Mục lục
Mục lục……………………………………………………………………1
A-Lời mở đầu….………………………………………………………….2
B-Nội dung……..........................................................................................4
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu hàng dệt may…………………….4
1.Tổng quan về xuất khẩu………………………………………………....4
2. Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam…………………………………….5
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường Nhật
Bản của Việt Nam…………………………………………………………10
1.Tình hình nhập khẩu dệt may của Nhật Bản…………………………….10
2.Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản của Việt Nam qua các
năm………………………………………………………………………...16
3.Kết luận tình hình xuất khẩu hàng dệt may nước ta sang thị trường Nhật
Bản………………………………………………………………………....26
Chương III: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Nhật Bản……………………………………………………………30
1.Triển vọng hàng dệt may nước ta xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản….30
2.Định hướng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Nhật Bản…………..36
3.Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may sang thị trường Nhật Bản………37
C-Kết Luận…………………………………………………………………47
Tài liệu tham khảo………………………………………………………….48
11
A-Lời mở đầu
Từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới ,chuyển từ kinh tế tập trung bao
cấp sang kinh tế thị trường, nhu cầu phát triển kinh tế và mở rộng các mối
quan hệ kinh tế thương mại với các quốc gia khác trên thế giới ngày càng
bức thiết. Xuất khẩu đã trở thành một trong ba chương trình chiến lược quốc
gia nhằm nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta hiện nay như dầu mỏ,
giày dép, thủy sản,gạo, cà phê, sản phẩm gỗ… dệt may luôn nằm trong số
10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước. Ngành dệt may mỗi
1.Tổng quan về xuất khẩu
1.1.Khái niệm
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các
nước thông qua hoạt động mua bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận.
Hoạt động trao đổi, mua bán này thường vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Sự
trao đổi hàng hóa, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế, xã
hội, nó phản ánh sự phụ thuộc lấn nhau giữa những người sản xuất hàng hóa
riêng biệt ở các quốc gia khác nhau. Xuất khẩu là một trong những nội dung
cơ bản của hoạt động ngoại thương hay thương mại quốc tế ở góc độ quốc
gia.
Xuất phát từ khái niệm chung về thương mại quốc tế, ta có thể hiểu xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ là quá trình đưa các hàng hóa, dịch vụ từ quốc gia
này sang quốc gia khác nhằm mục đích thu lợi. Nếu xét ở góc độ kinh tế,
mục đích của việc xuất khẩu là thu lợi ích kinh tế, cụ thể là lợi nhuận. Nếu
xét ở góc độ xã hội, mục đích của xuất khẩu là nhằm thu được các lợi ích xã
hội như an sinh, việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống …
1.2.Vai trò của xuất khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát
triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Vai trò của xuất khẩu được thể hiện rõ ở các mặt sau:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa và hiện đại hóa.
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
44
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản
xuất phát triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
trên thế giới như Hoa Kỳ ,liên minh Châu Âu (EU) , Trung Quốc ,Nhật Bản
do thị trường được mở rộng và không bị phân biệt đối xử.
Ngành dệt may nước ta có một số lượng lớn các doanh nghiệp với trên
50 doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, gần 2000 doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn và gần 500 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng trên 2,2 triệu lao động. Các doanh nghiệp có
quy mô lớn nhất trong ngành dệt may Việt nam lần lượt là Công ty Hưng
Ngiệp FORMOSA, công ty sợi TAIWAN, Tổng công ty Việt Tiến, Tổng
công ty Phong Phú, Tập đoàn Dệt May Vinatex, công ty may Nhà Bè…
Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may nước ta ngày càng được cải
thiện. Chất lượng hàng dệt may Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhiều
thương hiệu Việt Nam đã có thể vươn ra thị trường quốc tế, chinh phục được
nhiều thị trường khó tính yêu cầu cao cả về kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng
sản phẩm như Mỹ, EU, Nhật Bản. Đây là ba thị trường xuất khẩu hàng dệt
may lớn nhất của Việt Nam.
