Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực ngày càng tăng lên một cách mạnh
mẽ của cạnh tranh, của một nền kinh tế dư thừa hàng hoá thì bán hàng giống như:
“Một bước nhảy nguy hiểm chết người” sẽ trở nên phức tạp hơn với độ rủi ro cao
hơn. Để tiêu thụ được hàng hóa trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng bán các
sản phẩm tương tự đòi hỏi doanh nghiệp phải kinh doanh những sản phẩm phù hợp
với nhu cầu của khách hàng, chất lượng tốt, và giá cả cạnh tranh.
Lợi nhuận luôn được coi là một đối tượng được tìm kiếm, là mục tiêu trước
mắt, lâu dài và thường xuyên của kinh doanh thương mại cũng như các hoạt động
kinh doanh khác. Lợi nhuận là khoản dôi ra khi so sánh giữa doanh thu và chi phí
kinh doanh. Muốn có lợi nhuận thì doanh nghiệp phải bán được hàng, phải có thị
trường, có khách hàng và đặc biệt là phải giảm được các khoản chi phí kinh doanh
không cần thiết đến mức tối thiểu. Để tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại,
doanh nghiệp cần phải chi phí kinh doanh: Có chi mới có thu. Chi phí kinh doanh trở
thành một bộ phận quan trọng và không thể thiếu được của mọi quá trình kinh doanh,
đó là các khoản chi phí bắt đầu từ việc tạo nguồn mua hàng, đến chi phí lưu thông,
chi cho nộp thuế và bảo hiểm
Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu về Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Hàng không, em thấy chi phí kinh doanh chiếm một tỷ trọng rất lớn so với doanh số
bán ra của Công ty, điều này làm cho lợi nhuận của Công ty giảm xuống một cách rõ
rệt. Vì vậy em quyết định chọn đề tài: “Giảm chi phí kinh doanh của Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Hàng không”. Thông qua đề tài này, em muốn đi sâu tìm hiểu
nguyên nhân tại sao chi phí kinh doanh của Công ty cao đến vậy và tìm ra các biện
pháp để cắt giảm chi phí đến mức thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được kết
cấu thành 3 chương:
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
Chương I:Những cơ sở về giảm chi phí kinh doanh của Công ty cổ phần xuất
với doanh nghiệp thương mại, kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh gắn liền
với chi phí kinh doanh và quản trị chi phí kinh doanh. Khi chi phí biên lớn hơn doanh
thu thì doanh nghiệp thương mại không những không có lợi nhuận mà còn bị lỗ vốn
nữa. Do vậy, chi phí kinh doanh luôn là sự quam tâm của cả doanh nghiệp và giảm
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
chi phí kinh doanh là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của quản trị kinh doanh
của doanh nghiệp thương mại.
1.1.1.2 Phân loại chi phí kinh doanh
Có rất nhiều cách để phân loại chi phí kinh doanh khác nhau và theo mỗi tiêu
chí ta lại có những loại chi phí kinh doanh riêng.
i) Theo sự phụ thuộc vào tổng mức lưu chuyển có:
- Chi phí kinh doanh cố định (gọi tắt là định phí) là các khoản chi phí không biến
đổi hoặc ít biến đổi khi tổng mức lưu chuyển của doanh nghiệp thương mại tăng
lên hay giảm xuống. Đó là các khoản như: Chi phí tiền lương cho giám đốc đã
thuê trong hợp đồng, chi phí khấu hao nhà kho, cửa hàng, tiền trả lãi vay, chi phí
quản lí.
- Chi phí kinh doanh biến đổi (gọi là biến phí) là các khoản chi phí kinh doanh tăng
lên hay giảm xuống khi tổng mức lưu chuyển tăng lên hay giảm xuống. Chi phí
kinh doanh biến đổi tỷ lệ thuận với khối lượng vật tư hàng hoá mua vào bán ra,
giá cả vật tư hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Chi phí này bao gồm: Chi phí
mua hàng; chi phí vận tải, bốc dỡ hàng hoá; chi phí bảo quản; chi phí bán hàng…
ii) Theo mức chi phí và tiến trình thực hiện chi phí
- Chi phí bình quân: là số tiền chi phí tính cho một đơn vị hàng hóa bán ra trung
bình
- Chi phí biên: là mức tăng tổng chi phí khi khối lượng hàng hoá hoặc dịch vụ bán
ra tăng thêm một đơn vị
iii) Theo chi phí kế toán và chi phí kinh tế
- Chi phí kế toán: là cho phí được ghi chép những khoản chi phí bằng tiền theo thời
gian lúc chi phí và các khoản chi phí tính toán bằng tiền. Chi phí kế toán bao gồm
các quyết định cần thiết. Do cách tổ chức thông tin kinh tế như vậy mà ở các xí
nghiệp hoạt động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp chỉ tồn tại công tác kế
toán tài chính với đặc trưng cơ bản là do Nhà nước quy định theo một cách thống
nhất và mang tính bắt buộc với mọi xí nghiệp. Vì vậy vấn đề chi phí chưa được coi
trọng một cách đúng mức.
