LUẬN VĂN:Vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Vai trò quản lý của nhà nước
đối với nền kinh tế Lời nói đầu

Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoà tập trung sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách
quan. Quá trình chuyển đổi đó được bắt đầu từ đại hội VI năm 1986. Trong quá trình

hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý
luận cũng như trong thực tế lãnh đạo của Đảng trên mặt trận làm kinh tế. Việc chuyển đổi
trên hoàn toàn đúng đắn. Nó phù hợp với thực tế của nước ta phù hợp với các qui luật
kinh tế và xu thế của thời đại.
- Nếu không thay đổi cơ chế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản
phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất. Thực tế
những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ thực hiện cơ chế kinh tế cho dù chúng ta đã liên
lục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt
mức rất thấp. Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu dùng của Xã hội đạt mức rất thấp,
tích luỹ hầu như không có đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nước ngoài.
- Do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc cái đó chỉ có tác dụng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng.
Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó nó không những không còn tác dụng
đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu
cực làm giảm năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
- Xét về sự tồn tại thực tế ở nước ta những nhân tố của nền kinh tế thị trường, Về
vấn đề này có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều nước cho rằng thị trường ở nước
ta là thị trường sơ khai. Thực tế kinh tế thị trường đã hình thành và phát triển đạt được
những mức phát triển khác nhau ở hầu hết các đô thị và vùng hẻo lánh và đang được mở
rộng với thị trường quốc tế. Nhưng thị trường ở nước ta phát triển chưa đồng bộ còn thiếu
hẳn thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động thị trường vốn và thị trường đất
đai về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức độ can thiệp của nhà nước còn rất thấp.
- Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với
nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước
ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế
giới. Tương quan giá cả các loại hàng hoá trong nước gần gũi hơn với tương quan giá cả
hàng hoá quốc tế.

Sau ngày giải phóng Miền Nam bức tranh về hiện trạng kinh tế xã hội đã thay đổi.
Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả ba loại hình kinh tế tự cấp tự túc, nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá.
Đó là thực tế khách quan, tồn tại sau năm 1975, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục chủ
trương xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trong phạm vi cả nước.
Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý kinh tế cũ vào
điều kiện nền kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tượng tiêu cực. Do chủ
quan cứng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý kinh tế mà chúng ta
đã không quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên sản xuất của đất nước, trái lại đã dẫn
đến việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm trọng các nguồn tài nguyên đó. tài nguyên
thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả, nhà nước thực
hiện bao cấp tràn lan. Những sự việc đó gây ra rất nhiều hậu qủa xấu cho nền kinh tế, sự
tăng trưởng kinh tế “gặp nhiều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm
hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như
không có. Vốn đầu tư chủ yếu dựa vào vay viện trợ của nước ngoài. Đến cuối những năm
80, giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời sống nhân
dân bị giảm sút thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập. Nguyên nhân sâu xa
về sự suy thoái nền kinh tế ở nước ta là do ta đã rập khuôn một mô hình kinh tế chưa
thích hợp và kém hiệu quả. Những sai lầm cơ bản là:
- Ta đã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất trên qui mô lớn trong
điều kiện chưa cho phép. Điều này đã dẫn đến một bộ phận tài sản vô chủ và đã không sử
dụng có hiệu quả nguồn lực rất khan hiếm của đất nước trong khi dân số ngày càng một
gia tăng.
- Thực hiện việc phân phối lao động cũng trong điều kiện chưa cho phép: khi tổng
sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối bình quân vừa phân phối lại
một cách gían tiếp đã làm mất động lực của sự phát triển.
- Việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công cụ hành chính, mệnh

phần kinh tế có khả năng mở rộng , có tác dụng làm cho kinh tế hàng hoá và dịch vụ phát
triển , cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ sớm hình thành theo định hướng cơ cấu kinh
tế .
- Nó đảm bảo cho mọi người , mọi doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào cũng
đều được tự do kinh doanh theo pháp luật , được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền
thu nhập hợp pháp .
- Các chủ thể kinh tế đều được hoạt động kinh doanh theo cơ cấu tự chủ , hợp tác ,
cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật .
- Trong điều kiện hiện nay LLSX mang tính quốc tế hoá cao do cuộc cách mạng
khao học hiện đại trên thế giới phát triển hết sức mạnh mẽ làm cho các nước phụ thuộc
vào nhau trong quá trình phát triển kinh tế vì vậy để phát triển kinh tế các quốc gia mở
rộng quan hệ kinh tế với nhau đó là xu thế tất yếu Việt nam cũng không nằm ngoài xu thế
đó .
- Đa dạng đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế nhưng với nguyên tắc bình đẳng
độc lập hai bên đều có lợi . Tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau . Mở rộng ki nh tế
nước ngoài đó là phát triển ngoại thương :
- Liên doanh liên kết với nước ngoài
- Hợp tác nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật
- Hợp tác lao động dịch vụ vv
- Nền kinh tế hàng hoá nước ta vận động theo cơ chế thị trường theo định hướng
XHCN
Nếu kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có mặt tích cực nhưng lại không ít
những mặt khuyết tật nó đối lập với bản chất mà xã hội chúng ta đang xây dựng . Nền
kinh tế nhiều thành phần tồn tại vừa hợp tác vừa cạnh tranh nên nền kinh tế nhiều thành
phần dễ bị chệch hướng XHCH mặt khác cơ chế thị trường lại có mặt khuyết tật do đó để
đảm bảo tính định hướng XHCN phải tăng cường vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà
nước .

