
Nguồn nước khoáng phong phú cũng là thế mạnh đối với việc phát triển du lịch
của Hoà Bình. Trong đó đáng kể nhất là suối nước khoáng Kim Bôi thuộc địa phận xã
Hạ Bì, huyện Kim Bôi. Cho đến nay, đã phát hiện được 3 điểm nước khoáng phân bố
quanh rìa khối granit Kim Bôi là Mớ Đá, Quy Hoà, Sào Bảy thuộc hai nhóm nước
khoáng Bicacbonat, Sunfat canxi nguồn gốc hoà tan.
Các khu vực có đa dạng sinh học cao, có giá trị đối với phát triển du lịch, đặc biệt
là du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Hoà Bình phải kể đến bao gồm khu bảo tồn thiên
nhiên Hang Kia - Pà Cò, Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, Pù Luông (chung với
Thanh Hoá), Phu Canh, Ngọc Sơn, Vườn Quốc Gia Cúc Phương (chung với Ninh Bình
và Thanh Hoá), Vườn Quốc Gia Ba Vì (chung với Hà Tây) và khu bảo tồn đất ngập
nước lòng hồ Hoà Bình.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: có 158 di tích (mật độ 3,4 di tích /100 km
2
) các loại
được đưa vào danh mục di tích gồm có 80 di tích khảo cổ, 44 di tích lịch sử văn hoá và
34 di tích thắng cảnh. Trong đó có 31 di tích đã được Bộ Văn Hoá - Thông tin công
nhận và cấp bằng xếp hạng, 6 di tích xếp hạng đặc biệt quan trọng đối với tỉnh. Địa bàn

Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 2005 2007
Tốc độ tăng trưởng (%)
2001-2005 2006-2007
Tổng GDP, giá 1994 1.580,5 2.313,8 2.826,0 7,9 10,5
1. Khu vực KT trong nước 1.577,4 2.283,4 2.771,8 7,7 10,2
Nhà nước 447,5 616,0 780,6 6,6 12,6
Tập thể 4,2 16,3 32,5 44,6 11,2
Tư nhân và cá thể 1.125,7 1.641,1 1.958,7 7,8 9,2
2. Khu vực có vốn ĐTNN 7,6 30,4 54,2 31,8 33,6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hoà Bình 2006, 2007.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ
trọng công nghiệp, xây dựng, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm ngư nghiệp, đã có những
cải thiện trong cơ cấu của từng ngành sản phẩm, cơ cấu thành phần kinh tế, xuất hiện
những sản phẩm mới với công nghệ tiên tiến hơn trong công nghiệp, dịch vụ ; chuyển
đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp cũng có những bước tiến nhất định.
Về cơ cấu theo thành phần kinh tế, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng
giảm, khu vực kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhưng sự chuyển dịch
còn chậm, tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn quá nhỏ. Năm 2000, tỷ trọng
kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước là 30.4 %, nhưng đã giảm dần qua các năm và
năm 2005 là 28.2 %. Khu vực kinh tế tư nhân và cá thể tăng mạnh trong tổng giá trị
GDP, năm 2000 là 1256,1 tỷ đồng, năm 2005 là 2433,8 tỷ đồng và đạt giá trị 3612,4 vào
năm 2007.
Bảng 1.3: Cơ cấu theo thành phần kinh tế.
Chỉ tiêu 2000 2005 2007
Tổng GDP, tỷ đồng, giá thực tế 1.824,5 3.525,5 5.267,5
1. Khu vực kinh tế trong nước 1.816,7 3.471,7 5.175,6
Nhà nước 554,8 998,7 1.504,4
Tập thể 5,7 39,2 58,8

Dân số nông thôn ngàn người 667,4 685,7 703,8 0,54 1,31
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hoà Bình 2006, 2007.
Phân bố dân cư: là tỉnh miền núi nhưng mật độ dân số Hoà Bình khá cao, khoảng
177 người/km
2
(năm 2007) (mật độ dân số cả nước năm 2008 là 260 người/km
2
). Trên
địa bàn tỉnh, địa phương có mật độ dân số cao nhất là thành phố Hoà Bình 643,4
ngườì/km
2
(tính riêng các phường nội thị khoảng 1.200 người/km
2
), địa phương có mật
độ dân số thưa nhất là huyện vùng cao Đà Bắc 64,0 người/km
2
, các huyện lớn và đông
dân như Kim Bôi 209.4 người/km
2
.
Phân bố dân cư giữa khu vực thành thị (các phường nội thị thành phố Hoà Bình,
các thị trấn trung tâm huyện lỵ) với khu vực nông thôn, giữa các huyện vùng thấp với
các huyện vùng cao có sự chênh lệch rất lớn. Khu vực thành thị đất chật người đông,
khu vực nông thôn mà đặc biệt là vùng núi cao huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc
Sơn dân cư ít, phân tán. Do đặc điểm phân bố dân cư mang tính đặc thù của khu vực
nông thôn miền núi và các yếu tố liên quan khác dẫn đến phát triển kinh tế - xã hội ở
các vùng này gặp nhiều khó khăn; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất…
suất đầu tư cao hơn các vùng khác, rủi ro cao, hiệu quả hạn chế.
- Nguồn nhân lực và trình độ lao động:
Trong thời gian gần đây, số lao động khu vực nông lâm thuỷ sản của tỉnh Hoà

