Thực trạng công tác phân tích tài chính các doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động tín dụng của SGDI-NHCT VN - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Đối với hầu hết chúng ta, ngân hàng là loại hình tổ chức kinh doanh
có vai trò vô cùng quan trọng. Với sự hiện diện của ngân hàng, chúng ta có
thể nhận được các khoản vay để thanh toán cho việc mua ô tô mới hoặc để
trang trải chi phí cho việc học tập, kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng
cũng là một địa chỉ hữu ích nếu chúng ta mong muốn nhận được những lời
khuyên về việc đầu tư các khoản tiết kiệm hay lưu trữ và bảo quản các giấy
tờ có giá. Hệ thống ngân hàng với hàng ngàn chi nhánh hoạt động trên toàn
thế giới có thể tác động đến sự phát triển của tất cả mọi lĩnh vực và của
toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Vậy ngân hàng là gì? Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi
và cho vay tiền. Thuật ngữ các ngân hàng (banks) bao gồm những hãng
như các NHTM, các công ty tiết kiệm và cho vay tiền, các Ngân hàng tiết
kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng (tr. 32, Tiền tệ, ngân hàng & thị
trường tài chính- Frederic S.Mishkin ). Công nghiệp ngân hàng gân đây
mới được nói nhiều trên báo chí. Những vụ vỡ nợ của các NHTM vẫn đang
ở tỉ lệ cao nhất từ khi có cuộc Đại suy thoái và công nghiệp tiết kiệm và
cho vay đã đòi hỏi một sự bảo lãnh to lớn. Mặc dù, các ngân hàng đã được
tự chủ tài chính, chủ động huy động vốn và cho vay theo khuôn khổ pháp
luật nhưng vấn đề trọng yếu là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
nền kinh tế, đáp ứng một cách nhanh chóng kịp thời tình trạng thừa thiếu
vốn trong nền kinh tế với chi phí hợp lý. Như vậy, có một câu hỏi đặt ra là
quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng (đặc biệt là các doanh
nghiệp) hiện nay ra sao? Chắc chắn mối quan hệ đó sẽ ngày càng phải gắn
bó, tương tác lẫn nhau. Vì DN không trả được nợ đến hạn, doanh thu ngân
hàng sẽ giảm, ảnh hưởng đến việc cho DN khác vay vốn, ảnh hưởng đến sự
tồn tại và pháp triển của ngân hàng. Để tránh được rủi ro tín dụng này,
trong quá trình thẩm định cho vay, ngân hàng cần đặc biệt chú trọng khâu
1
phân tích tài chính đối với DN vay vốn tại ngân hàng. Đó cũng chính là lý
do em chọn đề tài: “Thực trạng công tác phân tích tài chính các doanh

vốn để giải quyết hiện tượng thừa, thiếu vốn diễn ra thường xuyên giữa các
chủ thể kinh tế trong xã hội. Các quan hệ tín dụng được tổ chức thành hệ
thống và có mối quan hệ hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo hiệu quả của sự dẫn
vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Do đó, một quan hệ tín dụng phải thỏa mãn những đặc trưng sau:
Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời. Và
thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng
lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà
không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
Thứ hai, là tính hoàn trả. Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hy sinh
quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để
người sở hữu sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó.
Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi
vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập
quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn dễ được hoàn trả đầy
đủ khi đến hạn. Người đi vay cũng tin vào khả năng phát huy hiệu quả của
vốn vay. Sự gặp gỡ này sẽ là điều kiện hình thành nên quan hệ tín dụng.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có thể hiểu là việc ngân hàng tin tưởng
nhường quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một khoảng thời gian
nhất định và kết thúc thời gian đó ngân hàng sẽ thu về cả vốn lẫn lãi. Chính
nhờ hoạt động này mà ngân hàng trang trải được mọi chi phí phát sinh và là
nguồn thu chủ yếu của ngân hàng. Tuy nhiên, vì lợi nhuận tỉ lệ thuận với
rủi ro nên nó cũng đồng nghĩa với mức lợi nhuận thu được càng lớn thì rủi
3
ro ngân hàng gặp phải sẽ càng cao. Và để hạn chế rủi ro tín dụng này thì
trước khi đặt vấn đề cho vay, ngân hàng cần phải tiến hành công tác phân
tích tài chính các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng. Làm tốt khâu này sẽ
đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển quy mô của hoạt động cho vay
của ngân hàng.
1.1.2. Ý nghĩa của công tác phân tích tài chính các DN đối với hoạt

