Giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh phát triển - Pdf 84


- 1 -
MỞ ĐẦU 1- Sự cần thiết của đề tài
Từ khi thành lập đến nay, các khu công nghiệp và khu chế xuất (sau đây gọi chung
là khu công nghiệp [18] – KCN) thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM) đã đạt được những
thành tựu nhất định, biến những vùng đất nông nghiệp nghèo, lạc hậu thành những khu
sản xuất công nghiệp tập trung năng động, những khu đô thị mới sầm uất, đời sống cư dân
ngày càng được cải thiện, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao
động, tạo ra hàng tỉ
USD kim ngạch xuất khẩu, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước hàng ngàn tỉ
đồng, đã góp phần đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) và
sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.
Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư vào các KCN Tp. HCM đã bộc lộ nhiều hạn chế.
Tính đến nay, Ban quản lý các KCN và KCX Tp. HCM (HEPZA) đang quản lý 3 KCX và
13 KCN với tổng diện tích là 2.354 ha, hầu hết các khu này
đều có tỷ lệ đất cho thuê từ
75-100% trên tổng diện tích đất cho thuê. Cho nên, quỹ đất sẵn sàng dành cho phát triển
công nghiệp không còn nhiều. Đa số các dự án đầu tư có quy mô nhỏ; thâm dụng lao
động; trình độ công nghệ thấp; hiệu quả sử dụng đất công nghiệp chưa cao; nguồn lao
động giản đơn thiếu nghiêm trọng, phải tuyển lao động từ các tỉnh khác, tạo nhiều áp lực
cho thành phố. Nhưng hiện nay, h
ầu hết ở các tỉnh đều thành lập các KCN và thu hút lao
động tại địa phương đó, nên các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM không còn tuyển
được nhiều lao động từ các tỉnh. Hơn nữa, các doanh nghiệp đầu tư vào KCN không còn
được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp đầu tư vào các
dự án công nghệ cao). Từ đó cho thấy, các doanh nghiệp trong KCN đang phải đối mặt
với rất nhiều khó khăn.
Tr

Đồng chủ
biên) (2004), nghiên cứu đã trình bày một số vấn đề về sự hình thành và phát triển các
KCN, KCX; phân tích thực trạng phát triển KCN, KCX ở các tỉnh phía Nam; từ đó đưa ra
những giải pháp phát triển các KCN, KCX.
- Nghiên cứu những giải pháp phát triển các KCN ở Việt Nam trong những điều
kiện hiện nay của GS.TS. Võ Thanh Thu (Chủ nhiệm đề tài) (2005), đã tổng kết được
thực tiễn phát triển và quản lý KCN giai đoạ
n 1991 – 2003; đánh giá các tác động của các
KCN đối với công cuộc CNH-HĐH đất nước; đánh giá mô hình hoạt động và tính hiệu
quả hoạt động của các KCN. Từ đó nghiên cứu đã đề xuất giải pháp phát triển bền vững
KCN trong quá trình CNH-HĐH và tăng cường hội nhập quốc tế của Việt Nam.

- 3 -
- Những giải pháp nhằm phát triển các khu chế xuất và khu công nghiệp Tp. HCM
đến năm 2010 – Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quyết Chiến (2003); Phát triển các khu công
nghiệp của tỉnh Long An đến năm 2010 – Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thanh Tú (2005), và
Phát triển khu công nghiệp của thành phố Cần Thơ đến năm 2020 – Luận án tiến sĩ của
Huỳnh Thanh Nhã (2008), nội dung chủ yếu của các nghiên cứu này là tìm hiểu kinh
nghiệm phát triển khu công nghiệp; thực trạng phát triển các KCN của tỉnh, thành phố,
cũng như định hướng phát triển trong tương lai; từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển
KCN của tỉnh, thành phố.
- Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong Khu công nghiệp tình hình tuyển dụng lao
động giai đoạn 2010-2015 – Bài báo của Thanh Huyền đăng tại website Ban quản lý các
Khu công nghiệp Vĩnh Phúc vào Thứ ba, 20-12-2011, nội dung chủ yếu củ
a nghiên cứu này
là phân tích thực trạng và nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong KCN của tỉnh
Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra giải pháp nhằm đáp ứng nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp
tuyển dụng được lao động đủ về số lượng, đáp ứng về chất lượng.
- Chính sách cụm công nghiệp và phát triển khu vực trong giai đoạn toàn cầu hóa-
cách tiếp cận phương Đông và phươ