Trong giai đoạn vừa qua, tỉnh Hoà Bình đã thực hiện tốt Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư nhằm tạo môi trường và sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp, các nhà
đầu tư, loại bỏ sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp trên địa bàn, có chính sách
tôn vinh những người sản xuất, kinh doanh giỏi. Hoạt động cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cấp ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp đã được cải tiến theo hướng rút
ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính.
Tỉnh đã tiến hành đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, đẩy mạnh
phát triển công nghiệp ngoài Quốc doanh, triển khai các chính sách thu hút đầu tư, thực
hiện cải cách hành chính, đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi theo hướng hàng hoá có giá trị kinh tế cao… Nhằm thu hút các nhà đầu tư, từ năm
2002 tỉnh đã ban hành hàng loạt các chính sách, chủ trương ưu đãi như: Các chủ đầu tư
có quyền lựa chọn vị trí, diện tích đất xin thuê hoặc giao, tỉnh hỗ trợ về kết cấu hạ tầng,
xây dựng đường điện, hệ thống cấp thoát nước đến hàng rào nhà máy, hỗ trợ kinh phí
đào tạo, tư vấn quy trình và rút ngắn thủ tục, thời gian cấp giấy phép cho các chủ đầu
tư…
Là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế bởi lợi thế về tài nguyên, du lịch, lực
lượng lao động dồi dào…, tuy nhiên Hoà Bình vẫn là tỉnh nghèo, hàng năm ngân sách
Trung Ương phải bổ sung trên 80%. Để thay đổi bộ mặt của tỉnh, Hoà Bình đã thực
hiện chủ trương “trải thảm đỏ để thu hút đầu tư”. Năm 2002, Tỉnh uỷ Hoà Bình ra
thông báo về tăng cường thu hút đầu tư, theo đó UBND tỉnh ra quyết định cụ thể hoá
chủ trương ưu đãi và thủ tục cấp phép đầu tư đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Để thu hút đầu tư, tỉnh đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một
cửa, thực hiện phân cấp quản lý trong xây dựng các cụm công nghiệp, đầu tư xây dựng,
giải phóng mặt bằng… gắn với việc qui định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp,
các ngành tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho các nhà đầu tư. Các thành
phần kinh tế được khuyến khích đầu tư tại các vùng kinh tế động lực, địa bàn trọng
điểm, ưu tiên cho các dự án phát triển thương mại du lịch, thu hút nhiều lao động.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý giúp việc cấp giấy phép, quản lý
và theo dõi các doanh nghiệp sau cấp phép được chặt chẽ, nhanh chóng.. Ưu tiên đào
tạo cán bộ trực tiếp làm công tác thu hút đầu tư và lao động kỹ thuật có trình độ cao

trình mục tiêu quốc gia, hỗ trợ có mục tiêu và các dự án trọng điểm.
Nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn,
đứng thứ hai về quy mô vốn so với các nguồn vốn khác. Nguồn vốn này tập trung đầu
tư vào các dự án công nghiệp, chăn nuôi, một số các dự án ứng dụng công nghệ mới.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), là một nguồn vốn mới của tỉnh, tỷ
trọng còn nhỏ, tuy nhiên vẫn đóng một vai trò quan trọng, những dự án FDI thường tập
trung vào khu du lịch sinh thái, và các nhà máy sản xuất chế biến thực phẩm xuất
khẩu…
Trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước khá cao và tăng dần. Đầu
tư từ khu vực dân doanh tăng khá nhanh, tuy nhiên có tỷ trọng giảm Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài không đáng kể.
Bảng 1.6: Vốn đầu tư phát triển phân theo nguồn vốn.
Đơn vị: Tỷ đồng (giá thực tế)
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2005 Năm 2007
Tốc độ tăng trưởng
2001-2007(%)
Tổng vốn đầu tư phát triển 448.2 2148.2 2696.7 29.2
I. Vốn nhà nước 211.9 1557.5 2235.0 40
1. Vốn ngân sách nhà nước 161.7 846.2 1257.1 34
- Ngân sách trung ương 45.9 253.3 187 22.2
- Ngân sách địa phương 115.8 592.9 1070.1 37.4
2.Vốn tín dụng 48.3 658.5 902.9 51.9
3.Vốn tự có của doanh nghiệp 1.9 52.7 75 69.4
II. Vốn ngoài quốc doanh 236.3 486.7 460 10
III. Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
1 1.4 1.7 29.2
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình đến năm 2020
2.2. Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh
Hoà Bình.