Ở Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng
phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với những
ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng
66
thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may
để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của
đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động.
Các sản phẩm của ngành may mặc nước ta khá đa dạng, phong phú. Sản
phẩm của ngành may mặc không chỉ được biết đến đơn thuần là các sản
phẩm quần áo, mà còn bao gồm những sản phẩm dùng trong các ngành và
sinh hoạt như: lều, buồm, chăn, màn, rèm…Với ngành may mặc Việt Nam,
sản phẩm của ngành cũng rất đa dạng nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Những sản phẩm may mặc phổ biến thường được xuất khẩu sang các thị
trường chính của Việt Nam, như Mỹ, EU, Nhật Bản, là quần dài, quần short,
áo jacket, áo sơ mi, áo bông, áo thun…
chú ý hơn. Tuy nhiên, ở phân khúc thị trường hàng may mặc giá rẻ thì hàng
Việt Nam vẫn chưa thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc.
Một điểm yếu cực kỳ quan trọng là ngành may mặc của Việt Nam vẫn
bị phụ thuộc khá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài, với trị giá
nguyên phụ liệu nhập khẩu thường chiếm gần 60 – 80% giá trị nguyên phụ
liệu cần thiết để sản xuất. Tuy đã được chú trọng đầu tư về công nghệ, dây
chuyền sản xuất hiện đại hơn nhưng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặc
không đủ cho nhu cầu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, hoặc không đáp
ứng được tiêu chuẩn của khách hàng nước ngoài. Nhiều đơn đặt hàng, phía
nước ngoài cũng chỉ định luôn nhà cung cấp nguyên vật liệu khiến cho các
doanh nghiệp may Việt Nam không có điều kiện sử dụng những nguyên
liệu sản xuất trong nước với giá thành rẻ hơn.
88
Trình độ công nghệ và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp may
Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp hơn 30 – 50% so với mặt bằng chung của
khu vực. Với trình độ như vây, khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt
Nam bị giảm đi phần nào.
Bảng 1: Hiện trạng năng lực sản xuất doanh nghiệp dệt may (2005)
Sản phẩm Số doanh nghiệp Năng lực sản xuất hàng năm
Các loại sợi 102 260 ngàn tấn
Dệt 135 680 triệu mét vuông
Sản phẩm dệt kim 56 300 ngàn tấn
Vải 1050 2000 triệu đơn vị sản phẩm
Nguồn: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số doanh nghiệp cũng đã chủ động đầu
tư cải tiến về công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết
kiệm chi phí, từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Ngành dệt may trong nước là phụ thuộc quá nhiều vào một vài thị trường
như Mỹ (chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu), EU (17%), Nhật (8%)...
(theo số liệu năm 2008 của Hiệp hội dệt may Việt Nam). Do vậy, ngành dệt
áp dụng chế độ ưu đãi theo Hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) thì mức thuế
thấp theo điều kiện phân bổ trước hoặc miễn thuế.
1010
Trong Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), các mức thuế ưu đãi
với hàng may mặc được quản lý như sau: Các mức thuế trần ưu đãi được xác
định cho mỗi năm tài chính và các mức thuế ưu đãi được phân bổ trước
thông qua việc nộp đơn xin. Người nhập khẩu xin được phân bổ thuế ưu đãi
trần bằng cách nộp đơn xin liên hệ phòng thuế quan, Vụ kinh tế quốc tế, Bộ
công thương hoặc văn phòng Thương mại quốc tế và công nghiệp khu vực.
Người nhập khẩu sẽ nộp giấy chứng nhận phân bổ cùng với giấy chứng nhận
ưu đãi do cơ quan chính thức của nước xuất xứ cấp, cho hải quan tại cảng
đến (thông tin chi tiết có thể liên hệ văn phòng thương mại quốc tế và công
nghiệp khu vực hoặc Hiệp hội nhập khẩu hàng dệt Nhật Bản).