các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nông sản; từ đó đề xuất các giải pháp phát triển
nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nông sản.
Từ kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học kể trên, nhận thấy rằng cho đến
nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp và giải pháp
hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM phát triển. Tuy nhiên, các công trình
khoa học kể trên là một ngu
ồn tài liệu tham khảo có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn,
giúp tác giả rất nhiều trong quá trình nghiên cứu.
Luận án sẽ làm rõ cơ sở khoa học về một số tiêu chí đánh giá sự phát triển của các
doanh nghiệp trong KCN, thông qua đó phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp KCN
Tp. HCM và các chính sách, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp KCN từ đó xây dựng một số
giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM phát triển đế
n năm 2020.
3- Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và tiêu chí đánh giá sự phát triển của các doanh
nghiệp trong KCN.
- Phân tích thực trạng phát triển của các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM và các
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

- 5 -
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp trong KCN
Tp. HCM.
- Đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM phát
triển đến năm 2020 phù hợp với yêu cầu và tình hình hiện nay.
4- Phương pháp nghiên cứu
4.1- Dữ liệu nghiên cứu:
Nguồn dữ liệu: đề tài sử dụng nguồn đa dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: các thông tin được thu thập từ báo cáo của Ban quản lý HEPZA
qua các năm (từ năm 2002 đến năm 2011), Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ
sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet và các thông tin từ các nghiên cứu có liên quan.

+ Về thời gian: thời gian khảo sát và thu thập số liệu từ năm 2002 đến năm 2011.
6- Điểm mới và đóng góp của luận án:
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các doanh
nghiệp trong KCN Tp. HCM. Những yếu tố này có thể làm cơ sở nghiên cứu cho những
đề tài có liên quan đến KCN, hay doanh nghiệp trong KCN nói chung.
- Luận án đã đóng góp vào thực tiễn cho việc phát triển các doanh nghiệp trong
KCN Tp. HCM thông qua đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong
KCN Tp. HCM phát triển đến năm 2020 phù hợp với yêu cầu và tình hình hiện nay.
7- Khung nghiên cứu của luận án Dữ liệu thứ cấp
Thực trạng phát triển DN
và những nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển
DN trong các KCN Tp.
HCM

Dữ liệu sơ cấp

LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DN TRONG CÁC KCN
VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỖ TRỢ CHO CÁC DN TRONG CÁC KCN TP. HCM PHÁT TRIỂN
ĐẾN NĂM 2020
Từ báo cáo của
HEPZA, Tổng cục
Thống kê, Bộ
KH&ĐT, từ sách,
báo, tạp chí chuyên
ngành, internet

- Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp trong
KCN Tp. HCM
- Chương 4: Giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM phát
triển

đến năm 2020
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo - 8 -
C
C
H
H

kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
- Khu chế xuất (KCX) là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định,
được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định
tại Nghị định này.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp (KCN), trừ
trường hợp quy định cụ thể [18].
Trong luận án này, tác giả thống nhất từ dùng chung là “khu công nghiệp” nhằm
đề cập đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và khu chế xuất.
1.1.1.2- Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp trong KCN
Doanh nghiệp trong KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
KCN, gồm doanh nghiệp sả
n xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Như vậy, các doanh nghiệp
trong KCN có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
- Các doanh nghiệp trong từng KCN có thể hoạt động đầu tư cùng một số ngành
nghề theo quy hoạch ngành nghề đầu tư cho mỗi KCN do Chính phủ quy định.

