Luận văn Doanh nghiệp Nhà nước sau CPH ở Bộ Giao thông vận tải - Thực trạng và giải pháp phát triển doc - Pdf 12


1 Luận văn
Doanh nghiệp Nhà nước sau CPH ở
Bộ Giao thông vận tải - Thực trạng
và giải pháp phát triển

2

Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một nội dung quan trọng
trong công cuộc đổi mới, cải cách kinh tế ở nước ta, trong đó cổ phần hóa
(CPH) DNNN là một nội dung trọng tâm. Từ năm 1992 đến nay, nước ta đã
CPH được gần 4.000 DNNN. Có thể thấy, quá trình CPH đã đem lại nhiều kết
quả khả quan cho DNNN cũng như cho nền kinh tế. Tuy nhiên, quá trình
CPH và hoạt động của DNNN sau CPH cũng đặt ra cho nền kinh tế và cơ chế
quản lý kinh tế nhiều vấn đề cần tháo gỡ. Một mặt, bản thân quá trình CPH
với sự thay đổi liên tục chính sách của Nhà nước đã làm cho DNNN sau CPH
không hoạt động trên nền tảng như nhau. Mặt khác, do môi trường CPH chưa

hoạt động và cơ chế quản lý của các DNNN sau CPH, trong đó có nhiều DN
thuộc Bộ GTVT. Đó chính là lý do mà đề tài “ Doanh nghiệp Nhà nước sau
CPH ở Bộ Giao thông vận tải - Thực trạng và giải pháp phát triển “ được
chọn nghiên cứu trong luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
CPH DNNN và đổi mới cơ chế quản lý DNNN đã được nhiều tác giả và
công trình quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Có thể phân loại
các nghiên cứu về lĩnh vực này theo các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất nghiên cứu tổ chức sắp xếp lại DNNN, trong đó có
CPH, dưới khía cạnh giải pháp tái cơ cấu các DNNN ở các quốc gia khác
nhau, nhất là ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, coi đó như giải pháp
chuyển các cơ sở sản xuất của Nhà nước cho tư nhân. Điển hình cho nhóm tác
giả này là các nhà kinh tế ở Châu Âu, một số nhà kinh tế làm việc trong các tổ
chức kinh tế quốc tế. Nội dung nghiên cứu của nhóm này là quá trình chuyển
đổi của nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, trong đó có quá trình
giải thể của các DNNN và tái cơ cấu lại chúng theo các giải pháp sốc, lấy
CPH toàn dân (nước Nga), hay tư nhân hoá sở hữu nhà nước làm trọng tâm.
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu là “Chuyển đổi các doanh nghiệp nhà

4

nước” của các tác giả Barry Spicer, David Emanuel, Michael Powel; “Cải
cách doanh nghiệp thế giới” bài viết trên tạp chí Tài chính số 12 – 1997 của
tác giả Đào Trọng Thanh
Nhóm thứ hai là các nhà kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc, họ
nghiên cứu CPH và đổi mới DNNN dưới giác độ cải cách đổi mới để làm cho
các DN này hoạt động tốt hơn, tạo thể chế để Nhà nước kiểm soát DN có hiệu

nền kinh tế thị trường.
- Tổng thuật kinh nghiệm phát triển DNNN sau CPH ở một số nước
trên thế giới.
- Phân tích thực trạng hoạt động của DNNN sau CPH ở Bộ GTVT.
- Đề xuất phương hướng, và một số giải pháp phát triển các DNNN sau
CPH ở Bộ GTVT trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
DNNN sau CPH ở Bộ GTVT được khảo sát trong luận văn là các DNNN
sau CPH có vốn nhà nước lớn hơn hoặc bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Thời gian khảo sát hoạt động của các DN này giới hạn từ năm 2000 đến nay.
Tuy nhiên, do DNNN sau CPH ở Bộ Giao thông vận tải chịu ảnh hưởng sâu sắc
của quá trình CPH và quá trình đổi mới DNNN nên trong từng vấn đề cụ thể, các
phân tích và dữ liệu có thể lấy ở từng khoảng thời gian xa hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu trong luận văn
Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
và lập trường của Đảng và Nhà nước ta, luận văn sử dụng chủ yếu phương
pháp quy nạp từ các luận điểm lý thuyết và bằng chứng thực tế để phân tích
có phê phán các vấn đề đặt ra trong luận văn.
Trong các phân tích cụ thể, luận văn dựa vào số liệu thống kê, số liệu
của các công trình, báo cáo đã có.
Trong điều kiện có thể, luận văn sẽ dựa trên số liệu điều tra ở quy mô
nhỏ và phỏng vấn riêng.
6. Những đóng góp của luận văn