1.1.2.Hàng rào phi thuế quan
Về hạn ngạch, một số mặt hàng có hạn ngạch tối đa cho từng nước xác
định vào đầu mỗi năm tài chính và phải qua kiểm tra hàng ngày, theo đó
nhập khẩu được tính toán hàng ngày và mức thuế tối huệ quốc (MFN) được
áp dụng 2 ngày sau khi mức hạn ngạch tối đa nói trên bị vượt quá.
Thứ hai là các quy định về luật liên quan đến nhập khẩu, nhìn chung,
hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản không phải theo một quy định nào,
hay nói cách khác là được nhập tự do vào Nhật. Hàng dệt may có sử dụng
một phần da hay phụ kiện da phải tuân thủ theo công ước Washington.
Về nhãn hiệu hàng hoá, Luật hàng hoá đạt chất lượng tốt yêu cầu hàng
dệt may phải có nhãn hiệu với các thông tin sau:
- Loại sợi dệt, tỉ lệ sợi pha
- Cách giặt và sử dụng
- Loại da được sử dụng
- Nhãn phải ghi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại có thể liên hệ.
1111
Tuy vậy, doanh nghiệp xuất khẩu dệt may vào Nhất cần quan tâm tới
khẩu từ nước ngoài luôn đi qua hệ thống phân phối bắt đầu từ các công ty
thương mại tổng hợp hoặc công ty chuyên ngành, sau đó đến các nhà bán
buôn, những người bán lẻ, cuối cùng là người tiêu dùng. Hoặc, khâu nhập
khẩu sẽ do chi nhánh các công ty thương mại tại nước xuất xứ tiến hành, sau
đó hàng sẽ được chuyển qua công ty mẹ tại Nhật hoặc giao cho các hãng
may hoặc cửa hàng bán lẻ.
Ngày nay, một hình thức phân phối mới ngày càng phổ biến là các khâu
nhập khẩu sẽ do chi nhánh các công ty thương mại tại nước xuất xứ tiến
hành, sau đó hàng sẽ được chuyển qua công ty mẹ tại Nhật hoặc giao cho
các hãng may hoặc cửa hàng bán lẻ.
1.2.Chủng loại hàng may mặc nhập khẩu vào Nhật Bản chia làm 4 nhóm:
-Hàng thời trang cao cấp: loại hàng này mang tính thời trang từ màu sắc,
mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng và thường được nhập từ châu Âu và Mỹ
-Hàng từ nguyên liệu thô: ít có ở Nhật, ví dụ hàng Casomia, angora,
mohair
-Sản phẩm dùng nhiều sức lao động: những sản phẩm làm bằng tay được
sản xuất ở các nước có mức tiền lương thấp
-Sản phẩm thủ công truyền thống
1313
Từ năm 1997 do thuế tiêu thụ tăng, đồng yên mất giá nên mức tiêu dùng
bị giảm, rõ nhất là hàng may mặc của nam giới và trẻ em. Trước tình hình
đó, các nhà kinh doanh hàng dệt may Nhật bản đã nhanh chóng thay đổi cơ
cấu kinh doanh, thu hẹp qui mô sản xuất, đặc biệt tập trung nghiên cứu các
sản phẩm mang tính thời trang, vòng đời ngắn. Hiện nay, hình thức kinh
doanh theo kiểu người sản xuất đảm nhận luôn khâu bán hàng đã trở nên
thông dụng ở Nhật.
1.3.Xu hướng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản
Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và nhập khẩu dệt
may hàng đầu, Nhật Bản có sức ảnh hưởng lớn đến nhu cầu hàng hoá và
dịch vụ của thế giới. Cụ thể hơn, Nhật như là một nhà tiêu thụ quần áo chủ
ngày càng yêu thích chất liệu bông. Trong vòng 1 thập kỷ qua, thị phần của
quần áo có chất liệu bông đã tăng từ 40-48%. Điều này cũng giống như xu
hướng tại Mỹ.