- 9 -
- Cơ quan quản lý nhà nước các doanh nghiệp trong KCN là Ban quản lý KCN
tỉnh-thành phố. Ban quản lý cung cấp dịch vụ một cửa, nên việc xin Giấy phép đầu tư
giảm được nhiều thủ tục phiền phức. Đối với các công việc về thủ tục đầu tư, thành lập
doanh nghiệp, xây dựng nhà xưởng, đưa doanh nghiệp vào sản xuất và các hoạt động
khác của doanh nghiệp thì nhà đầu tư chỉ cần g
ặp Ban quản lý KCN tỉnh-thành phố là có
thể hoàn tất trong một thời gian rất ngắn cho việc kiểm tra hồ sơ và cấp Giấy phép đầu tư.
- Trong mỗi KCN đều có đội ngũ bảo vệ riêng canh gác ngày đêm, có đội Phòng
cháy chữa cháy riêng để phục vụ cho các doanh nghiệp trong KCN.
- Các doanh nghiệp trong KCN đều được hưởng những tiện ích về cơ sở hạ tầng
chung như: Hệ thống đường trong khu hoàn chỉnh, đạt tiêu chu
ẩn quy định; Điện, nước

[59]. Theo quan điểm trong giáo trình kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội: “Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi
mặt của n
ền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó, bao gồm cả sự tăng lên về quy
mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội”.
Ngày nay, quan niệm về phát triển còn được mở rộng là phát triển phải gắn với hoà
bình, độc lập và ổn định chính trị. Phát triển phải bền vững và bảo vệ môi trường sống,
phát triể
n là để phục vụ con người, lấy con người làm trung tâm.
Nếu đề cập đến khái niệm phát triển chỉ bằng một định nghĩa thì rất khó có thể
diễn đạt hết ý nghĩa, ta có thể diễn giải khái niệm về phát triển cụ thể như sau:
Sự phát triển bao gồm cả sự tăng lên về lượng (tăng trưởng), sự biến đổi cơ cấu,
trình độ kinh t
ế và của đời sống xã hội;
Sự phát triển là quá trình tiến hoá theo thời gian, do các nhân tố nội tại quyết định;
Kết quả phát triển là một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu đề ra là để
tiếp cận tới các kết quả đó;
Con người chính là trung tâm của sự phát triển. Con người vừa là động lực vừa là
đối tượng của quá trình phát triển;
Phát triển phải gắn với sự bền v
ững, do đó phải bao gồm các yếu tố hoà bình, độc
lập, ổn định chính trị, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện
tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi của các
yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướ
ng phát triển của sự vật.
Phát triển là một khái niệm chung nhất về sự chuyển biến của sự vật từ trạng thái
thấp đến trạng thái cao hơn, đó là một khái niệm mang tính định tính. Do vậy, sẽ rất khó
có một tiêu chí định lượng chính xác và thống nhất để đo lường sự phát triển. Trong
nghiên cứu này, chúng ta tạm quy ước khi nói đến sự phát triển là nói đến các chỉ tiêu

- Tác động lan tỏa tích cực của KCN đến hoạt động kinh t
ế, xã hội và môi trường
của địa phương, khu vực có KCN. Điều này được thể hiện trên các mặt: tạo sự chuyển
dịch tích cực trong CCNN theo xu hướng CNH-HĐH và hướng về xuất khẩu; tác động
tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực KCN;
tác động tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, mà tự
u
chung lại là vấn đề tăng cường khả năng giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho

- 12 -
dân cư trong vùng có KCN; hoạt động KCN luôn gắn liền với các phương án bảo vệ môi
trường, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường.
1.1.4- Quan điểm về phát triển doanh nghiệp trong các KCN
Theo tác giả, phát triển các doanh nghiệp nói chung và phát triển các doanh nghiệp
trong KCN nói riêng là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của doanh nghiệp bao gồm: vốn,
lao động, công nghệ, thị trường, nguồn nguyên liệu, văn hoá, môi trường, xã hội… trong
một thờ
i gian nhất định. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong từng vùng/khu vực đều chịu
ảnh hưởng bởi chính sách của vùng hay khu vực đó, và các doanh nghiệp trong KCN
cũng vậy, cũng có những đặc thù riêng. Cho nên, để phát triển các doanh nghiệp trong
KCN cần xác định đồng thời một số vấn đề sau:
- Về phía các doanh nghiệp trong KCN cần chú trọng phát triển trên một số mặt
như: đảm bảo nguồn nhân lực cho nhu cầu sản xuất-kinh doanh (lực lượng lao
động); đầu
tư công nghệ hiện đại thay thế dần lao động phổ thông; khả năng khai thác nguồn lực và
thị trường; tận dụng những cơ hội, khắc phục những thách thức…
- Về phía cơ quan quản lý nhà nước, để các doanh nghiệp trong KCN hoạt động
sản xuất-kinh doanh thuận lợi và phát triển thì cần tập trung vào các mặt sau: chú trọng
tạo môi trường đầu tư cho các doanh nghiệp phát triển; h
ỗ trợ doanh nghiệp, tháo gỡ

chất quyết định, là nhân tố nội lực. Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận thức
được tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn nội bộ, chúng ta đã xem
nhẹ việc thu hút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN. Điều này có thể thấy rõ ở
số d
ự án và tổng vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước vào KCN trong thời
gian này còn rất hạn chế. Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong nước mới được
chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước vào các KCN tăng đáng kể, số dự án trong nước
trong các KCN trong những năm gần đây đã lớn hơn so với khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Đến tháng 12/2011, các KCN cả nướ
c đã thu hút 5.064 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 390.000 tỷ đồng.
Hai là là huy động vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong điều kiện nền
kinh tế tích luỹ nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan
trọng. KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các doanh nghiệ
p có vốn
đầu tư nước ngoài. Thực tế từ khi xây dựng KCN đến nay, số dự án và tổng vốn đầu tư
nước ngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong trong tổng
vốn FDI đầu tư trên cả nước. Đến tháng 12/2011, tổng số dự án có vốn đầu tư nước ngoài
trong KCN là hơn 4.100 dự án với tổng vốn đăng ký gần 59 tỷ USD. Tổng vốn đầ
u tư
phát triển cơ sở hạ tầng của 283 KCN trên cả nước đạt trên 9,5 tỷ USD
2
. Có thể nói, các
nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy yên tâm hơn khi đầu tư vào KCN. Bởi lẽ, trong KCN có
một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn có, một môi trường pháp lý thuận lợi và
2
Cầm Văn Kình (2012), Lượng nhiều chất chưa tương xứng, [ />nhieu-chat-chua-tuong-xung.ttm, ngày 18/02/2012]

- 14 -
thống nhất, là nơi cơ chế “một cửa, tại chỗ” được thực thi rõ ràng nhất. Đây chính là

ững ngành truyền thống, đã có từ lâu ở nước ta.
Những dự án trong KCN đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ,
chất lượng sản phẩm.

- 15 -
Các doanh nghiệp trong KCN đã góp phần nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ
công nghiệp như dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông,
logistic… Đây là những dịch vụ có chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế và có giá trị gia tăng
khá, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
Tóm lại, doanh nghiệp trong KCN đã góp phần chuyển dịch cơ c
ấu kinh tế theo
hướng CNH-HĐH cả về mặt chất và lượng. Mặc dù vẫn còn sự bất lợp lý trong cơ cấu
ngành nghề công nghiệp, tỷ trọng các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp kỹ thuật
cao còn thấp, còn tồn tại những hậu quả do các doanh nghiệp có trình độ công nghệ thấp,
lạc hậu du nhập vào Việt Nam, nhưng đóng góp của doanh nghiệp trong KCN vào chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
đất nước là không thể phủ nhận.
1.2.3- Góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
xoá đói giảm nghèo
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rằng con người luôn ở vị trí trung tâm trong
toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Không thể phủ nhận rằng người lao động
Việt Nam rất tháo vát, nhạy bén, thích ứng mau lẹ với mọi hoàn cảnh biến động của nền
kinh tế thị trường và có khả năng nắm bắt những kỹ thuật mới để sử dụng vào sản xuất
kinh doanh. Nhưng, với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH thì chất lượng của người lao
động Việt Nam còn thấp đáp ứng được yêu cầu.
Việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào KCN để tạo ra nhiều việc làm là một trong
những mục tiêu quan trọng của nước ta. Mặ
c dù việc thu hút nguồn nhân lực vào các doanh
nghiệp FDI trong KCN chưa phải là lớn, hiện có hơn 1,76 triệu người làm việc
2

