XÃ HỘI HỌC TÔN GIÁO
BÀI 1: NIỀM TIN TÔN GIÁO
I/ QUAN HỆ VỀ NIỀM TIN TÔN GIÁO:
Niền tin tôn giáo đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với tín đồ, nó là định hướng
giá trị bền vững và chi phối hành động, tình cảm, ý thức, lối sống của tín đồ, vì vậy
khi nói đến tín đồ nghĩa là nói đến con người có niềm tin tôn giáo.
II/ NGUỒN GỐC CỦA NIỀM TIN TÔN GIÁO:
a/ Tiếp cận niềm tin tôn giáo từ góc độ sinh học: các nhà nghiên cứu tôn giáo
cho rằng 1 tín đồ, 1 con người có niềm tin tôn giáo đều được qui định bởi yếu tố
sinh học (theo nghĩa đen có nghĩa là có những người khi sinh ra có sẵn niềm tin tôn
giáo, nhưng bị chi phối bởi các tố chất ).
Đứng đầu trường phái này là S.Frend: là nhà tâm lý và nhà XHH ông đã
nghiên cứu niềm tin tôn giáo qua bản năng sinh học. Theo ông những tín đồ tôn
giáo là những người có chức năng thần kinh khác thường, chức năng đó hướng họ
đến yếu tố siêu tự nhiên vì vậy theo ông yếu tố tâm lý là 1 yếu tố đặc biệt quan
trọng đối với tín đồ vì đó là hoạt động của hệ thần kinh. Một trong những người
phát triển quan niệm này của S.Frend là Parop- khi ông cho rằng việc tín đồ thực
hiện hành vi chính là diển biến tâm lý được qui định bởi yếu tố sinh học.
b/ Tíep cận từ góc độ xã hội: Quan niệm này bắt đầu từ những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác, một người có niềm tin tôn giáo phải xuất phát từ yếu tố xã hội
như gia đình, cộng đồng, đó là những nhân tố XH quan trọng tác động đến họ hình
thành và duy trì niềm tin tôn giáo(Vd: 1 người sinh ra trong một gia đình tôn giáo
thường họ là tín đồ.)quan niệm này thường được nhiều trường phái nghiên cứu
thừa nhận khi xem xét hiện tượng chuyển đổi tôn giáo.
c/ Quan niệm của M.Weber: là 1 trong những nhà XHH thời kỳ đầu và ông cũng
đặt nền tảng nghiên cứu tôn giáo.
Theo quan điểm của M.Weber niềm tin tôn giáo là sự biểu hiện thông qua
ứng xử, hành vi, hành động của con người trong XH, nó được qui định bởi các điều
kiện kinh tế vì vậy niềm tin tôn giáo là sản phẩm của quá trình sản xuất của xã hội,
quan niệm quyền uy của đức chúa trời cũng phụ thuộc vào nhân tố này và theo ông
đức chúa trời không phải là nhân vật vĩnh hằng mà các đặt tính của ông luôn thay
Các nhà XHH còn xem thực hành tôn giáo là 1 sự kiện XH và có thể đo kiểm được
bằng những hình thức thống kê, quan sát, để tìnm ra sự tăng hay giảm của niềm tin
tôn giáo. Tuy nhiên chỉ mang tính tương đối.
+ Thực hành tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ với niềm tin tôn giáo và biến đỗi tôn
giáo, hầu hết các nhà XHH đều xem thực hành tôn giáo là một thướcđo, một tiêu
chí để kiểm định về niềm tin tôn giáo.
Tóm lại: việc giảm bớt các nghi lễ tôn giáo là sự biến đỗi tôn giáo, không phải là
tôn giáo mất đi mà chỉ là thay đổi về bản chất.
Định nghĩa: Thực hành tôn giáo được xác định là một tín đồ thực hiện những qui
định về nghi thức của 1 tôn giáo hay 1 tín ngưỡng hoặc việc một tổ chức tôn giáo
qui định một loạt cách thức ứng xử trong điều kiện xã hội nhất định.