ứng, thông qua phân tích tài chính doanh nghiệp, Ngân hàng còn có thể tư
vấn kịp thời cho các doanh nghiệp về quyết định tài chính nhằm tháo gỡ
khó khăn, ổn định và phát triển doanh nghiệp; và đến lượt nó; phân tích,
đánh giá tài chính doanh nghiệp trong Ngân hàng góp phần kiểm tra lại tính
trung thực của kiểm tra tài chính nội bộ. Như vậy, phân tích tài chính
doanh nghiệp có thể đánh giá được rủi ro của doanh nghiệp, đặc biệt là rủi
ro về khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, và quyết định: có nên cho
doanh nghiệp vay vốn không? mức độ rủi ro nếu Ngân hàng gánh chịu khi
chấp nhận cho doanh nghiệp vay? Và lý giải được mục đích vay vốn của
doanh nghiệp liệu có thực sự trung thực không? Phân tích tài chính không
những giúp Ngân hàng đưa ra các quyết định đúng đắn khi tiến hành xét
duyệt các khoản cho vay mà còn trong cả quá trình cho vay. Bởi, trong thời
hạn cho vay, doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ cung cấp cho Ngân hàng các
báo cáo tài chính, các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Qua đó, Ngân hàng có thể phát hiện những dấu hiệu xấu về tình hình tài
chính của doanh nghiệp đó và thu hồi các khoản vay trước hạn. Hơn nữa,
công tác phân tích tài chính các doanh nghiệp còn giúp Ngân hàng xây
dựng kế hoạch cho vay, trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh
và tài chính mỗi doanh nghiệp, Ngân hàng có thể đánh giá nhu cầu vốn
ngắn hạn, trung và dài hạn. Từ đó, Ngân hàng sẽ có chiến lược huy động
vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, Ngân hàng có
thể biết được xu hướng phát triển của từng giai đoạn, từng lĩnh vực kinh tế,
5
lập kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có tiềm năng phát triển
mạnh trong tương lai. Xây dựng kế hoạch tín dụng phù hợp sẽ giúp Ngân
hàng nâng cao hiệu quả cho vay, đem lại lợi nhuận cao cũng như góp phần
thực hiện chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước.
Như vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Và đối với cán
bộ tín dụng thì phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu không thể

B). Mỗi loại A và B lại bao gồm các chỉ tiêu khác nhau và cũng
được sắp xếp theo một trình tự thích hợp với yêu cầu của công
tác quản lý. Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần nguồn
vốn phản ánh các nguồn hình thành nên tài sản có của DN; còn
xét về phương diện pháp lý, các chỉ tiêu này phản ánh trách
nhiệm pháp lý của DN đối với các đối tượng đầu tư vốn(nhà
nước, ngân hàng, cổ đông), cũng như với khách hàng thông qua
công nợ phải trả.
Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm như sau:
+) Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái
giá trị. Cho nên, ta có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
tại một thời điểm. Từ đó, cho phép ta đánh giá khái quát tình hình tài chính
qua các chỉ tiêu.
+) Bảng cân đối kế toán có kết cấu 2 phần, thực chất là phản ánh 2 mặt
của một lượng tài sản, cho nên tổng tài sản luôn luôn bằng nguồn vốn, tức
là:
Tài sản = Nguồn vốn
Hay: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Hoặc: Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả
7
Như vậy, thông qua bảng cân đối kế toán, ta có thể biết được toàn bộ
tài sản hiện có của doanh nghiệp, hình thái vật chất, cơ cấu của tài sản,
nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn. Do đó, bảng cân đối kế toán là một tài liệu
quan trọng để nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả
kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp.
b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo phản ánh toàn
bộ kết quả hoạt động kinh doanh của trong một thời kỳ nhất định và những
nghĩa vụ mà DN phải thực hiện với Nhà nước. Số liệu trên báo cáo này

