BảNG CHữ VIếT TắT
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CNPT : Công nghiệp phát triển
DN : Doanh nghiệp
DNLD : Doanh nghiệp liên doanh
DNSX : Doanh nghiệp sản xuất
DNVN : Doanh nghiệp Việt Nam
ĐTNN : Đầu t nớc ngoài
ĐPT : Đang phát triển
FDI (Foreign Direct Investment) : Đầu t trực tiếp nớc ngoài
GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản phẩm quốc nội
KCN & KCX : Khu công nghiệp & Khu chế xuất
KTTĐ : Kinh tế trọng điểm
NSLĐ : Năng suất lao động
PT : Phát triển
TB : Trung bình
TNC (Transnational Corporation) : Công ty xuyên quốc gia
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Vốn ĐK : Vốn đăng ký
Vốn ĐT : Vốn đầu t
1
mục lục
LờI Mở ĐầU.......................................................................................................................4
Chơng 1: Vai trò của nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh.....7
1.1. Vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong nền kinh tế
Việt Nam......................................................................................................................7
1.1.1. Thành phố Hồ Chí Minh là "hạt nhân" phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam:.......................................................................................................................7
1.1.2. Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nớc ..................................11
1.2. ý nghĩa cần thiết của việc thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối
3.2.1. Các giai đoạn trong xây dựng chiến lợc thu hút FDI..........................................76
3.2.2. Yêu cầu cần thiết phải xây dựng một chiến lợc cụ thể để thu hút FDI vào thành
phố Hồ Chí Minh..........................................................................................................77
3.3. Thực hiện chính sách u tiên, u đãi đầu t đối với các nhà đầu t chiến lợc,
các ngành kinh tế trọng điểm ................................................................................78
3.3.1. Một số cơ chế, chính sách thu hút đầu t vào Khu Công nghệ cao thành phố
HCM.............................................................................................................................78
3.3.2. Minh chứng cụ thể về thực hiện chính sách u tiên, u đãi đầu t đối với các nhà
đầu t chiến lợc, các ngành kinh tế trọng điểm .............................................................81
3.4. Tăng cờng hiệu quả các dự án đã triển khai................................................82
3.5. Đẩy mạnh chơng trình quảng bá và xúc tiến đầu t.....................................84
3.5.1. Những khó khăn trong hoạt động quảng bá và xúc tiến đầu t ở thành phố Hồ Chí
Minh.............................................................................................................................84
3.5.2. Những chuyển biến tích cực...............................................................................85
3.5.3. Đề xuất về hoạt động xúc tiến đầu t tại các khu công nghiệp, khu chế xuất .....87
KếT LUậN.........................................................................................................................91
TàI LIệU THAM KHảO.................................................................................................93
PHụ LụC............................................................................................................................96
3
LờI Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là một bộ phận rất
quan trọng trong tổng nguồn vốn đầu t, đợc đánh giá là chiếc chìa khóa vàng, là
một đòn bẩy để thúc đẩy tăng trởng, phát triển kinh tế địa phơng, kinh tế đất nớc và
góp phần đa đất nớc hội nhập sâu rộng với thế giới. Địa phơng tiếp nhận đầu t không
những đợc cung cấp về vốn mà còn đợc tiếp nhận công nghệ hiện đại và kinh
nghiệm quản lý tiên tiến. Vì vậy, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài đã trở thành vấn đề quan trọng đối với nhiều địa phơng, nhiều nớc
trên thế giới, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển.
Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là đầu tàu kinh tế của vùng Kinh tế Trọng
nguồn vốn FDI của TP HCM dành cho các tỉnh thành khác trong cả nớc.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu một số vấn đề tổng quan về tình hình kinh tế của TP
HCM; Các chính sách, biện pháp nhằm thu hút đầu t trực tiếp của thành phố; Tình
hình thực tiễn trong việc thu hút FDI, kết quả và những tác động của FDI đối với
kinh tế thành phố.
Tuy nhiên khóa luận không thể nghiên cứu sâu toàn bộ nền kinh tế của TP HCM
mà chỉ đề cập đến thực trạng thu hút, sử dụng FDI và những tác động của nó đến
kinh tế - xã hội của địa phơng này trong giai đoạn 2001 - 2007 một cách tổng quát.
Sau đó khóa luận xin đi vào giới thiệu một số dự án FDI lớn trên địa bàn thành phố
nh dự án của Intel, dự án cảng Container Trung tâm Sài Gòn, dự án xây dựng Asiana
Plaza,...