Kết luận: Thực hành tôn giáo là 1 hiện tượng XH thể hiện sắc thái quyền uy của
một tôn giáo
Thực hành tôn giáo như một hiện tượng văn hoá – XH vì vậy mỗi quốc gia có cách
thức thực hành tôn giáo khác nhau, mỗi một tộc ngừời, mỗi một giai cấp có cách
thức thực hành tôn giáo khác nhau.
II/ Những vấn đề cơ bản của thực hành tôn giáo:
Thực hành tôn giáo là một cách gọi khác của kinh nghiệm và thao tác tôn giáo, nó
được thông qua việc tham gia các nghi thức, các nghĩa vụ của một tín đồ hay nhóm
tín đồ đối với 1 tôn giáo như việc đi lễ nhà thờ, việc cầu nguyện ngày thừ 6.
- Việc tham gia những nghi lễ của một tín đồ hay của 1 tôn giáo nó không theo 1
chuẩn mực nhất định, nó là sự thể hiện của những hiện tượng XH Như việc 1 tín đồ
không nhất thiết đến nhà thờ, hay không nhất thiết thực hiện những nghi lễ tôn giáo
nơi công cộng.
- Thực hành tôn giáo là 1 hiện tượng XH, là sự suy ngẫm cầu nguyện của tín đồ
trong những giai đoạn XH nhất định.
Kết luận việc đo kiểm thực hành tôn giáo đối với các nhà XHH thường được sử
dụng cách thức quan sát, thống kê, mức độ liên tục tham gia các nghi lễ của tín đồ.
III/ Nghiên cứu XHH về thực hành tôn giáo:
Đề tài: “ Việc thực hiện nghi lễ của sinh viên là tín đồ đạo thiên chúa trong các
- Kết luận: Phải thể hiện 2 yếu tố
+ kết luận: lược lại cái anh thực hiện
+ Kiến nghị.
BÀI 3 CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO VÀ VẤN ĐỀ
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
I/ Lý luận:
Chính sách tôn giáo là vấn đề mang tính quy luật của tất cả các quốc gia tuy nhiên
việc thực hiện CSTG phụ thuộc vào đặc điểm tô giáo và XH của mỗi quốc gia, ở
những quốc gia đa tôn giáo vấn đề CSTG càng phải được thể hiện rõ.
II/ Chính sách tôn giáo ở Việt Nam:
1/ Đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam: ở khía cạnh Lý luận tôn giáo: là hình
thức ý thức XH nó đã tồn tại cùng với sự phát triển loài người và ảnh hưởng sâu
rộng đến đời sống KT – CT – VH – XH.
- Việt Nam có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng do những yếu tố địa chính trị qui định
vì vậy ở Việt Nam có cả những tôn giáo lớn nhất thế giới và cả tôn giáo dân tộc,
song hành với những tôn giáo này là tập quán thờ cúng tổ tiên, thờ thần Hoàng
Làng và các tín ngưỡng đa thần khác. Theo thống kê năm 2006 Việt Nam có
khoảng 20 triệu tín đồ, trong đó Phật giáo khoảng 10 triệu; Kito giáo 5 triệu; còn
lại là các tôn giáo tín ngưỡng khác.
- Tôn giáo Việt Nam mang tính thế tục gắn liền với chế độ chính trị trong quá trình
phát triển vì vậy ngay sau 1945 vấn đề chính sách tôn giáo đã được HỒ Chí Minh
và Chính phủ Việt Nam mới đặt ra với những nội dung chủ yếu sau:
2/ Những vấn đề cụ thể của chính sách tôn giáo Việt Nam:
+ Tôn giáo Việt Nam từ trước đến nay không có xung đột lớn
+ Xác định tôn giáo Việt Nam gắn liền với yếu tố đạo đức như khuyên dạy con
người sống yêu thương hướng tới cái Chân , thiện, Mỹ
3/ Những vấn đề của chính sách tôn giáo Việt Nam:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và tín ngưỡng tôn giáo: Lúc sinh thời người cho rằng vấn
đề hoà hợp tôn giáo là tôn trọng và bảo đãm quyền tự do tín ngưỡng là vấn đề
được đặt ra hàng đầu vì đó là nền tảng của đoàn kết toàn dân ngày 03/09/1945
- Ý thức người dân, thể hiện do chúng ta quá quen thuộc phong tục thờ cúng tổ tiên
do đó để thực hiện mọi tôn giáo đều bình đẳng ngang nhau là rất khó.