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
Trong cơ chế kinh tế mới: Cơ chế của nền kinh tế thị trường, khi sự cạnh
tranh ngày càng trở nên khốc liệt quyết định đến sự sống còn của mỗi doanh nghiệp
thì nhu cầu thông tin là cơ sở để các nhà quản trị ra các quyết đinh kinh tế. Khi đó,
nhu cầu thông tin bên ngoài vẫn rất cần thiết.
Trước hết nó phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước - tức là thông
tin cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước. Các thông tin này phải đảm bảo tính
thống nhất, do vậy nó phải được quy định thống nhất phù hợp với các yêu cầu quản lí
vĩ mô và đảm bảo tính “kiểm tra” được của các cơ quan kiểm tra, đặc biệt là kiểm tra
việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Bên cạnh đó, còn nhiều đơn vị, cá nhân khác cũng
cần và có quyền đòi hỏi doanh nghiệp phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho họ để
họ biết được, kiểm tra được thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó
có các quyết định cần thiết liên quan đến lợi ích kinh tế của họ trong mối quan hệ với
doanh nghiệp. Đối tượng nằm trong số này trước hết phải kể đến những người chủ sở
hữu doanh nghiệp, những người chủ nợ, khách hàng, công đoàn doanh nghiệp với tư
cách là người đại diện cho lợi ích của công nhân, viên chức,….cũng có yêu cầu và có
quyền được pháp luật bảo đảm về việc doanh nghiệp phải cung cấp cho họ các thông
tin cần thiết đã nói ở trên. Đây là điều kiện để đảm bảo kinh doanh phải đúng pháp
luật và quyền lợi kinh tế của mọi đối tượng kinh doanh, phải được đảm bảo bằng
pháp luật.
Mặt khác, khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới, mỗi doanh nghiệp dù là doanh
nghiệp Nhà nước hay ngoài quốc doanh đều là đơn vị kinh tế độc lập, mọi doanh
nghiệp đều phải tự quyết định kế hoạch kinh tế của mình trên cơ sở nắm bắt nhu cầu
thị trường và hiểu thật rõ năng lực của bản thân doanh nghiệp. Thực chất của hoạt
lực cho xã hội, cho đất nước. Bởi nguồn lực về vốn, con người và công nghệ không
phải là vô hạn ma có giới hạn.
Giảm chi phí kinh doanh còn thể hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia
trong việc sử dụng và quản lý nguồn lực để tạo ra của cải vật chất cho quốc gia đó.
Muốn làm được điều này thì bộ máy quản trị doanh nghiệp cần có các thông tin kinh
tế bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Chất lượng của các quyết định quản trị
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào số lượng và chất lượng của các thông tin kinh tế
mà bộ máy quản trị có trong tay.