8
- Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ: báo cáo các khoản thu, chi
tiền được phân loại theo các hoạt động.
- Ý nghĩa của báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
+) Xác định lượng tiền do các hoạt động kinh doanh mang lại trong kì và
dự đoán các dòng tiền trong tương lai.
+) Đánh giá khả năng thanh toán nợ vay và khả năng trả lãi cổ phần bằng
tiền.
+) Chỉ ra mối liên hệ giữa lãi, lỗ ròng và việc thay đổi tiền của DN.
+) Là công cụ lập kế hoạch.
- Cấu trúc của báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Theo chế độ kế toán Việt
Nam qui định một báo cáo lưu chuyển tiền tệ được chia làm 3 phần:
+) Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào hoặc chi ra liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN.
+) Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào hoặc chi ra liên quan đến hoạt động đầu tư của DN.
+) Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào hoặc chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính.
d)Thuyết minh báo cáo tài chính
- Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống
báo cáo tài chính của DN, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về
tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của DN trong
kì báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi
tiết được.
- Nội dung của báo cáo:
+) Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của DN.
+) Nội dung một số chế độ kế toán được DN lựa chọn để áp dụng
9
+) Tình hình và lí do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn
vốn đối tượng quan trọng.

những kết quả thu cần được tổng kết,phân tích, nhìn nhận trên nhiều
phương diện, trong mối quan hệ với nhau mới cho được những nhận xét
chính xác.
1.2.4. Nội dung và các chỉ tiêu:
1.2.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các cân bằng tài
chính trên bảng CĐKT
(1) Các cân bằng tài chính trên bảng CĐKT
a) Vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài
hạn với TSCĐ và đầu tư dài hạn. Nói cách khác, nó là một phần nguồn vốn
ổn định dùng vào việc tài trợ cho tài sản lưu động.
Có thể chia bảng cân đối thành các nhóm:
Tài sản lưu động và
đầu tư ngắn hạn
Tài sản cố định và
đầu tư dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn
Nguồn vốn dài hạn
- Nợ dài hạn
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn lưu động thường xuyên có thể xác định theo 2 cách sau:
Cách 1: Vốn LĐTX= Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ và ĐTDH
Cách 2:
Vốn LĐTX =
Tài sản lưu động và
đầu tư ngắn hạn
- Nguồn vốn ngắn hạn
11
Vốn lưu động thường xuyên lớn hơn 0 chứng tỏ DN có một phần
nguồn vốn dài hạn đầu tư cho TSLĐ. Điều này đem lại cho DN một nguồn

Nhu cầu VLĐ = (Tài sản KD & ngoài KD) - (Nợ KD & ngoài KD)
- Khi tài sản KD và ngoài KD lớn hơn nợ KD và ngoài KD, thể
hiện nhu cầu vốn lưu động dương, DN có một phần tài sản lưu
động cần nguồn tài trợ. Điều này cũng có nghĩa, trong DN có
một phần TSLĐ chưa được tài trợ bởi bên thứ ba.
- Khi tài sản KD và ngoài KD nhỏ hơn nợ KD và ngoài KD, thể
hiện phần vốn chiếm dụng được từ bên thứ ba của DN nhiều
hơn toàn bộ nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình kinh doanh
của DN.
c) Vốn bằng tiền (Ngân quỹ ròng)
Để xác định vốn bằng tiền, có thể sử dụng một trong 2 cách xác định
sau:
- Cách 1: Vốn bằng tiền = (Ngân quỹ có)- (Ngân quỹ nợ)
+) Nếu ngân quỹ có > ngân quỹ nợ tức vốn bằng tiền dương, chứng
tỏ DN chủ động về vốn bằng tiền
+) Nếu ngân quỹ có < ngân quỹ nợ tức vốn bằng tiền âm, chứng tỏ
DN bị động về vốn bằng tiền
- Cách 2: Vốn bằng tiền = (Vốn LĐTX) – (Nhu cầu VLĐ)
Phương trình trên cho phép giải thích:
+) Vốn bằng tiền > 0 (nếu nhu cầu vốn lưu động dương) chứng tỏ
vốn lưu động thường xuyên thỏa mãn nhu cầu vốn lưu động. Ngược lại,
DN quá nhiều tiền do chiếm dụng được vốn của bên thứ ba (nếu nhu cầu
vốn lưu động âm)
+) Vốn bằng tiền < 0 chứng tỏ vốn lưu động thường xuyên chỉ tài trợ
được một phần nhu cầu vốn lưu động, phần còn lại dựa vào tín dụng ngắn
13
hạn Ngân hàng, phần này càng nhiều chứng tỏ DN càng phụ thuộc vào
Ngân hàng.
(2) Phân tích mối quan hệ cân đối giữa vốn lưu động thường
xuyên và nhu cầu vốn