Kết luận: Trong mấy thập kỷ trở lại đây vấn đề tôn giáo đang có những diễn biến
phức tạp, nhiều tôn giáo mới xuất hiện, quá trình toàn cầu hoá có tác động do sự
lan toả, một số tôn giáo đến nước ta đảng và nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo trên nền tảng xác định tôn giáo là 1 loại hình ý thức XH, vì
vậy các CSTG được thể hiện qua các văn bản Nghị quyết đều xác lập quyền tự do
tôn giáo thông qua tín đồ đồng thời hướng niềm tin tôn giáo của họ gắn với vấn đề
dân tộc, đất nước.
BÀI 4 BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO
I/ TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO
- Bắt đầu từ quan niệm các nhà XHH chủ nghĩa Mác, Người ta xem tôn giáo biến
đổi do nguồn gốc phát sinh (XH – Tâm lý – nhận thức)
- Quan niệm của Thần học: bắt đầu từ nguồn gốc tôn giáo giải quyết các yếu tố
tâm linh của con người do đó tôn giáo chỉ biến đổi không biến mất.
=> Tôn giáo luôn biến đổi
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội nó đã hình thành và phát triển cùng xã hội loài
người trong lịch sử phát triển của mình Tôn giáo tồn tại ở nhiều hình thức khác
nhau như tôn giáo đa thần, tôn giáo nhất thần, từ nhất thần khu vực đến nhất thần
thế giới, tôn giáo luôn tìm chổ đứng và sự phát triển
- Ngày nay trong XH hiện đại tôn giáo không mất đi mà biến đổi và hình thành
nhiền dạng thức khác nhau, nó gắn bó chặt chẽ với văn hoá , đạo đức và với phong
tục tập quán của các dân tộc, cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới. Vì vậy biến đổi
tôn giáo được hiểu không phải là sự cáo chung của tôn giáo mà là sự thay thế
những hình thức thờ tụng, lối sống và niềm tin tôn giáo.
II/ NHỮNG HÌNH THỨC BIẾN ĐỔI TÔN GIÁO
1/ Xu hướng toàn cầu hoá:
Đây là một xu hướng mang tính qui luật, mọi tôn giáo đều có ước mơ lan toả đến
tất cả các khu vực trên thế giới, đồng thời các hình thức, các giáo phái nó nảy sinh
ở khắp các quốc gia trên thế giới, xu hướng toàn cầu hoá còn phụ thuộc vào yếu tố
tôn giáo đều muốn gắn kết với 1 dân tộc thường là dân tộc chủ yếu, thường cố tạo
ra những nét văn hoá riêng, những ngôn ngữ, chữ viết.
Kết luận: Dân tộc hoá là quá trình thường xuyên được thể hiện theo qui luật và
thông thường quá trình này thường gắn bó chặt chẽ với tôn giáo hay nói cách khác
quá trình này thừa hưỡng của tôn giáo, thường lợi dụng nhằm mục đích truyền tãi
giáo lý và tư tưởng chủ đạo của tôn giáo này trong dân chúng.
5/ Phong trào dân chủ:
Là 1 trong những biểu hiện quan trọng của biến đổi tôn giáo nó nảy sinh ngay từ
thời cổ đại và trong mỗi quốc gia khi yếu tố dân chủ được hình thành thì vai trò của
tôn giáo thường mờ nhạt.
6/ Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Là yếu tố quan trọng làm cho tôn giáo thay đổi, đặt biệt ở khía cạnh nghi lễ, các tôn
giáo thưởng sử dụng triệt để những yếu tố khoa học để giải thích cho giáo lý(Vd:
đạo Kito xuất hiện phong trào khoa học hoá kinh thánh, đòi hỏi tất cả các tính điều
trong kinh thánh phải minh chứng).