tiết thị trường và giá cả ở mức độ nhất định”.
Ngoài ra Nhà nước cũng phải đầu tư phát triển các doanh nghiệp cùng các thành
phần kinh tế khác nhằm tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế. Kinh tế tập thể hợp tác xã
phải được phát triển theo nguyên tắc tự nguyện dưới dạng cổ phần, liên doanh. Kinh tế tư
nhân được phát triển bình đẳng và có thể đan xen vào các thành phần kinh tế khác. Để có
được cơ cấu kinh tế như vậy cần phải giải quyết những vấn đề phân phối thu nhập.
Ngoài tiền lương, tiền công người lao động còn được hưởng phân phối từ các nguồn hữu
sản của họ. Cơ cấu kinh tế mới được hình thành một phần do tự điều chỉnh của nền kinh
tế, một phần do nhà nước điều tiết. Phát triển kinh tế nhiều thành phần sẽ tạo ra được môi
trường cạnh tranh và huy động được tối đa tiềm lực của xã hội vào việc phát triển kinh tế
xã hội.
Năm là: Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế thị trường vì dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt nam. Đây là một nội dung quan trọng không thể thiếu được đảm
bảo định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Trong thời kỳ đầu chuyển
sang kinh tế thị trường phát triển đúng hướng. Vai trò đó phải được thể hiện bằng hệ
thống pháp luật, bảo vệ quyền tự do, dân chủ, công bằng xã hội trong phân phối và mở
rộng phúc lợi xã hội cho toàn dân bằng hệ thống hàng hoá công cộng. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta đánh giá tổng quát và rút kinh nghiệm đổi mới ở nước
ta như sau: “ cùng với sự kích thích sản xuất phát triển kinh tế thị trường cũng là một
môi trường thuận lợi để nảy sinh và phát triển nhiều loại tệ nạn . Để hạn chế và khắc
phục được những hậu quả tiêu cực ấy, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát
huy bản chất tốt đẹp của XHCN, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế - xã
hội bằng luật pháp , kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền giáo dục và các công cụ
khác”.
Sáu là: Nền kinh tế thị trường hướng tới ở nước ta là nền kinh tế dân tộc hoà hợp
với nền kinh tế quốc tế. Với xu hướng phát triển kinh tế mở rộng, nội dung trên có ý
nghĩa rất lớn, một mặt nó phát huy được lợi thế so sánh của nền kinh tế nước ta về vị trí

nước là xu hướng vận động khách quan ở nước ta trước mắt lẫn lâu dài . Chính vì thế mà
Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sụ quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ở đây nhà
nước “ của dân , do dân , vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nhất
bảo đảm tính định hướng XHCN “ nhờ kết quả 10 năm đổi mới, vai trò quản lý của Nhà
nước đã được tăng cường . Bằng các công cụ pháp luật , kế hoạch , các thiết chế về tài
chính , tiền tệ và những phương tiện vật chất khác, Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích,
phát huy những mặt tích cực của kinh tế hàng hoá ; ngăn ngừa, hạn chế tính tự phát và
các khuyết tật của cơ chế thị trường .
III. Các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta
1. Điều kiện cho sự phát triển kinh tế hàng hoá .
+ Một là , nhà nước cần sớm tạo ra sự ổn định về chính trị , kinh tế , xã hội . Có ổn
định về chính trị mới có thể ổn định và phát triển kinh tế , xã hội , tất nhiên không phải
tiến hành một cách biệt lập thiếu đồng bộ . Nói ổn định về chính trị là nói đến chính
quyền . Nhà nước phải có đủ uy tín đối với các doanh nghiệp và nhân dân . Uy tín này thể
hiện ở tính đúng đắn của đường lối , chính sách và trình độ điều hành vĩ mô của Nhà
nước . ổn định về kinh tế có nội dung rất phong phú , song yêu cầu chủ yếu và trước tiên
là sự ổn định về tài chính , tiền tệ và sự kiểm soát được lạm phát . Vì nếu như không vậy ,
thì toàn bộ hoạt động kinh tế bị méo mó, biến dạng , không kích thích được đầu tư , tiêu
cực phát sinh , tâm lý xã hội phức tạp . Điều quan trọng nhất của sự ổn định xã hội là tạo
được niềm tin , niềm hy vọng trong nhân dân . Chẳng hạn niềm tin ở chỗ , ai làm nhiều,
làm tốt bằng tài năng của mình theo khuôn khổ pháp luật , thì thu nhập cao . Niềm tin đó
là động lực quan trọng cho phép khai thác phát huy được tinh thần dân tộc có lợi cho sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế cần thiết trong nền kinh tế hàng hoá .
+ Hai là , xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội . Việc đầu tư sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước và người nước ngoài được tiến hành
thuận lợi và trở lên hấp dẫn hay không , phụ thuộc nhiều nhân tố , nhưng trước hết phụ