Thông tin kinh tế bao gồm thông tin bên ngoài doanh nghiệp và thông tin bên
trong doanh nghiệp. Thông tin bên ngoài hay còn gọi là thông tin về môi trường kinh
doanh như môi trường chính trị, pháp luật, môi trường kỹ thuật công nghệ, điều kiện
tự nhiên, cơ sở hạ tầng… Các thông tin này có được từ việc thu thập các thông tin
công bố và thông qua công tác nghiên cứu thị trường. Thông tin bên trong là các
thông tin nội bộ doanh nghiệp như mặt hàng kinh doanh, hoạt động Marketing, yếu tố
về tài chính, thương hiệu …Đây là những yếu tố doanh nghiệp có thể kiểm soát
được.Các thông tin bên trong hoàn toàn do doanh nghiệp tự tổ chức thu thập, xử lý,
lưu trữ cũng như đưa vào sử dụng.Quản trị chi phí kinh doanh là công cụ chủ yếu
cung cấp các thông tin kinh tế bên trong cho bộ máy quản trị doanh nghiệp, làm cơ sở
cho việc ra các quyết định và là một công cụ không thể thiếu được của quản trị kinh
doanh. Do vậy quản trị chi phí kinh doanh được tổ chức nhằm thoả mãn các nhu cầu
thông tin bên trong doanh nghiệp nên nó không mang tính bắt buộc. Nhờ có quản trị
chi phí kinh doanh mà toàn bộ các giá trị hao phí được tập hợp và hạch toán không
phụ thuộc vào việc chúng có gắn liền với các dòng vận động tiền tệ hay không và
cũng không phụ thuộc vào việc liệu có dẫn đến giá trị chi phí tài chính tương đương
hay không? Nhờ đó các thông tin chi phí kinh doanh khác nhau được tập hợp,chế
biến, lưu trữ và tiếp tục đưa vào sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Quản trị chi phí kinh doanh để kế hoạch hoá, để điều khiển có kết quả và hiệu
quả các quá trình kinh tế diễn ra, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải luôn tìm cách để
Đối với doanh nghiệp thương mại việc tạo nguồn và mua hàng là khâu đầu
tiên của quá trình kinh doanh. Mục đích của tạo nguồn và mua hàng là để có được
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
nguồn hàng chắc chắn, ổn định, phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Nội dung của
chi phí tạo nguồn và mua hàng bao gồm những điểm chính sau đây.
1.2.1.1 Chi phí nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng
Nhu cầu của con người vô cùng đa dạng và phong phú, nhiệm vụ của nhà
quản trị doanh nghiệp thương mại là phải phát hiện ra nhu cầu có khả năng thanh
toán được và đáp ứng nhu cầu đó. Nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng về
quy cách, cỡ loại, số lượng, trọng lượng, màu sắc, thời gian, địa điểm bán hàng, giá
cả hàng hoá, dịch vụ là vấn đề đầu tiên và hết sức quan trọng với doanh nghiệp
thương mại. Bộ phận tạo nguồn và mua hàng ở doanh nghiệp phải nắm được loại
hàng hoá của mình thoả mãn nhu cầu khách hàng nào, khối lượng, chất lượng mà
khách hàng cần, thời gian, địa điểm cần. Điều cũng quan trọng không kém khi doanh
nghiệp thương mại nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng đó là tính tiên tiến
của mặt hàng doanh nghiệp cung cấp và xu hướng của khách hàng đối với mặt hàng
mà doanh nghiệp thương mại đang kinh doanh. Các mặt hàng tiên tiến hơn, hiện đại
hơn và cả hàng thay thế cũng như sự đáp ứng nhu cầu trên thị trường của các đối thủ
cạnh tranh… chỉ nắm chắc được các thông tin trên thì việc tạo nguồn và mua hàng
mới tránh được sai lầm, khắc phục được hiện tượng lạc hậu về công nghệ và kiểu
dáng, hàng bị ứ đọng, chậm tiêu thụ, giá cao không bán được, không đáp ứng đúng
thời gian, đúng địa điểm…
Trong giai đoạn này, việc thu thập thông tin từ khách hàng, từ thị trường là
công cụ để giúp các nhà quản trị doang nghiệp ra quyết định kinh doanh, chi phí
cho việc điều tra nghiên cứu khách hàng, mặt hàng, chi phí cho việc thu thập, xử
lý dữ liệu, chi phí nhân lực, quản lý là rất lớn.
1.2.1.2 Chi phí để nghiên cứu thị trường nguồn hàng
Nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại là do các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các trang trại, hộ gia đình, hợp tác xã… sản xuất
hợp với yêu cầu và điều kiện của doanh nghiệp thương mại thì doanh nghiệp sẽ thiết
lập mối quan hệ kinh tế, thương mại với đối tác để hai bên hợp tác giúp đỡ lẫn nhau
thoả mãn yêu cầu của mỗi bên. Yêu cầu của bên mua là khối lượng, cơ cấu hàng
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
mua, chất lượng, quy cách, cỡ loại, mẫu mã, màu sắc, bao bì, đóng gói, địa điểm
giao hàng, phương thức thanh toán. Yêu cầu của bên bán về phương thức thanh toán,
phương thức giao nhận, kiểm tra hàng hoá. Hai bên mua bán cần có sự thương thảo
và ký kết được với nhau bằng vác hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp đồng kinh tế
mua bán hàng hóa chính là cam kết của hai bên về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trong mối quan hệ trao đổi hàng hoá. Để tạo sự tin tưởng lẫn nhau trong mua bán
hàng hoá, hai bên có thể cho phép kiểm tra ngay từ khi hàng hoá được sản xuất ra.