4. Phơng pháp nghiên cứu
Ngoài việc vận dụng các phơng pháp nghiên cứu cơ bản nh duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, khóa luận còn sử dụng các phơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp,
5
để phân tích các kết quả nghiên cứu, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn và đi từ t duy
trừu tợng đến thực tiễn khách quan.
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng bảng biểu, hình vẽ để mô phỏng xu hớng biến
đổi của các đối tợng và hiện tợng.
5. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận đợc chia làm 3 phần: phần lời mở đầu, phần kết luận và 3 chơng,
trong đó:
Chơng 1: Vai trò của nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh
Chơng 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
Thành phố Hồ Chí Minh
Chơng 3: Bài học kinh nghiệm về việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài của thành phố Hồ Chí Minh đối với các tỉnh thành khác
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhng do những hạn chế về kiến thức, thời gian và
ngạch xuất nhập khẩu, và 47% ngân sách của cả nớc. Tác động tạo đà thúc đẩy cả n-
ớc phát triển trên những nấc thang mới của Vùng KTTĐ phía Nam đợc nhân theo
bội số của hệ số lan tỏa mà các chuyên gia kinh tế đã tính toán: 1% GDP tăng thêm
của Vùng kinh tế này sẽ có tác động làm tăng 0,3% GDP của cả nớc. Một điểm
7
nhấn nữa trong vai trò của Vùng KTTĐ phía Nam đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế của cả nớc bắt nguồn từ vị trí đặc biệt quan trọng là cửa ngõ phát triển, liên kết
kinh tế giữa miền Đông Nam bộ, miền Tây Nam bộ và Tây Nguyên, và lợi thế trong
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giao thông vận tải, hàng không, cảng biển; giao lu hợp tác
quốc tế; nguồn nhân lực chất lợng cao, nhất là nguồn nhân lực về tài chính lớn tập
trung và có thể khai thác để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của cả vùng; và
nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú. [28]
Trong Vùng KTTĐ phía Nam, sự phát triển của TP HCM đợc Nghị quyết số
53/NQ-TƯ Bộ Chính trị Trung ơng Đảng về Vùng KTTĐ phía Nam xác định là có ý
nghĩa to lớn, là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Vùng KTTĐ phía Nam,
tạo đà cùng cả nớc tiến nhanh, tiến vững chắc vào quá trình CNH, HĐH.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xã hội thuận lợi (nằm ở trung tâm
Nam bộ, phía Nam của Đông Nam bộ và rìa Bắc của Tây Nam bộ, có cơ sở hạ
tầng phát triển tốt, là đầu mối giao thông lớn, nối liền các tỉnh trong vùng và là
cửa ngõ của cả nớc vơn ra thế giới) cùng với tiềm năng về nhiều mặt của thành
phố nh: là một trung tâm nhiều chức năng, có đội ngũ lao động tay nghề cao với
nguồn chất xám dồi dào, có các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, có các loại dịch
vụ hiện đại, có thể nói thành phố là hạt nhân trong Vùng KTTĐ phía Nam gồm
8 tỉnh, thành phố: TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dơng, Bình Ph-
ớc, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang và là trung tâm đối với vùng Nam Bộ.
Thành phố luôn giữ vững và phát huy vai trò, vị trí đầu tầu của mình với mức đóng
góp GDP là 66,1% trong Vùng KTTĐ phía Nam và đạt mức 30% trong tổng GDP
của cả khu vực Nam Bộ.
1
1
năm
2010
1. Giá trị sản
xuất công
nghiệp của
Thành phố so
với VKTTĐPN
57,6% 52,5%
2. Dịch vụ của
Thành phố so
với VKTTĐPN
81% -
82%
80%
(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu t Thành phố Hồ Chí Minh)
Sự vận động và phát triển của thành phố có tác động ảnh hởng đến sự phát
triển nhiều mặt của các tỉnh, thành trong khu vực,
- Tạo sự thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa phơng trong vùng;
giúp từng địa phơng phát huy thế mạnh trong sản xuất và mở rộng hoạt động thơng
mại, giới thiệu các mặt hàng chiến lợc đến với các doanh nghiệp trong và ngoài nớc.
- Tạo ra các mô hình trong việc phát triển hoạt động công nghiệp (xây dựng
các khu chế xuất, khu công nghiệp, đào tạo tay nghề cho ngời lao động) để các tỉnh,
thành có thể vận dụng và tổ chức thực hiện tại từng địa phơng.