6

- Luận văn đã góp phần hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về phát triển

DNNN bằng nhiều cách như tăng vốn, để lại lợi nhuận cho DNNN. Do đó, dù
hoạt động theo nguyên tắc thương mại bình thường, DNNN vẫn được hưởng
ưu đãi từ Nhà nước nhiều hơn các DN khác.
- DNNN có nghĩa vụ thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao. Rất
nhiều khi nhiệm vụ đó không thuần tuý là nhiệm vụ kinh doanh. Ví dụ như
DNNN được Nhà nước sử dụng như là một trong những công cụ kinh tế, lực
lượng vật chất để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là một trong những
phương tiện để Nhà nước thực hiện các chương trình, kế hoạch, chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), là mô hình tổ chức quản lý kinh tế theo
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng DNNN

8

để phát triển các lĩnh vực công cộng, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, bảo vệ
môi trường…, là những khu vực cần thiết cho nền kinh tế, nhưng khả năng
sinh lời thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, không hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân.
Do các DNNN có đặc điểm riêng như vậy, nên nhiều DNNN sau khi
CPH vẫn chưa rũ bỏ được các đặc điểm khi còn là DNNN. Vì thế, phát triển
các DNNN sau CPH mang nhiều nét khác biệt so với các CTCP khác.
1.1.1.2. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
a. Khái niệm công ty cổ phần
Khái niệm CTCP được qui định trong Luật Doanh nghiệp như sau:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và
không hạn chế tối đa.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của DN trong phạm vi vốn góp vào DN.

hoạt động của CTCP.
CTCP được hình thành bằng các con đường sau:
- CTCP được thành lập mới ngay từ đầu. Việc thành lập mới này có thể
do một số cổ đông sáng lập đưa ra ý tưởng và kêu gọi mọi người cùng góp
vốn để kinh doanh.
- CTCP được thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ một số loại hình DN
khác như DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH), DNNN, DN
liên doanh
b. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
CPH DN nói chung được hiểu là quá trình chuyển đổi hình thức tổ
chức của DN từ chỗ không phải là CTCP sang hoạt động theo hình thức
CTCP. Do việc thay đổi hình thức pháp lý của tổ chức sản xuất kinh doanh
như vậy, nên cơ cấu tổ chức của CTCP và sự chế định của pháp luật đối với
DN sau CPH cũng có sự thay đổi.
CPH DNNN ở nước ta thực chất là chuyển đổi hình thức sản xuất kinh
doanh của DNNN từ mô hình 100% vốn nhà nước, hoạt động theo Luật
DNNN sang mô hình CTCP đa sở hữu hoạt động theo Luật DN. Sau CPH

10
Nhà nước có thể tham gia sở hữu trong CTCP dưới nhiều hình thức như cổ
đông khống chế, cổ đông thiểu số.
Một nội dung quan trọng của CPH DNNN là chuyển một phần sở hữu
của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân. " Về hình thức, CPH là việc nhà
nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong xí nghiệp cho
các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước, hoặc cho các cán
bộ quản lý và công nhân của xí nghiệp bằng hình thức đấu giá công khai hay
thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các CT TNHH hoặc CTCP"