Bên mua có thể cử người đếm nơi sản xuất xem xét quy trình công nghệ, chất lượng
hàng hoá, quy cách đóng gói hoặc có thể thông qua các cơ quan kiểm tra chất lượng
hàng hoá. Việc thực hiện nghiêm túc hợp đồng mua bán hàng hoá đã ký kết là điều
kiện quan trọng nhất đảm bảo sự đầy đủ, kịp thời và ổn định cho nguồn hàng.
1.2.2 Chi phí lưu thông của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng
không
Các Mác nói: “Hàng hoá không thể tự mình đi tới thị trường được, cũng
không thể tự mình trao đổi với nhau được”. Doanh nghiệp thương mại sau khi đã có
hàng hoá phù hợp với nhu cầu của khách hàng thì vấn đề đặt ra là làm thế nào để
hàng hoá đến được tận tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng, và thuận tiện
nhất. Thông thường, các đơn vị sản xuất ra hàng hoá vất chất nằm xa khu dân cư,
khu vực tiêu dùng cho nên hàng hoá cần phải có một quá trình vận động thì mới đến
được với người sử dụng. Tất cả những khoản chi phí để hàng hoá vận chuyển đến
người tiêu dùng được gọi là chi phí lưu thông. Từ đó ta có khái niệm chi phí lưu
thông như sau: “Chi phí lưu thông là chi phí lao động xã hội cần thiết thể hiện bằng
tiền trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá từ nơi mua hàng (nguồn hàng) đến nơi bán
hàng”. Về bản chất chi phí lưu thông là giá của việc lưu thông hàng hoá từ nơi mà
hàng hoá có khả năng sử dụng đến nơi mà nó có thể thực hiện được giá trị sử dụng.
Chi phí lưu thông khả biến là những khoản chi phí phụ thuộc chắt chẽ vào sự
thay đổi của tổng mức lưu chuyển hàng hoá. Khi tổng mức lưu chuyển hàng hoá tăng
lên hay giảm xuống thì các khoản chi phí này cũng tăng lên hay giảm xuống. Đó là
các khoản chi phí thu mua, chi phí vận tải, bốc dỡ, bảo quản hàng hoá .
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
Chi phí lưu thông bất biến là những khoản chi phí không thay đổi hoặc ít có
liên quan đến sự thay đổi của tổng mức lưu chuyển hàng hoá. Chi phí này gồm có chi
phí quản lý hàng chính, khấu hao tài sản cố định.
Theo các khâu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, người
ta còn phân chia chi phí lưu thông theo các khâu của hoạt động kinh doanh và quản lí
kinh doanh. Ngay trong một doanh nghiệp cũng chia ra thành: cấp doanh nghiệp, cấp
kho, trạm, cửa hàng, quầy hàng, các đại lý…
Chi phí lưu thông bao gồm rất nhiều các doanh mục khác nhau. Các khoản
mục trong bảng danh mục chi phí lưu thông được xây dựng theo nguyên tắc hướng
phí, theo cách xây dựng này chi phí lưu thông được chia thành 4 khoản mục lớn:
Khoản mục chi phí vận tải, bốc dỡ hàng hoá.
Khoản mục chi phí bảo quản, thu mua, tiêu thụ.
Khoản mục chi phí hao hụt hàng hoá.
Khoản mục chi phí quản lí hành chính.
*) Chi phí vận tải, bốc dỡ hàng hoá là toàn bộ các khoản chi phí về vận
chuyển, bốc dỡ hàng hoá trong quá trình mua bán, xuất nhập hàng hóa. Chi phí vận
tải, bốc dỡ hàng hoá bao gồm: tiền cước phí vận chuyển, tiền bốc dỡ khuân vác, tạp
phí vận chuyển.