Thành phố đang vận động và phát triển theo xu hớng hình thành vùng đô thị thành
phố Hồ Chí Minh:
- Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn của khu vực và trên thế giới, dân
số đã vợt qua Singapore, Manila, Kuala Lumpua (6,24 triệu ngời số liệu năm
2005) và theo quy luật, thành phố cực lớn luôn tạo cho nó một không gian phát triển
ngoài ranh giới hành chính mà các nhà chuyên môn gọi là vùng đô thị thành phố.
Hiện nay nó đang tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho các tỉnh lân cận có cơ hội phát
trởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nớc. Tổng sản phẩm trong nớc
(GDP) của Thành phố năm 2007 theo giá hiện hành (quý I/2008) đạt 228.697 tỷ
Đồng (tơng đơng 14,3 tỷ USD), chiếm tỷ trọng 20% GDP của cả nớc. GDP bình
quân đầu ngời cũng có mức tăng trởng đáng kể, đạt 2.180 USD, gấp 2,6 lần so với
mức bình quân chung của cả nớc. [16]
Biểu đồ 1.5: Tốc độ tăng GDP của TP. HCM giai đoạn 2002 2007
(Nguồn: Cục thống kê TP. HCM - 2007)
12
Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhà n-
ớc, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của thành phố vẫn không ngừng
tăng. Năm 2007, tổng thu ngân sách trên địa bàn cả năm đạt 92 ngàn tỷ đồng, vợt dự
toán hơn 4.000 tỷ đồng, tăng đến 30,37% so với năm 2006 (năm 2006 tăng 16,8%
so với năm 2005). Năm 2008, dự kiến số thu ngân sách của TP HCM sẽ đạt con số
gần 100.000 tỷ đồng, nhng ngay trong 4 tháng đầu năm, số thu ngân sách đã đạt đến
con số hơn 41.662 tỷ đồng, gấp 2,03 lần so với cùng thời gian này năm trớc, nên khả
năng số thu cả năm sẽ còn tăng trởng mạnh mẽ hơn nữa. Tổng chi ngân sách Thành
phố đạt 22.554 tỷ đồng, tăng 14,51%. Chi đầu t phát triển tăng 10,05% và chiếm
54,1% trong tổng chi ngân sách Thành phố. [16]
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Năm 2005, năng suất lao
động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệu Đồng/ngời/năm, năng
suất lao động công nghiệp - xây dựng đạt 67,05 triệu Đồng (bằng 105,4% năng suất
lao động bình quân toàn nền kinh tế), năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu
Đồng (bằng 103,12%), năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu Đồng (bằng
21,5%).
3
Ngành dịch vụ:
Trong 3 khu vực của nền kinh tế, khu vực dịch vụ có mức tăng trởng cao
nhất, tăng 14,1% và chiếm tỷ trọng 52,6% GDP của Thành phố. Bốn ngành dịch vụ
tài chính ngân hàng, du lịch, bu chính viễn thông, vận tải dịch vụ cảng
kho bãi có tốc độ tăng trởng cao, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố
ởng cao phù hợp với xu thế của thời kỳ hội nhập. Năm 2007, tổng doanh thu du lịch
đạt trên 20.000 tỷ đồng (tơng đơng 1,25 tỷ USD), tăng 20% so với năm trớc, riêng
lĩnh vực khách sạn tăng 41,6%; số lợng khách quốc tế đến Thành phố đạt 2,65 triệu
lợt, tăng 17% so với năm 2006. Đến 2005, có 142 khách sạn đợc xếp hạng, trong đó
35 khách sạn 3 đến 5 sao với 5.740 phòng và 346 doanh nghiệp lữ hành đủ điều kiện
kinh doanh. Công suất sử dụng phòng của các khách sạn 3 đến 5 sao đạt 75%, tăng
9,5%. [3]
Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phơng tiện thông tin đại
chúng, nâng cao chất lợng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền hình, tăng c-
ờng và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu vực và
4
Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nớc (2005), www.hochiminhcity.gov.vn
14
các thị trờng trọng điểm. Triển khai chơng trình xét chọn và công nhận 100 điểm
mua sắm đạt chuẩn du lịch.