tuỳ thuộc vào sự kiểm soát nhiều hay ít của Nhà nước, DN này còn chịu sự
chế định của Luật DNNN;
+ Các cổ đông của DNNN sau CPH chủ yếu là người lao động, cơ quan
nhà nước và một phần nhỏ là đối tác và cổ đông tự do. Đa phần các cổ đông
của DNNN sau CPH chưa có kinh nghiệm quản lý CTCP.
+ DNNN sau CPH gồm nhiều loại đa dạng: có DN Nhà nước giữ cổ
phần khống chế (CTCP nhà nước); có DN Nhà nước không nắm phần vốn
khống chế nhưng lượng vốn của Nhà nước còn khá lớn và Nhà nước còn có
ảnh hưởng đến quản trị DN thông qua đại diện của mình; có DN Nhà nước
chỉ giữ cổ phần không đáng kể; có DN nhà nước hoàn toàn không có cổ phần.
Hơn nữa, ngay trong các CTCP Nhà nước còn giữ phần cổ phần lớn cũng
gồm hai loại: Loại Nhà nước cần giữ cổ phần khống chế để nắm quyền kiểm
soát DN do vai trò quan trọng của nó; loại Nhà nước còn giữ cổ phần lớn là
do không bán được cổ phần….
Với các loại DNNN sau CPH khác nhau thì chế độ chính sách của Nhà
nước nhằm phát triển chúng cũng khác nhau.
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
1.1.2.1. Doanh nghiệp phải chuyển sang hoạt động theo mô hình
công ty cổ phần

12
Thời điểm CPH thành công là DNNN được chính thức thừa nhận đã
hoàn thành thủ tục CPH và bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh theo hình
thức CTCP. Về mặt pháp lý, DNNN sau CPH có đủ điều kiện để vận hành
theo mô hình mới. Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều vấn đề về tổ chức
trong DN còn phải tiếp tục hoàn thiện. Chẳng hạn như vấn đề vận hành của
Đại hội cổ đông. Do chính sách CPH của Nhà nước ta ưu tiên người lao động

Sau nhiều năm hoạt động dưới sự đầu tư và quản lý trực tiếp của các cơ
quan nhà nước, các DNNN sau CPH kế thừa nhiều di sản của DNNN mà chưa
thể thay đổi trong một thời gian ngắn, cụ thể là:
+ Tài sản trong các DNNN sau CPH có quy mô và cơ cấu không hợp
lý. Đa phần tài sản đã cũ, ngoài số đã bàn giao về cho tổ chức quản lý tài sản
của Nhà nước, số tài sản còn lại đều lạc hậu và không đồng bộ, đòi hỏi các
DNNN sau CPH phải cơ cấu lại.
+ DNNN sau CPH có thế mạnh là mặt bằng sản xuất, kinh doanh
thường rộng rãi, thuận lợi hơn các DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước
ngoài. Lợi thế này thường không nằm trong giá trị của DNNN khi CPH nên
có thể coi đây là “của hồi môn” có giá trị của DNNN sau CPH. Nếu DN nào
biết cách sử dụng ưu thế này thì khả năng phát triển sẽ thuận lợi.
+ Nhiều DNNN sau CPH còn phải gánh những món nợ của DNNN cũ
hoặc chịu chi phí cho các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị trước kia đầu
tư không hợp lý. Giải quyết được hết các tồn đọng này cũng là một thách thức
đối với DNNN sau CPH.
+ Lực lượng lao động trong DNNN sau CPH vẫn chủ yếu là lực lượng
lao động của DNNN cũ, ngoại trừ số được giải quyết trước CPH. Số người bổ
sung mới vào CTCP thường không nhiều, chủ yếu ưu tiên cho các cương vị
quản lý và kỹ thuật quan trọng. Do đa phần là người lao động cũ, nên việc
thay đổi thói quen và kỷ luật lao động đối với họ là rất khó khăn. Họ thường
giữ cách tư duy cũ, phong cách làm việc cũ, quen dựa vào chế độ và ưu đãi
của Nhà nước. Hơn nữa, pháp luật về lao động hiện tại chưa cho phép DNNN