*) Chi phí bảo quản, thu mua tiêu thụ hàng hoá là những khoản chi phí phục
vụ cho quá trình bảo quản, thu mua, tiêu thụ hàng hoá bao gồm tiền lương trực tiếp
kinh doanh, chi phí giữ gìn chất lượng và số lượng hàng hoá dự trữ trong kho, chi phí
trả tiền lãi vay ngân hàng, chi phí nhiên liệu điện lực, chi phí về vệ sinh kho tàng và
cửa hàng.
*) Chi phí hao hụt hàng hoá gồm có: hao hụt trong định mức và hao hụt ngoài
Khi rủi ro gây ra tổn thất, con người sẽ phải ngăn chặn, khắc phục hậu quả, từ
đó phát sinh các chi phí gọi là chi phí rủi ro. Chi phí rủi ro là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ chi phí trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro và bồi thường tổn thất đã gây
ra.
Có rất nhiều cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, một trong những cách
thường được các nhà quản trị ưa thích sử dụng và cũng rất phù hợp với xu thế phát
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
triển của xã hội ngày nay đó là tham gia bảo hiểm cho hàng hoá , tài sản trong hoạt
động kinh doanh. Bảo hiểm ra đời do sự tồn tại khách quan của rủi ro, là để bù đắp
về tài chính nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro chứ không phải là ngăn chặn rủi ro.
Bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về
những mất mát hư hỏng của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã thoả thuận gây
ra, khi người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng đó và đã nộp lệ phí bảo
hiểm. Thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một người hay một số
người cho tất cả mọi người tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu. Nhờ dịch vụ bảo hiểm
mà các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá khắc phục được các tổn thất do rủi ro gây
ra, còn người kinh doanh bảo hiểm thu được lợi nhuận.
Mỗi điều kiện bảo hiểm có một mức lệ phí bảo hiểm khác nhau. Mỗi hàng
hoá, tài sản chỉ thích hợp với một hoặc một vài điều kiện bảo hiểm, vì vậy cần phải
lựa chọn điều kiện bảo hiểm cho phù hợp. Bởi chi phí mua bảo hiểm là khoản chi phí
làm tăng chi phí kinh doanh, nếu chi cho bảo hiểm quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới lợi
nhuận của doanh nghiệp thương mại.
1.2.3.2 Chi chi nộp thuế
Chi nộp thuế: thuế là khoản đóng góp theo quy định của pháp luật mà Nhà
nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp cho ngân sách nhà nước,
kinh doanh thì phải nộp thuế. Doanh nghiệp thương mại tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh
và mặt hàng kinh doanh mà phải nộp các khoản thuế khác nhau cho ngân sách nhà
nước. Số thuế mà doanh nghiệp phải nộp phụ thuộc vào doanh thu chịu thuế và tỷ
suất do các luật thuế quy định.
yêu cầu. Mặt khác mọi sự thay đổi đều không thể liên hệ trực tiếp với bên ngoài mà
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
phải thông qua MACHINO-IMPORT,điều này gây ra nhiều bất lợi cản trở cho tiến
trình hoạt động của ngành, việc uỷ thác xuất nhập cho Công ty không có nhiều kinh
nghiệm dẫn đến hàng hoá cung cấp với giá đắt, dịch vụ kèm theo thường là không có
hoặc không hợp lệ.
Nhận rõ nhu cầu của việc cần có một bộ phận chuyên đảm nhận công tác xuất
nhập khẩu thiết bị Hàng không và căn cứ vào yêu cầu phát triển của ngành Hàng
không dân dụng VN. Ngày 1/5/1989 cục trưởng Hàng không dân dụng VN đã ký
quyết định số 197 TCHK thành lập Công ty xuất nhập khẩu chuyên ngành và dịch vụ
Hàng không với tiền thân là phòng vật tư kỹ thuật của Tổng Cục Hàng không dân
dụng VN trực thuộc Bộ quốc phòng. Đến 7/1994 theo Quyết định số
1173/QĐ/TCCB-LĐ của Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải ngày 30/7/94 đã đổi tên
thành Công ty xuất nhập khẩu Hàng không (tên giao dịch là AIRIMEX).