Ngành bu chính, viễn thông
Ngành bu chính, viễn thông của Thành phố phát triển khá tốt cả về doanh thu
và số lợng doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Doanh thu ớc cả năm đạt 14.000 tỷ
đồng, tăng 16,7%; số lợng doanh nghiệp chuyên ngành công nghệ thông tin đợc cấp
phép trong năm là 1.053 doanh nghiệp, tăng 13,2%, nâng tổng số doanh nghiệp
chuyên ngành công nghệ thông tin đang hoạt động trên địa bàn là 6.685 doanh
nghiệp. Ngời dân Thành phố ngày càng tiếp cận thuận lợi với công nghệ thông tin,
kết quả trong năm có 9,54 triệu thuê bao điện thoại (trong đó có 7,94 triệu máy di
động), chiếm tỷ lệ gần 20% số thuê bao điện thoại của cả nớc và đạt 143 máy/100
dân. [16]
Tài chính ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam,
thành phố dẫn đầu cả nớc về số lợng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín
dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh
thu toàn quốc. Năm 2007, các hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển,
Ngành nông nghiệp:
Thành phố đang chuyển dần sang nông nghiệp gắn với đô thị và nông nghiệp
sinh thái, giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích trồng hoa, rau an toàn, cây công
nghiệp hàng năm và các loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Ước cả năm 2007 giá trị
sản xuất ngành nông nghiệp tăng 6,5%, diện tích rau đạt 10.000 ha, sản lợng
195.000 tấn; diện tích cỏ chăn nuôi 2.400 ha, đàn heo 380.433 con (tăng 26,4%),
trâu bò 121.000 con (tăng 5%); tổng sản lợng thủy sản đạt 57.885 tấn các loại, tăng
2%; sản xuất 45 triệu con cá cảnh (tăng 50%); đàn cá sấu đạt 123.000 con, tăng
58,9%. [3]
Đầu t:
Một thành tựu quan trọng khác là vốn đầu t toàn xã hội trên địa bàn tăng cao.
Trong năm 2007, tổng vốn đầu t xã hội đạt 84.800 tỷ đồng, tăng 26,6%; trong đó
16
đầu t từ vốn nhà nớc chiếm 32%, vốn dân doanh chiếm 51%, vốn doanh nghiệp đầu
t nớc ngoài chiếm 17%. [3]
Với những nỗ lực không ngừng của thành phố trong việc tạo dựng niềm tin
cho các nhà đầu t, tập trung cải thiện môi trờng đầu t, kinh doanh đã góp phần tạo
nên những chuyển biến mới tích cực để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
thành phố. Lực lợng các doanh nghiệp t nhân cũng đang phát triển rất mạnh, đóng
góp ngày càng lớn hơn vào nền kinh tế chung. Trong năm 2007 đã có thêm 17.519
doanh nghiệp mới với số vốn đăng ký là 153.372 tỷ đồng, tăng 13,3% về số lợng
doanh nghiệp và tăng gấp hơn 3 lần về vốn đăng ký, chứng tỏ một lợng vốn rất lớn
trong dân đã đợc đa vào sản xuất kinh doanh. Trong 4 tháng đầu năm 2008, thành
phố lại có thêm tới 6.153 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn đăng ký 44.667
tỷ đồng. Với hàng chục ngàn doanh nghiệp t nhân và hàng chục vạn hộ kinh doanh
cá thể, kinh tế dân doanh tại thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp tới 48,1% tổng
sản phẩm trên địa bàn và đã đóng góp tới 8,4% trong mức tăng trởng GDP 12,6%
của toàn thành phố trong năm qua. [3]
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, làn sóng đầu t nớc ngoài đã dồn dập đổ vào
Việt Nam. Nhờ môi trờng đầu t đợc cải thiện, Thành phố là nơi thu hút vốn đầu t n-
(chấm dứt đợc xu hớng giảm tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP trong suốt
10năm qua); tổng vốn đầu t xã hội 5 năm trên địa bàn 434.500 tỷ đồng (tơng đơng
khoảng 27,2 tỷ USD); tổng thu ngân sách nhà nớc trên địa bàn tăng 62,89% so với
giai đoạn 2001-2005, trong đó, thu nội địa tăng 88,34%, tổng chi ngân sách địa ph-
ơng tăng 44, 29%. [3]
Năm 2008, năm thứ ba năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006 2010
đồng thời cũng là năm thứ hai Việt Nam thực hiện cam kết gia nhập WTO. Trên cơ
sở dự báo tình hình thuận lợi, khó khăn ở trong nớc và trên thế giới, Thành phố đề ra
nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 là tiếp tục duy trì tốc độ tăng trởng kinh tế cao đồng
thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lợng tăng trởng, nâng cao sức cạnh tranh và
hiệu quả của nền kinh tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội. Tận dụng cơ hội thuận
lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ cao của nớc ngoài. Nâng cao
mức sống của ngời dân. Xử lý tốt các vấn đề môi trờng, đảm bảo Thành phố phát
18
triển bền vững, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố xã hội chủ nghĩa,
văn minh, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thực hiện quyết tâm đó, Hội đồng nhân dân Thành phố đã đề ra 6 chỉ tiêu
kinh tế năm 2008 nh sau:
(1) GDP tăng 12,7% - 13%, GDP bình quân đầu ngời 2.500 USD trở lên.