KCN là những người nghèo đến từ nhiều địa phương. Tỷ lệ này cho thấy số thoát nghèo
trực tiếp nhờ KCN là gần 250.000 người, nếu tính thêm số lao động gián tiếp và những
nhân khẩu ăn theo thì con số thoát nghèo lên tới nửa triệu người [35]. Như vậy, việc mở
rộng thu hút đầ
u tư doanh nghiệp vào KCN không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn góp phần đáng kể vào việc thực hiện xoá đói
giảm nghèo, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động ở nước ta.
1.2.4- Đóng góp đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập
khẩu và ngân sách cả nước
Qua 20 năm hình thành và phát triển, các doanh nghiệp trong KCN Việt Nam đã
góp phần quan trọng trong việc tạo ra nhiều giá trị công nghiệp, đẩy nhanh quá trình tăng
trưởng sản lượng công nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế; từng bước đưa nước ta tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế
theo hướng tập trung hoá, chuyên môn hoá, khai thác tốt nhất mọi nguồn lực và những lợi
thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh và thúc đẩy tốc độ phát triển chung của nề
n kinh tế.

- 17 -
Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp
trong KCN liên tục tăng nhanh và đều qua các năm. Doanh thu trung bình của các doanh
nghiệp trong KCN tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần tốc độ tăng trưởng
GDP của cả nước. Năm 1998, doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN đạt gần 1,5 tỷ
USD; sang năm 2003 doanh thu đã tăn lên gần 7,3 tỷ USD, gấp 4,8 lần so với năm 1998;
đến măm 2005 con số này đã tăng lên 14 tỷ USD, g
ấp gần 2 lần so với năm 2003; và đến
năm 2010 doanh thu đạt gần 20,3 tỷ USD, tăng hơn 1,4 lần so với năm 2005.

Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Hình 1.1: Doanh thu, xuất khẩu và nộp ngân sách của doanh nghiệp trong KCN
Như vậy, các doanh nghiệp trong KCN đã đóng góp đáng kể vào việc tăng trưởng

đơn giản của Thomas R.Dye (1984), chính sách công là cái mà Chính
phủ lựa chọn làm hay không làm. Theo James Anderson (2003), chính sách là một quá trình
hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong
việc giải quyết vấn đề. Còn William N.Dunn (1992) cho rằng chính sách công là một kết hợp
phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động,
do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra. Trong khi đó, theo Peter
Aucoin (1971), chính sách công bao gồm các ho
ạt động thực tế do Chính phủ tiến hành
3
.
Kraft và Furlong (2004) đã đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn. Chính sách công
là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề
công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận
một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực
hiện những chương trình
3
.
Khi có một vấn đề kinh tế-xã hội nào đó xuất hiện, Chính quyền sẽ lựa chọn nội
dung, mục tiêu và cách thức hỗ trợ, giải quyết vấn đề đó. Sự lựa chọn đưa đến quyết định
3
Vũ Ngọc Anh (2009), Những nét cơ bản về chính sách, [
PX2YpGu06HRAcUfb9c1F0WqxZVKJTso5JOSwdR6daiKcdlAj3cfCI3IJ*KlDD30F1UnAiYxdVk/Nhngntcbnvchnhsch.doc]