công nghiệp trong GDP chưa ổn định, chiếm 23,6 vào năm 1991 nhưng giảm xuống chỉ
còn 16,3 % vào năm 1995 và tăng lên 17% trong năm 2000.
Để bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế của các tỉnh bạn, Hoà Bình cần phải tiến hành
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần
tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp. Chính vì lý do đó nên từ năm 2000 cho đến nay,
tỉnh có chủ trương tập trung phát triển ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ, đưa tốc
độ tăng trưởng công nghiệp lên 23-24%, dịch vụ 14% trong những năm tới thì cần có sự
tham gia đầu tư hơn nữa của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước.
Do địa hình đồi núi, bị chia cắt nhiều, các nhà đầu tư nước ngoài e ngại khi đầu
tư vào Hoà Bình những dự án có quy mô lớn. Vì vậy, để có thể đạt được mục tiêu phát
triển kinh tế đã đề ra thì tỉnh cần phải thu hút doanh nghiệp trong nước vào đầu tư với
những dự án vừa và nhỏ, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, bước đầu tạo tiền đề
kinh tế để phát triển công nghiệp nặng, dịch vụ, đồng thời tạo ra được mặt hàng công
nghiệp mũi nhọn làm đòn bẩy cho kinh tế phát triển.
2.2.3. Tạo việc làm nâng cao đời sống.
Lao động trong ngành nông lâm ngư nghiệp là 83,6% lao động, chiếm dại bộ phận
dân cư, lao động công nghiệp và xây dựng chiếm 5,7% và lao động dịch vụ chiếm
10,7%. Do đại bộ phận dân số của tỉnh sống bằng nghề nông, nên sản xuất nông lâm
ngư nghiệp tuy không đóng góp nhiều cho Ngân sách nhưng có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong giải quyết việc làm và giữ gìn ổn định xã hội. Tuy nhiên đời sống nông dân
còn nhiều khó khăn, số lượng lao động thất nghiệp mùa vụ lớn, kết quả sản xuất còn
chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ. Để nâng giải quyết việc làm cho người lao
động, để nâng cao hơn nữa đời sống của nhân dân thì chuyển lao động từ ngành nông
nghiệp sang lao động ngành công nghiệp và dịch vụ là cần thiết. Muốn có được điều đó
thì tỉnh phải có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Hiện nay, tỉnh đang phấn đấu bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 16.000
lao động, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt khoảng 85%; tỷ lệ thất
nghiệp đô thị giảm còn 4,8%.
Khi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn tỉnh, một mặt góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế xã hội của tỉnh, mặt khác còn góp phần tạo việc làm nâng cao đời sống