(2) Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15%.
(3) Tổng vốn đầu t phát triển toàn xã hội bằng 35% GDP (97.500 tỷ đồng).
(4) Thu ngân sách trên địa bàn 98.070 tỷ đồng, tăng 17,54% so ớc thực hiện năm
2007.
(5) Chi ngân sách địa phơng 18.594 tỷ đồng, bằng 82,4% so ớc thực hiện năm
2007.
(6) Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn tốc độ tăng trởng kinh tế. [16]
Để kinh tế đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh, bảo đảm nâng cao hiệu quả, tính
bền vững, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Thành phố Hồ Chí
Minh hiện đang tích cực khẩn trơng triển khai thực hiện Chơng trình hành động của
Chính phủ nhiệm kỳ 2007-2011. Nhiều giải pháp đang đợc tích cực triển khai, trong
quá trình công nghiệp hóa toàn khu vực - tốc độ công nghiệp hóa càng nhanh thì vai
trò trung tâm thơng mại - dịch vụ và tài chính của thành phố Hồ Chí Minh càng
quan trọng, nhất là khi thị trờng chứng khoán đợc hình thành ở đây. Thành phố Hồ
Chí Minh có thể sẽ trở thành một trung tâm tài chính và thơng mại trong khu vực
các nớc ASEAN sau năm 2010.
1.2. ý nghĩa cần thiết của việc thu hút nguồn vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố Hồ Chí Minh
Vai trò của vốn đầu t nớc ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM đã
đợc thực tiễn minh chứng. Với tốc độ tăng trởng kinh tế trung bình ở mức hai con
số, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã đóng góp rất tích cực vào quá trình tăng trởng
kinh tế Thành phố (nếu xét về số tuyệt đối và trực tiếp), và từ đó góp phần cải thiện
cơ cấu kinh tế Thành phố theo hớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Hơn nữa, với
20
hiện trạng nền kinh tế còn nhiều điểm bất cập nh hiện nay, FDI là liều thuốc cần
thiết giúp thay đổi diện mạo nền kinh tế cũng nh các lĩnh vực khác của thành phố.
1.2.1. Thực trạng nền kinh tế thành phố
Ngành công nghiệp:
Đến nay, Thành phố đã có trên 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng
35,9% so với năm 2000. Các cơ sở này đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 1 triệu
lao động, tăng gần gấp 2 lần so với thời điểm năm 1995. Nhng theo khảo sát mới
đây (2007) của Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), chỉ có 10% cơ
sở công nghiệp có trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến (ngang với trình độ khu
vực). [31]
Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may; 4/40 cơ sở ngành da giày; 6/68 cơ
sở ngành hóa chất; 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46
cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Còn lại đều là
những doanh nghiệp có trình độ sản xuất cũ, lạc hậu, năng suất thấp và gây ô nhiễm
môi trờng. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây khó khăn cho mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp của Thành phố giai đoạn 2006-2010.
kinh tế trọng điểm phía Nam còn nhiều bất cập và cha đợc quan tâm đúng mức.
- Đầu t đổi mới máy móc thiết bị, thay đổi công nghệ tiên tiến còn chậm so với tiến
trình hội nhập. Năng lực quản trị, kỹ năng của lao động cha đáp ứng kịp với sự phát
triển.
Mặc dù giá trị sản xuất của nhiều ngành công nghiệp liên tục phát triển trong
nhiều năm qua, trong đó có những ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng đến 50% sản
xuất của cả nớc nhng để phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh Thành
phố đã xác định tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp mũi nhọn là: điện - điện tử
- công nghệ thông tin; cơ khí; hóa chất và chế biến tinh lơng thực thực phẩm giai
đoạn 2006-2010 với kinh phí 3,5 tỷ USD. Vì thế yêu cầu cần có thêm những nguồn
vốn FDI đủ mạnh đầu t vào ngành công nghiệp của thành phố, đa ngành này phát
triển nhanh, ổn định, hiện đại trong thời gian tới là vô cùng cần thiết
Ngành nông nghiệp
22
TP Hồ Chí Minh có vùng nông nghiệp, nông thôn ngoại thành khá lớn, chiếm
50% diện tích tự nhiên của thành phố nhng chỉ chiếm 1% GDP của kinh tế thành
phố. đây là căn cứ kháng chiến, là vùng nghèo, nơi sinh sống của gần hai triệu ngời
làm nông nghiệp, chịu bao đau khổ trong suốt 30 năm chiến tranh, trong đó biết bao
gia đình thơng binh, liệt sĩ, gia đình chính sách, ngời có công.