14
sau CPH có thể sa thải dễ dàng người lao động của công ty. Chính sức ỳ này
làm cho CTCP mới khó hoạt động năng động và hiệu quả như mong đợi.

vấn đề về để lại lợi nhuận, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, phát hành cổ
phiếu tăng vốn… đều do Đại hội cổ đông hoặc Đại hội cổ đông uỷ quyền cho
Hội đồng quản trị quyết định. Nói cách khác, Nhà nước không còn quyền đơn
phương tự mình quyết định phương hướng và hành động của DN như trước
kia.
- CTCP có quyền phát hành cổ phiếu ra thị trường theo qui định của
pháp luật và thị trường chứng khoán (TTCK). Vốn của DN không còn phụ
thuộc vào nguồn vốn Nhà nước cấp như trước. Hơn nữa, qua các đợt phát
hành cổ phiếu, cổ phần của Nhà nước có thể giảm một cách tương đối.
- Mối quan hệ của DNNN sau CPH với các đối tác khác, kể cả với DN
100% vốn nhà nước, là quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ bình đẳng theo
pháp luật. Sau CPH, CTCP không thuộc diện được vay tín chấp, không thuộc
lĩnh vực riêng của Nhà nước, không có cơ quan chủ quản đỡ đầu trong việc
xin vốn đầu tư, xin dự án hoặc che đỡ trong quan hệ với cơ quan thuế, hải
quan… Chính vì thế, sau CPH, nhiều DN cảm thấy bị thiệt thòi, bị bỏ rơi, bị
phân biệt đối xử …
- DNNN sau CPH hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các vấn đề lỗ, lãi được DN xử lý với tư cách một pháp
nhân độc lập, trong đó Nhà nước chỉ có quyền ứng xử như một cổ đông.
1.2.1.4. Cổ đông nhà nước
Trong các DNNN sau CPH Nhà nước là cổ đông như mọi cổ đông
khác. Việc Nhà nước quyết định mình tham gia với tư cách nào (là cổ đông
thông thường, cổ đông chi phối hoặc không giữ lại vốn của mình trong DN)
tuỳ thuộc vào đặc điểm của DN và mục tiêu mà Nhà nước đặt ra đối với DN.
Có thể, trong giai đoạn đầu khi CTCP khó bán cổ phiếu cho tư nhân, Nhà
nước sẽ trở thành cổ đông chi phối một cách bất đắc dĩ. Khi CTCP hoạt động

17
DN cần phải giáo dục họ, giúp họ tổ chức lại thành cổ đông đa số, tạo cơ chế
cho họ cử đại diện của mình vào các cơ quan quản lý CTCP thì tác động
tích cực của họ mới được phát huy. Nếu không làm được như vậy, thì đội ngũ
cổ đông này chính là điểm hạn chế của DN do tính không nhất quán, thiếu tri
thức và kinh nghiệm, dễ bị chia rẽ và lợi dụng của họ.
1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
1.2.3.1. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá đối với
Nhà nước
a. Công ty cổ phần nhà nước là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế
ở nước ta, mục đích chủ yếu của CPH DNNN là để Nhà nước tái cơ cấu
lại hệ thống DNNN của mình theo hướng hiệu quả, thích nghi với kinh tế thị
trường và hội nhập. Mục tiêu tái cơ cấu DNNN được ưu tiên hơn mục tiêu
chuyển đổi sở hữu của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân. Cách làm như
vậy vừa giúp cho nước ta tránh được các suy thoái như cách làm của Nga và
các nước Đông âu trước đây, đồng thời vẫn cho phép Nhà nước, thông qua
các DNNN sau CPH, điều tiết vĩ mô và kiểm soát nền kinh tế. Vai trò điều tiết
đó dựa chủ yếu vào các CTCP nhà nước và tập đoàn kinh tế do Nhà nước
khống chế. Thực tế đổi mới DNNN ở nước ta những năm qua cho thấy, các
tập đoàn kinh tế lớn, các tổng công ty lớn sau CPH vẫn có thể chịu sự chi
phối của Nhà nước, đồng thời vẫn hoạt động có hiệu quả và duy trì được khả
năng điều tiết thị trường. Hơn nữa, thông qua mô hình CTCP Nhà nước giữ
cổ phần chi phối, Nhà nước có thể xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn có khả
năng cạnh tranh, có năng lực đầu tư ra nước ngoài, giúp Nhà nước kiểm soát
một lĩnh vực rộng lớn mà không cần tăng đầu tư vốn nhà nước quá lớn.
b. Đầu tư dưới hình thức giữ cổ phần trong công ty cổ phần là hình
thức đầu tư có lợi đối với Nhà nước.