Từ khi Công ty được thành lập công việc nhập khẩu được giao cho Công ty
thực hiện trên cơ sở chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Cục Hàng không dân
dụng VN (nay là Tổng Công ty Hàng không Việt Nam). Thông qua việc tự nhập,
Công ty đã khẳng định khả năng xuất nhập khẩu của mình. Cùng với đội ngũ cán bộ
am hiểu kỹ thuật Hàng không và nghiệp vụ ngoại thương, Công ty đã đưa ra các giải
pháp, phương án hợp lí có lợi cho Công ty và cho người uỷ thác nhập khẩu. Nhờ đó,
hoạt động nhập khẩu trang thiết bị Hàng không thông qua Công ty AIRMEX thường
có hiệu quả cao, chất lượng hàng nhập đảm bảo đúng quy cách yêu cầu, tạo điều kiện
thực hiện nhanh chóng các thủ tục đăng ký, đăng kiểm theo đúng yêu cầu kỹ thuật
của tổ chức Hàng không thế giới ICAO (Internatinonal Civil Avation Organiration)
và loại trừ các khuyết điểm do nhập khẩu qua MACHINO-IMPORT.
Quyết định số 197/TCHK, ngày 1/6/1989 thành lập Công ty xuất nhập khẩu
chuyên ngành và dịch vụ Hàng không với nhiệm vụ:
Xuất nhập khẩu các trang thiết bị, khí tài và phụ tùng thay thế cần thiết cho ngành
Hàng không dân dụng Việt Nam và một số mặt hàng phi mậu dịch để bán tái xuất ở
- Kinh doanh xuất nhập khẩu máy bay, phương tiện, phụ tùng, vật tư cho ngành
Hàng không.
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
- Kinh doanh xuất nhập khẩu trang thiết bị vật tư vật liệu và hàng hoá dân dụng.
- Kinh doanh dịch vụ nhận gửi hàng hóa, đại lý bán vé máy bay.
- Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
- Công ty AIRIMEX và các thành viên trong Tổng Công ty Hàng không Việt Nam
chịu sự quản lý trực tiếp của ban lãnh đạo Tổng Công ty. Các Công ty này có mối
quan hệ trực tiếp với nhau như những bạn hàng truyền thống của nhau về các loại
hàng hoá, dịch vụ cho ngành Hàng không và các ngành có liên quan.
Theo bước phát triển của ngành, tháng 6/2003 công ty được giao vốn để chủ động
hoạt động kinh doanh, là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc cục Hàng không dân
dụng Việt Nam.
Từ tháng 10/1994, công ty hoạt động theo giấy phép đăng kí kinh doanh số
100162 của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cấp ngày 27/09/1994. Cho đến ngày
17/10/2005 theo quyết định số 3892/QĐ-BGTGVT của Bộ trưởng Bộ giao thông vận
tải đã phê duyệt phương án và quyết định chuyển công ty xuất nhập khẩu Hàng
không trực thuộc tổng công ty Hàng không Việt Nam thành công ty cổ phần.
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức quản lý của Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Hàng không
1.3.2.1 Chức năng của Công ty
Kinh doanh xuất nhập khẩu máy bay, phương tiện thiết bị phụ tùng, vật tư cho
ngành Hàng không.
Kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị, vật tư, vật liệu và hàng hoá dân dụng.
Kinh doanh dịch vụ nhận gửi háng hoá, đại lý vé máy bay, giữ vé Hàng
không.
Tuy nhiên, Công ty xuất nhập khẩu Hàng không chỉ mang danh nghĩa Công ty
xuất nhập khẩu còn thực chất hiện nay Công ty chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực nhập khẩu và là nhập khẩu uỷ thác hưởng hoa hồng theo từng lô hàng nhập khẩu.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
i) Bộ máy tổ chức quản lí
Các phòng ban nghiệp vụ giúp giám đốc trong việc quản lý và điều hành công
việc chuyên môn, chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụ và nội dung được
giao.
*) Giám đốc Công ty AIRMEX
Chức năng: Giám đốc Công ty được Tổng giám đốc Công ty Hàng không Việt
Nam đề nghị chủ tịch Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm khen thưởng, kỷ luật
và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc Công ty HKVN, thực hiện chức năng nhập
khẩu chuyên ngành, dịch vụ Hàng không và kinh doanh các mặt hàng dân dụng khác.
Nhiệm vụ: Duy trì thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành cùa Nhà nước, các
bộ, các cơ quan quản lý về xuất nhập khẩu.
Chịu trách nhiệm về công tác tổ chức, duy trì hoạt động theo điều lệ của Công ty,
được Tổng giám đốc Tổng Công ty Hàng không phê duyệt và theo quy định hoạt
động của Nhà nước -bảo toàn và phát triển vốn.