Không giống nh vùng nông nghiệp trù phú thẳng cánh cò bay của đồng bằng
sông Cửu Long, đất nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có hơn 50% là đất phèn
mặn và gần 20% là đất xám, không thuận lợi phát triển nông nghiệp. Diện tích đất
nông nghiệp thành phố giảm liên tục suốt 10 năm qua, mỗi năm khoảng 1.000 ha do
quá trình đô thị hóa trong đó, riêng diện tích gieo trồng vụ mùa 2003 giảm gần
4.200 ha, làm cho trồng trọt giảm khoảng 4,4%. Trong khi đó, diện tích đất trồng
trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (66% tổng diện tích) lại chủ yếu trồng lúa năng suất
thấp. Qua thống kê nhiều năm liền cho thấy, trồng lúa ở đất nông nghiệp thành phố
Hồ Chí Minh thì đa lại năng suất thấp nhất (6,76 triệu đồng/ha/năm); trong khi đó,
trồng cây công nghiệp năng suất gấp 4 lần, cây rau gấp 5 lần, cây hằng năm gấp 13
lần và nuôi tôm sú gấp 20 lần. Thành phố đã đề ra chủ trơng chuyển một phần đất
Bài toán cấp bách đối với nông nghiệp thành phố là trong năm năm tới,
chuyển đổi 24 nghìn ha đất trồng lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng các loại cây, con
hiệu quả kinh tế cao hơn. Giải pháp cơ bản là phát triển các dịch vụ công để cung
cấp thông tin về thị trờng, thú y, bảo vệ thực vật, hỗ trợ cho nông dân nâng cao hiệu
quả kinh doanh, giảm rủi ro. Trong điều kiện các hộ canh tác có diện tích ruộng
nhỏ, để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, trớc hết cần áp dụng kỹ
thuật mới, nâng cao trình độ lao động của nông dân, sao cho nhiều hộ có cùng một
sản phẩm, cùng một kỹ thuật canh tác, cùng thu hoạch, cùng đa ra thị trờng nhất là
có đủ hàng cho những đơn hàng xuất khẩu. Thành phố cần đầu t một nguồn vốn lớn
phát triển khoa học công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực làm cơ sở bảo đảm
cho sản xuất nông nghiệp đạt năng suất, chất lợng, hiệu quả cao. đó là điều kiện
không thể thiếu để nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Dịch vụ
24
Những năm gần đây, mặc dù hoạt động của các ngành dịch vụ trên địa bàn
tăng khá cao, góp phần không nhỏ vào tăng trởng GDP của TP Hồ Chí Minh nhng
so với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hớng tới một trung tâm tài chính dịch vụ
đa chức năng tầm cỡ khu vực vẫn còn nhiều hạn chế.
Tốc độ tăng trởng kinh tế cha tơng xứng với tiềm năng, thế mạnh và khả năng
của thành phố, cha phát huy vai trò trung tâm, đầu tàu kinh tế đối với khu vực và cả
nớc. Việc phát triển các loại hình thị trờng tài chính, khoa học công nghệ, bất động
sản, lao động, t vấn, môi giới còn chậm.
Nguồn nhân lực, nhất là lao động trình độ cao cha đáp ứng đợc nhu cầu cạnh
tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Một số văn bản pháp quy ban hành
trên địa bàn cha phù hợp cam kết khi tham gia hội nhập. Nhiều doanh nghiệp cha
quan tâm việc quảng bá, xúc tiến, tiếp thị sản phẩm ở thị trờng nội địa, hoặc cha có
kế hoạch sản xuất, kinh doanh dài hơi cho dòng sản phẩm chính.
Một số doanh nghiệp mải chạy theo kinh doanh đa ngành nghề nh bất động
sản, tài chính, chứng khoán dẫn đến việc quản lý v ợt tầm, dễ gặp rủi ro. Hoạt
động siêu thị thuộc hệ thống Nhà nớc mới chiếm 10% tổng doanh thu bán lẻ của