có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Không cầu toàn , không chờ đợi , mà vừa làm vừa tạo
dựng , vừa củng cố phát triển và hoàn thiện các điều kiện tiền đề . Vì thế , nó phải là một
quá trình .
2. Phương hướng và biện pháp mấu chốt để phát triển kinh tế hàng hoá
Một là , thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần , theo
định hướng xã hội chủ nghĩa . Với các hình thức sở hữu đa dạng như : Sở hữu nhà nước ,
sở hữu tập thể , sở hữu hỗn hợp , sở hữu các thể , sở hữu tư bản tư nhân Qua đó , và
bằng cách đó , cho phép sử dụng hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế
có lợi cho sự phát triển kinh tế hàng hoá ; tạo điều kiện để Nhà nước dành vốn đầu tư cho
những ngành thuộc cơ sở hạ tầng rất cần thiết , phù hợp với điều kiện thu nhập quốc dân
còn rất hạn hẹp ở nước ta .
Hai là , sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước theo hướng nắm ngành khâu , mặt
hàng trọng yếu , chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh , tự chủ về mọi mặt , đủ sức đứng
vững giành thắng lợi trong cạnh tranh , để kinh doanh có hiệu quả . Bằng cách đó , mà
giữ phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh đối với các thành phần kinh tế khác
trong nền kinh tế hàng hoá .
Ba là , sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế của kinh tế tư bản nhà nước , nhừm
lợi dụng sức mạnh hỗn hợp giữa tư bản trong và ngoài nước với Nhà nước về các mặt
vốn , cồng nghệ và tài năng quản lý để phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta .
Bốn là , đẩy mạnh nhận công lao động và hiệp tác lao động theo hướng : chuyên
môn hoá kết hợp với đa dạng hoá sản xuất kinh doanh ; tăng cường và phát triển ngành
phi sản xuất vật chất ( ngành kinh tế dịch vụ ) ; coi trọng lao động trí tuệ : theo kịp sự
biến đổi nhanh chóng các ngành , mặt hàng mũi nhọn và có tương lai . Chú trọng xu
hướng phân công và hợp tác lao động trên phạm vi quốc tế dựa vào thế mạnh sẵn có cuả
nhau để phát triển kinh tế hàng hoá .
Năm là , đẩy mạnh sự CNH,HĐH , coi trọng việc ứng dụng các thành tựu khoa
học và công nghệ của loài người ( nhất là cần coi trọng khoa học công nghệ ứng dụng ) .

kiên quyết đổi mới theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế hàng hoá . Kết luận
Điểm qua một vài thành tựu của Việt Nam đạt được từ khi đổi mới đến nay chúng
ta thấy nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển. Điều đó đạt được là do đường lối
của Đảng và Nhà nước đề ra từ Đại hội VI (1986). Trong cơ chế kinh tế mới này thì Nhà
nước có vai trò rất quan trọng. Bằng những công cụ quản lý của mình Nhà nước điều
chỉnh nền kinh tế, đưa nền kinh tế phát triển lên một trình độ cao hơn và đạt được những
thành tựu mong muốn. Nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều những mặt tiêu cực xảy ra trong
xã hội do hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra, Theo tôi nghĩ thì nền kinh tế thị trường
là một nền kinh tế phát triển cao. Mọi người được phép tự do cạnh tranh do đó không thể
không gây ra những tệ nạn xã hội vì vậy Nhà nước cần phải có những biện pháp quản lý
đúng đắn công bằng cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh kinh tế thị trường sẽ
gây ra sự phân hoá giàu nghèo vì thế sẽ phải có những chính sách đúng đắn để nhằm hạn
chế phân hoá giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội trên cơ sở nâng cao mức thu nhập
bình quân đầu người.
Cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao để hoàn thiện hơn bộ
máy quản lý của nhà nước từ đó sẽ thực hiện tốt được các vấn đề quản lý kinh tế và đưa
nền kinh tế tăng trưởng, phát triển mạnh dẫn đến tạo được việc làm cho người lao động
và hạn chế lạm phát. Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài trong sản xuất, đầu tư những
ngành có trọng điểm, hướng mạnh thị trường xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế.
Đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, thế kỷ của trí tuệ, là sinh viên kinh tế em
tự cho mình phải phấn đấu học tập, rèn luyện để sau này trở thành một cán bộ kinh tế tốt
sẽ cống hiến sức mình góp phần vào xây dựng đất nước trở thành một đất nước có nền
kinh tế phát triển mạnh đứng trong hàng ngũ các nước phát triển trên thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status