Vốn bằng tiền > 0
Nhu cầu vốn lưu động < 0
Vốn lưu động thường xuyên > 0
• DN dùng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn; tiền dự trữ nhiều do chiếm
dụng nhiều; nợ kinh doanh và ngoài kinh doanh lớn hơn tài sản kinh
doanh và ngoài kinh doanh
Vốn bằng tiền > 0
Vốn lưu động thường xuyên < 0
Nhu cầu vốn lưu động < 0
• DN dùng nợ ngắn hạn đầu tư dài hạn; dự trữ tiền trên các tài khoản
tiền đúng bằng khoản tiền DN vay ngắn hạn; nợ kinh doanh và ngoài
kinh doanh lớn hơn tài sản kinh doanh và ngoài kinh doanh.
Vốn lưu động thường xuyên < 0 Nhu cầu vốn lưu động < 0
• DN dùng nợ ngắn hạn đầu tư dài hạn; nợ kinh doanh và ngoài kinh
doanh lớn hơn tài sản kinh daonh và ngoài kinh doanh
Vốn lưu động thường xuyên < 0
Nhu cầu vốn lưu động < 0
Vốn bằng tiền < 0
15
• DN dùng nợ ngắn hạn đầu tư dài hạn; mức độ vay nợ nhiều
Nhu cầu vốn lưu động > 0
Vốn lưu động thường xuyên < 0
Vốn bằng tiền < 0
(3) Phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu
a) Phân tích vốn lưu động thường xuyên
- So sánh vốn lưu động thường xuyên của DN giữa các kỳ để thấy được
sự biến động của VLĐ thường xuyên
- Phân tích các nhân tố, các nguyên nhân gây nên tình trạng biến động
của các chỉ tiêu
Vốn lưu động thường xuyên tăng, giảm do ảnh hưởng của 2 nhân tố:

thích thêm các mối quan hệ tài chính. Mỗi một doanh nghiệp khác nhau, có
các hệ số tài chính khác nhau, thậm chí một doanh nghiệp ở những thời
điểm khác nhau cũng có các hệ số tài chính không giống nhau. Do đó
người ta coi các hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình
hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Tình hình tài chính được đánh giá là lành mạnh trước hết phải được thể
hiện ở khả năng chi trả, vì vậy chúng ta bắt đầu đi từ việc phân tích khả
năng thanh toán.
(1)Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn
Đây là những hệ số được rất nhiều người quan tâm như: các nhà ngân
hàng, nhà đầu tư, người cung cấp... Trong mọi quan hệ với doanh nghiệp,
họ luôn đặt ra câu hỏi: liệu doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả các khoản
17
nợ đến hạn không? Để trả lời câu hỏi trên, các chỉ tiêu sau đây thường được
sử dụng:
a)Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn
=
TSLĐ và ĐT ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài
sản có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn. Nếu
hệ số này cao, có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm
giá trị của TSLĐ. Điều đó thể hiện tiềm năng thanh toán cao so với nghĩa
vụ phải tham gia thanh toán. Tuy nhiên, một DN có hệ số KNTT nợ ngắn
hạn quá cao cũng có thể DN đó đã đầu tư quá mức vào tài sản hiện hành,
một sự đầu tư không mang lại hiệu quả. Mặt khác, trong toàn bộ tài sản lưu
động của doanh nghiệp, khả năng chuyển hóa thành tiền của các bộ phận là
khác nhau. Khả năng chuyển hóa thành tiền của bộ phận hàng tồn kho

xét tốt nhất là so sánh các hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp với
hệ số khả năng thanh toán trung bình của ngành để có thể đưa ra nhận xét
đúng đắn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích chủ yếu là so sánh hệ số khả năng thanh toán của
doanh nghiệp giữa các kỳ khác nhau, hệ số khả năng thanh toán của doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động hoặc
với hệ số trung bình của ngành. Tuy nhiên, để có kết luận đúng về khả năng
thanh toán của doanh nghiệp cần phải có cách nhìn toàn diện, phải thấy
được sự tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm các chỉ tiêu.
(2)Các chỉ tiêu phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
a) Hệ số nợ và tỷ suất tự tài trợ
• Hệ số nợ: được đo bằng tỷ số giữa tổng nợ phải trả với tổng tài sản
hay tổng nguồn vốn của DN:
Tổng số nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng NV của DN
19
Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ
bên ngoài ( từ các chủ nợ ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện
có của doanh nghiệp, có bao nhiêu phần do vay nợ mà có.
• Tỷ suất tự tài trợ: Chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ để đo lường sự góp vốn
của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu
này được tính như sau:
Nguồn vốn CSH
Tỷ suất tự tài trợ = = 1- Hệ số nợ
Tổng NV
Nếu hệ số nợ càng thấp ( hay tỷ suất tự tài trợ càng cao) thì sự phụ thuộc
của doanh nghiệp vào người cho vay càng ít, món nợ của người cho vay
càng được đảm bảo và do vậy việc cho vay càng an toàn và ngược lại sẽ
kém an toàn. Tuy nhiên, nếu hệ số nợ cao thì chủ doanh nghiệp rất có lợi.