dân các huyện, thành phố có trách nhiệm phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư quản lý
các dự án nêu trên theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Các yêu cầu về hồ sơ, thủ tục liên quan trong quá trình cấp phép đầu tư được phổ
biến đến các nhà đầu tư có nhu cầu và được niêm yết công khai tại Sở Kế hoạch và Đầu
tư để tiện cho việc quản lý và giải quyết.
2/ Thời gian cấp phép đầu tư: kể từ ngày nhận đủ hồ sơ dự án hợp lệ (không tính
thời gian nhà đầu từ phải sửa đổi bổ sung hồ sơ), thời gian cấp phép đầu tư được quy
định như sau:
- Không quá 10 ngày làm việc đối với dự án đăng ký cấp giấy phép đầu tư.
- Không quá 20 ngày làm việc đối với dự án thẩm định cấp giấy phép đầu tư (đối
với dự án cần xin ý kiến của các Bộ, ngành Trung ương thời gian cấp giấy phép đầu tư
không quá 35 ngày làm việc).
3/ Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tiếp xúc với các nhà đầu tư, cung cấp thông
tin, giới thiệu địa điểm đối với các vị trí đất trong quy hoạch; các vị trí khác thống nhất
với Sở Xây dựng, Sở Địa chính và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố; Tìm hiểu
nguyện vọng nhà đầu tư, nếu nhà đầu tư có nguyện vọng đầu tư, Sở Kế hoạch và đầu tư
có trách nhiệm lập văn bàn xác nhận dự án đầu tư, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết
định và hướng dẫn các nhà đầu tư làm các thủ tục tiếp theo.
4/ Sở Kế hoạch và đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ dự án. Trong
thời gian không quá 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đủ hồ sơ dự án theo quy định,
nghiên cứu, đề xuất, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh (đối với Dự án thuộc diện đăng ký cấp
giấy phép); Không quá 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đủ hồ sơ đầu tư (đối với
dự án thẩm định cấp giấy phép) phải chuyển hồ sơ kèm theo bản đề nghị tới các cơ
quan liên quan xem xét và cho ý kiến thẩm định.
5/ Các cơ quan liên quan có trách nhiệm xem xét và cho ý kiến thẩm định bằng
văn bản gửi Sở Kế hoạch và đầu tư trong thời gian không quá 03 ngày làm việc kể từ
khi nhận được hồ sơ dự án do Sở Kế hoạch và đầu tư chuyển đến. Quá thời hạn trên,
nếu không có ý kiến bằng văn bản, được xem như đã đồng ý .
Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ thời hạn quy định để các cơ quan
có liên quan gửi ý kiến thẩm định. Sở Kế hoạch và đầu tư tổng hợp trình Uỷ ban nhân

nhận được hồ sơ hợp lệ), Sở xây dựng cấp chứng chỉ quy hoạch.
- Trong thời gian không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày có Quyết định thuê đất,
Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với các Sở, ngành có liên quan để
thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng và lập phương án đền bù, giải phóng mặt bằng
gửi Sở Tài chính thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Trong thời hạn không
quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhà đầu tư chuyển đủ tiền đền bù cho Hội đồng giải
phóng mặt bằng, hội đồng giải phóng mặt bằng phải tổ chức bàn giao mặt bằng cho nhà
đầu tư.
9/ Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ theo
quy định về thuê đất, đăng ký môi trường, phòng chống cháy nổ và thiết kế kỹ thuật
công trình…, Sở Kế hoạch và đầu tư có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến các cơ quan liên
quan để thẩm tra, giải quyết; kết quả giải quyết gửi về Sở Kế hoạch và đầu tư theo quy
định sau:
- Thủ tục thuê đất:
Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ thuê đất
hợp lệ, Sở Địa chính lập thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định cho thuê đất và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp chứng chỉ quy hoạch: Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc (kể từ khi
nhận được hồ sơ hợp lệ), Sở Xây dựng cấp chứng chỉ quy hoạch.
- Đền bù, giải phóng mặt bằng:
Trong thời hạn không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thuê đất, Uỷ
ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với các Sở, Ngành có liên quan để thành
lập Hội đồng giải phóng mặt bằng và lập phương án đền bù, giải phóng mặt bằng gửi
Sở Tài chính thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhà đầu tư chuyển đủ tiền
đền bù cho Hội đồng giải phóng mặt bằng, hội đồng giải phóng mặt bằng phải tổ chức
bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư.
- Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký môi
trường và phòng chống cháy nổ, các cơ quan quản lý chuyên ngành xem xét, giải quyết.
- Thẩm tra thiết kế kỹ thuật công trình: trong thời hạn không quá 05 ngày làm

+ Có tổng mức đầu tư lần đầu (đã được quyết toán hoặc kiểm toán) từ 2.5
triệu USD trở lên đối với dự án đầu tư trong nước.
+ Sử dụng lao động trung bình trong năm theo hợp đồng lao động từ 500
người trở lên (tính trong thời gian 03 năm đầu kể từ khi dự án đưa vào sản xuất
kinh doanh).
+ Có số thuế thu nhập doanh nghiệp thực nộp vào ngân sách tỉnh trên 300
triệu đồng/năm (tính trong thời gian 03 năm đầu kể từ khi dự án đưa vào sản xuất
kinh doanh)
- Được hỗ trợ một lần kinh phí đào tạo nghề cho lao động có hộ khẩu ở địa
phương được sử dụng vào dự án với mức 300.000 đồng/người (lao động phải có chứng
chỉ đào tạo), đối với các dự án có 1 trong các điều kiện sau:
+ Các dự án sử dụng từ 100 lao động trở lên, trong đó có trên 50% là lao
động địa phương,

Trích đoạn Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2006, 2007, Bảng 1.14: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế thời kỳ 1991- Bảng 1.15: Cơ cấu theo ngành kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status