Về hàng dệt thoi, thị phần của quần áo làm từ bông tăng ổn định từ 40%
của năm 1996 lên 45% năm 2007, chủ yếu là sự tăng mạnh ở các loại quần
như quần jean, và trang phục dành cho phụ nữ và các em bé gái. Về hàng dệt
kim, thị phần quần áo làm từ bông tăng từ 37% năm 1998 lên 50% năm
2007, chủ yếu tăng ở nhóm quần áo ngủ (tăng 234% trong 10 năm
qua).Trong cuộc điều tra về xu hướng tiêu dùng người Nhật được thực hiện
bởi công ty Cotton Incorporated’s Global Lifestyle Monitor™, khi được hỏi
về loại xơ nào mà họ muốn dùng làm chất liệu trong trang phục hiện nay,
51% chọn bông, tăng 5,6% so với năm 1999.
1515
Từ đầu những năm 1990, người tiêu dùng Nhật Bản cũng như người Mỹ
đều thích sự thoải mái, co giãn tốt của hàng dệt kim hơn là dệt thoi. Thị phần
của hàng dệt kim trên thị trường quần áo chất liệu bông nhập khẩu tăng từ
48% (1990) lên 55% (2007). Tại Mỹ, thị phần của dệt kim cũng theo xu
hướng trên, tăng từ 37% lên 50%. Mặc dù cả quần áo dệt kim lẫn dệt thoi
nhập khẩu vào Nhật đều tăng trong giai đoạn này nhưng nhu cầu hàng dệt
kim tăng rõ ràng hơn cả. Tại cả thị trường Nhật lẫn Mỹ, sự phát triển mạnh
của chất liệu bông trong quần áo dệt kim được thể hiện trong doanh số bán
lẻ và khối lượng nhập khẩu.
1.4.Thị phần nhập khẩu và xuất xứ hàng dệt may ở thị trường Nhật
Từ năm 1987 trở lại đây, hàng nhập khẩu luôn chiếm tới 60% tính về giá
trị và trên 60% tính về số lượng trên thị trường Nhật. Trung quốc đứng đầu
danh sách xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật bản, chiếm 60-80%. Hiện nay,
nhập khẩu từ Hàn quốc, Đài loan, Hongkong giảm dần trong khi nhập khẩu
từ Việt nam, Thái lan, Indonexia, và các nước ASEAN khác ngày một gia
tăng. Thị trường nhập khẩu sản phẩm dệt may của Nhật Bản rất lớn. Trung
bình mỗi năm, Nhật nhập khẩu hàng dệt may nhiều nhất là Trung Quốc với
với tiềm năng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.Dựa vào các số liệu ở bảng
2 ta thấy: từ năm 1998 tới năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt
Nam sang Nhật Bản đã tăng gấp 2,5 lần từ 321 triệu USD lên 820 triệu
USD; trong khi đó thì hàng dệt may nước ta trên thị trường Mỹ từ 21 triệu
USD tới 5,1 tỷ USD còn thị trường EU từ 521 triệu USD lên 1,7 tỷ
USD.Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu dệt may bình quân nước ta trong giai
đoạn này sang thị trường Nhật là 570 triệu USD, sang EU là 865 triệu USD
1717
và Mỹ là 1,895 tỷ USD (gấp 3,5 lần kim ngạch xuất khẩu dệt may bình quan
sang thị trường Nhật). Do đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật
của nước ta còn thấp hơn rất nhiều so với Mỹ, EU ,mặc dù thị trường Nhật là
thị trường xuất khẩu dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam. Điều này vẫn chưa
tương xứng với quan hệ linh tế thương mại Việt Nam-Nhật Bản từ khi 2
nước thiết lập quan hệ song phương tới nay.
Bảng 2: Bảng thể hiện tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam sang
thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản (đơn vị: triệu USD)
Năm
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
KN XK dệt may
sang Nhật
321 417 620 588 521 514 531 604 636 700 820
KNXK dệt may
sang Mỹ
26 34 50 45 951 1973 2474 2603 3186 4400 5100
KNXK dệt may
sang EU
521 555 609 599 579 580 762 882 1225 1500 1700
KN XK dệt may
cả nước
1351 1747 1892 1962 2752 3654 4368 4838 5927 7780 9130