=
LN trước thuế + Lãi tiền vay phải trả
Lãi tiền vay phải trả
Hệ số này nói lên trong kỳ DN đã tạo ra lợi nhuận gấp bao nhiêu lần lãi
phải trả về tiền vay. Hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi trả lãi
tiền vay càng thấp và ngược lại. Thông thường hệ số này được các chủ nợ
chấp nhận ở mức hợp lý khi nó lớn hơn hoặc bằng 2.
e)Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư TSCĐ =
TSCĐ
Tổng tài sản
x 100
Thực chất của chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của tài sản cố định của
doanh nghiệp trong tổng tài sản nói chung. Chỉ tiêu này càng lớn và xu
hướng ngày một tăng thể hiện tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của
doanh nghiệp tăng lên, điều này tạo năng lực sản xuất và xu hướng phát
triển kinh doanh lâu dài, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Để phân tích các chỉ tiêu kể trên, phương pháp phân tích chủ yếu là so
sánh các chỉ tiêu cuối kỳ với đầu năm hoặc so sánh các chỉ tiêu của doanh
nghiệp với các chỉ tiêu bình quân của ngành.
(3)Các chỉ tiêu phân tích năng lực hoạt động của tài sản
a)Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình
• Vòng quay các khoản phải thu
21
Vòng quay các
khoản phải thu
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu BQ
• Kỳ tiền trung bình

đọng nhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng ( trong điều
kiện quy mô sản xuất không đổi). Cần đi sâu tìm hiểu lý do cụ thể để có
biện pháp tác động.
c) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
22
Hiệu suất sử dụng
tài sản cố định
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài sản cố định bình quân
Hiệu suất sử dụng TSCĐ nói lên cứ một đồng tài sản cố định đưa vào
hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần. So với kỳ trước, hệ số giảm phản ánh sức sản xuất của
TSCĐ giảm.
d) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng
tổng tài sản
=
Tổng DT và thu nhập khác của DN trong kỳ
Tổng tài sản bình quân
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản nói lên cứ một đồng tài sản đưa vào hoạt
động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. So
với kỳ trước, hệ số giảm phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản giảm.
Phương pháp phân tích bao gồm:
- So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp giữa các kỳ, so sánh với các
chỉ tiêu tương ứng của doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực
hoạt động hoặc với hệ số trung bình của ngành.
- Phân tích các nhân tố, các nguyên nhân làm tăng, giảm các chỉ tiêu
để làm rõ tình hình tài chính của DN và đề ra các biện pháp cần thiết
nhằm nâng cao năng lực hoạt động của tài sản trong DN.

Tổng tài sản bình quân
x 100
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản
đưa vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong điều
kiện bình thường, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài
sản càng tốt.
Tùy theo mục đích của nhà phân tích, lợi nhuận trước thuế có thể chỉ là
phần lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, cũng có thể là tổng lợi nhuận trước
thuế mà tài sản tạo ra trong một kỳ kinh doanh ( bao gồm cả phần lợi nhuận
tạo ra cho người cho vay).
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản còn có thể được xác định như
sau:
Tỷ suất lợi nhuận
trên tổng TS
=
Tổng LN trước thuế
D T & thu nhập khác
x
DT & thu nhập khác
Tổng TS bình quân
24
Công thức này được công ty DuPont đề xuất và được gọi là phương trình
hoàn vốn, hay phương trình phân tích DuPont. Người ta có thể dùng công
thức này để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận tổng tài
sản.
c)Tỷ suất sinh lợi nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất LN sau thuế
trên nguồn vốn CSH
=
Tổng lợi nhuận sau thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status