Chăm lo đời sống vật chất tinh thần của toàn Công ty, lập chương trình kế hoạch và
nâng cao đời sống công nhân viên bằng giá trị vất chất tăng trưởng.
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Tổng giám đốc công ty Hàng không VN
Giám đốc công ty cổ phần XNK HK Airmex
Phó giám đốc
Chủ tịch hội đồng quản trị
Phòng
KH-
TC-
NS
Phòng
thống
kê-xử lí
dữ liệu
động của Công ty trong thời gian tiếp theo. Ngoài ra phòng còn có nhiệm vụ:
- Quản lý hành chính chung cho toàn Công ty bao gồm: Quản lý nhân sự trong
Công ty, quản lý tài sản cố định của Công ty, quản lý công văn.
- Quản lý việc giao nhận hàng, quản lý kho và đội xe.
- Quản lý chung các hợp đồng: Chuẩn bị ký kết hợp đồng của các phòng nghiệp vụ,
theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng.
*) Phòng Tài chính- Kế toán:
Phòng Tài chính kế toán đảm bảo vừa là một phòng hoạt động chức năng vừa
là phòng đảm bảo kinh doanh xuất nhập khẩu đúng luật pháp và có hiệu quả với các
nhiệm vụ sau:
- Thực hiện các công việc quản lý về tài chính chung cho toàn Công ty như tình
hình về tài sản, chi phí, thuế, lương, thanh toán…
- Lập kế hoạch tài chính (Ngắn hạn, trung hạn, dài hạn).
- Kế hoạch về bảo toàn và phát triển vốn được giao.
- Kế hoạch góp vốn, huy động vốn, quản lý vốn Doanh nghiệp.
- Kế hoạch về thu chi, trang bị, mua sắm khấu hao.
- Kế hoạch về lập quỹ, trích quỹ.
- Kế hoạch thực hiện thuế và các loại hình thu nộp.
Tham gia vào quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh cho toàn Công ty qua
việc theo dõi, quản lý hợp đồng về tài chính theo các công việc sau:
- Tổng hợp, theo dõi, quản lý trị giá của các hợp đồng.
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.Phạm Thị Gái
- Theo dõi và tiến hành công tác thanh toán các hợp đồng (thực hiện các điều khoản
liên quan đến công tác thanh toán các hợp đồng: mở L/C, điện chuyển tiền, theo
dõi tiến trình thực hiện hợp đồng để làm cơ sở cho việc thanh toán).
Chịu trách nhiệm lập các báo cáo quyết toán tài chính trong từng thời kỳ.
*) Phòng nghiệp vụ 1:
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới háng hóa và trang thiết bị mặt đất như:
Xe nâng hàng, vận tải, hệ thống hàng tầng sân bay.
của người bán.
Thực hiện báo cáo tiến độ thực hiện hợp đồng, thực hiện báo cáo về:
- Tổng số tiền đã thanh toán.
- Tổng số hàng đã về nhưng chưa thanh toán.
- Tổng số chậm thanh toán 30, 60,90,120 ngày.
- Tình hình về hàng (Theo văn bản thông báo).
- Tìm hiểu nguyên nhân và tìm cách giải quyết các tồn đọng.
- Các chứng từ khác (Giấy phép nhập, hải quan, thuế nhập, xuất hàng…).
*) Phòng nghiệp vụ 3
Đây là phòng thành lập theo quyết định số 897/CAAV ngày 18/5/95, với
nhiệm vụ:
- Nghiên cứu thị trường để lập kế hoạch kinh doanh có hiệu quả.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu một số ngành hàng được Bộ Thương mại cho phép.
- Trực tiếp quản lý, điều hành, chịu trách nhiệm kết quả cuối cùng của các hoạt động
của phòng bán vé ghi chỗ cho hãng Hàng không Việt Nam.
- Thường kỳ báo cáo tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh và hoạt động của phòng.
- Tổ chức hạch toán nội bộ, chi phí tiền lương và các tiêu chuẩn khác liên quan đến
thu nhập thực tế trước mắt được điều chỉnh bằng mức theo hệ số quỹ lương của
Công ty.
1.3.3 Đặc điểm các nguồn lực của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
Hàng không
SV: Nguyễn Thị Thúy Vân Lớp Kế toán 45 A