- 19 -
và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính
sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó.
Tuy nhiên, hỗ trợ không có nghĩa là nhà nước bao cấp mà sự hỗ trợ này phải có mục tiêu,
có điều kiện, có thời hạn… và đặc biệt là phải phù hợp với những cam kết song phương,
đa phương khi nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Nội dung c

doanh nghiệp trong KCN
Sự phát triển của các doanh nghiệp trong KCN bị tác động bởi nhiều nhân tố từ
môi trường vĩ mô và vi mô.
1.4.1- Tác động của môi trường vĩ mô
1.4.1.1- Các yếu tố về chính trị - pháp luật:
Các yếu tố về chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Nó bao gồm hệ thống các quan điểm chính sách của chính phủ, hệ
thống pháp luật hiện hành; các xu hướ
ng ngoại giao của chính phủ; những diễn biến chính
trị trong nước, khu vực và thế giới.
Cơ chế chính sách vĩ mô thực sự có tác động mạnh mẽ đến xu hướng vận động
tổng quát của việc khuyến khích hay hạn chế thu hút đầu tư từ nhà đầu tư trong và ngoài
nước vào một quốc gia hay một địa phương cụ thể, đến sự phát triển của các doanh
nghiệp. Sự
khuyến khích hay không khuyến khích, điều chỉnh tăng hay giảm, thậm chí
cấm ngặt đối với một số lĩnh vực nào đó sẽ có tác động làm gia tăng mức tăng trưởng hay
kìm hãm, thậm chí loại bỏ một số lĩnh vực (sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ) mặc dù
những lĩnh vực này có thể đem lại lợi nhuận xét về mặt kinh tế, tài chính, nhưng việc có
cho phép hay không l
ại phụ thuộc vào các quan điểm chính trị, văn hóa và xã hội. Ví dụ
như sản xuất và kinh doanh vũ khí, casino, các hoạt động quán bar, vũ trường… [39]
1.4.1.2- Các yếu tố kinh tế
Các doanh nghiệp luôn chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và
sự can thiệp của Chính phủ tới nền kinh tế. Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên
yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu v
ực [5].
a/ Tình trạng của nền kinh tế: bất cứ nền kinh tế nào cũng đều có tính chu kỳ.
Trong mỗi giai đoạn nhất định của nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù
hợp cho riêng mình.
b/ Triển vọng kinh tế trong tương lai: được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của

cao ắt sẽ dẫn đến lạm phát
4
.
Chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát tăng cao, kéo dài sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực
đến toàn bộ nền kinh tế. Những tác động trực tiếp đến doanh nghiệp khi giá cả tăng mạnh
sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế
4
.
- Lãi suất và chính sách lãi suất: là một trong những sách lược kinh tế vĩ mô quan
trọng của mỗi quốc gia. Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ
tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Sự gia tăng lãi suất làm
4
Lê Nguyễn Hải Đăng (2004), Lạm phát cao và những tác động đến đời sống kinh tế, [ />hoi/Lam-phat-cao-va-nhung-tac-dong-den-doi-song-kinh-te/45114006/124/, ngày 09/12/2004]

- 22 -
tăng chi phí vốn vay ngân hàng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân
hàng phải có tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thực hiện với
mức lãi suất cao hơn này có thể giảm hay nói cách khác, đầu tư cố định có thể giảm.
Ngoài ra, lãi suất cao cũng làm tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụ như hàng trong
kho) và do v
ậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải giảm đầu tư dưới dạng vốn lưu động.
Như vậy, lãi suất tác động trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân
cư và người lao động. Vì vậy để lãi suất cơ bản khẳng định được vai trò điều tiết thị
trường, ổn định kinh tế vĩ mô thì Ngân hàng nhà nước phải tr
ực tiếp điều hành lãi suất
một cách linh hoạt, kịp thời, duy trì mặt bằng lãi suất ổn định trên cơ sở dung hòa được
lợi ích của các bên.
1.4.1.3- Lao động và nguồn nhân lực
Độ lớn dân số và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát

khác (Romer 1986, Lucas 1988, Barro 1988, Maddison 1995…) gần đây cũng đã tái nhấn
mạnh những ảnh hưởng tích cực của nguồn nhân lực đến tăng trưởng. Otani và
Villanueva (1990) cũng đã khẳng định vai trò tích cực của nguồn nhân lực trong nghiên
cứu thực tiễn của mình [58].
M
ột vấn đề khác cũng ảnh hưởng không kém đến sự phát triển của doanh nghiệp nói
chung có liên quan đến lao động đó Xu hướng nhân khẩu học. Tác nhân này biểu hiện cả ở
hai khía cạnh cung và cầu nguồn nhân lực. Ở khía cạnh cung, xu hướng biến động dân số sẽ
quyết định xu hướng biến động của quy mô lực lượng lao động xã hội. Còn xu hướng biến
động cầu sẽ có ảnh h
ưởng không nhỏ tới quy mô và cơ cấu nhu cầu thị trường [39].
1.4.1.4- Các nguồn lực tự nhiên
Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: “Lao động là cha của của cải,
còn đất là mẹ của nó”. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia được hình thành như thế nào đều
chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng [39]. Tài nguyên thiên
nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để quy ho
ạch phát triển kinh tế của các quốc
gia, của từng vùng, khu vực trong mỗi quốc gia. Nguồn lực tự nhiên trong đề tài này có
thể được kể đến là điều kiện tự nhiên và quy mô đất đai để xây dựng và đầu tư. Vì quy mô
đất đai lớn hay hạn chế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển kinh tế, cũng như
ảnh hưởng đến sự phát triể
n bền vững của vùng hay khu vực. Nguồn lực tự nhiên tạo nên
cái mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động của các nền
kinh tế. Song, để thu hút đầu tư và sự phát triển cho doanh nghiệp trong quá trình CNH-
HĐH thì cần phải có những chính sách, định hướng, quy hoạch sao cho đúng, phù hợp với
đặc điểm, tình hình của từng khu vực trong từng giai đoạn phát triển khác nhau. - 24 -
1.4.1.5- Tiến bộ công nghệ

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo sự thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong các KCN nói riêng
đó là yếu tố về cơ sở hạ tầng. Đối với các doanh nghiệp KCN, yếu tố này có ý nghĩa đặc

- 25 -
biệt. Khi nói đến cơ sở hạ tầng trong các KCN là xét đến yếu tố vị trí đặt KCN; quy mô
đất trong KCN; tỷ lệ lắp đầy KCN; đất đai phục vụ công nghiệp đã được đền bù giải toả,
sẵn sàng cho đầu tư; hệ thống xử lý nước thải công nghiệp; điện nước, điện thoại,
internet; đường xá trong các KCN; hệ thống bảo an, phòng cháy chữa cháy…
1.4.2.2- Đối thủ cạ
nh tranh
Sự hiểu biết về những tổ chức này là quan trọng cho việc lập kế hoạch chính sách
kinh tế dài hạn. Đối với doanh nghiệp thì đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh cùng ngành. Khi tìm hiểu đối thủ cạnh tranh của đối tượng đang xét đến
thuộc vùng, khu vực là những vùng, khu vực lận cận thuộc phạm vi trong nước hoặc có
thể là ngoài nước về cùng một
đối tượng đang xét đến. Ở đề tài luận án này, đối thủ cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong KCN Tp.HCM là các doanh nghiệp trong KCN thuộc
các tỉnh, thành phố khác tại Việt Nam.
Xét trên phạm vi vùng, khu vực, các tổ chức cạnh tranh xác định bản chất và mức
độ cạnh tranh trong kinh doanh hay dùng những thủ đoạn để giữ vững vị trí. Cường độ
của sự cạnh tranh này có thể dựa trên cơ sở tương tác những y
ếu tố như vậy khi các tổ
chức có tốc độ tăng trưởng công nghiệp, cơ cấu chi phí cố định, mức độ đa dạng hóa sản
phẩm, nguồn lao động dồi dào và lao động có trình độ và tay nghề cao. Sự hiện diện của
những yếu tố này có khuynh hướng dẫn đến thay đổi trong cơ cấu ngành nghề tại vùng,
khu vực đó. Đến lượt nó, những yếu tố
này sẽ tác động đến các tổ chức để các tổ chức này
nhận ra rằng sự cạnh tranh không ổn định. Ví dụ, những ngành trưởng thành thường gặp
sự cạnh tranh lớn khi tốc độ tăng trưởng giảm sút, và những yếu tố trước đây được coi là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status