buộc đó đã kìm hãm sự phát triển của DNNN, khiến nhiều DNNN phải bỏ phí
cơ hội kinh doanh, kết quả là tiềm năng phát triển và tiềm năng hiệu quả của

19
DNNN đều không được khai thác tốt. Với CPH, DNNN được phát hành cổ
phiếu thu hút vốn. Phương thức này đã cơ bản giúp DNNN giải quyết nhu cầu
về vốn cho đầu tư phát triển. Thực tiễn CPH đã chứng minh nhận định này.
Tính từ năm 1993- 1997 bình quân vốn của DNNN sau CPH tăng 45%/năm
[29]. Ngoài ra, do vốn chủ sở hữu tăng, DN sau CPH có năng lực tài chính
đảm bảo lớn hơn để ký hợp đồng tín dụng vay các khoản vốn lớn.
c. Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá được hưởng lợi từ các yếu
tố động lực hướng tới hiệu quả
Sau CPH, lợi ích của người lao động, người quản lý và chủ sở hữu
được nâng lên do họ được hưởng trực tiếp thành quả của kinh doanh dưới
hình thức cổ tức và chênh lệch giá cổ phiếu. Hơn nữa, cơ chế quản lý theo
nguyên tắc tách biệt và đại diện cho phép DNNN sau CPH thu hút được nhiều
nhân tài phục vụ hoạt động kinh doanh. Quyền chủ động của DN dưới hình
thức CTCP cho phép DN tăng khả năng mở rộng liên doanh liên kết, thu hút
vốn, công nghệ mới cho sản xuất kinh doanh. Mô hình quản lý của CTCP
cũng đòi hỏi tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong điều hành DN, nhờ
đó DN cũng được quản lý và kiểm soát tốt hơn. Tất cả những lợi thế đó góp
phần không chỉ tăng lợi nhuận ngắn hạn cho cổ đông, mà còn tạo vị thế, uy
tín, thị phần và năng lực cạnh tranh của DN, cho phép DN phát triển về lâu
dài. Khi DN ngày càng làm ăn tấn tới thì cả chủ sở hữu lẫn người làm công
đều được lợi.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần
hoá

nhà máy đường, giao thông ; CPH cả các DNNN không làm ăn hiệu quả;
Chính sách CPH được thay đổi theo hướng ít lợi hơn cho DNNN sau CPH
như không cho không người lao động cổ phiếu mà họ phải mua theo giá ưu
đãi, hoặc cấp tín dụng ưu đãi cho người lao động mua cổ phiếu với điều kiện

21
không được chuyển nhượng khi chưa trả hết nợ, giá trị DN được xác định sát
giá thị trường hơn, Nhà nước hỗ trợ giải quyết lao động dôi dư và nợ đọng
của DN bằng các tổ chức chuyên môn hoá và bằng các quỹ của Nhà nước;
quyền được mua cổ phiếu mở rộng cho người ngoài DN Kết quả của CPH
giai đoạn này là số lượng CTCP do CPH tạo thành tăng nhanh, điều kiện hoạt
động của DNNN sau CPH khó khăn hơn, khó phát hành cổ phiếu để huy động
vốn hơn Đã có một số DNNN sau CPH gặp khó khăn trong hoạt động
buộc Nhà nước phải ra tay cứu trợ. Nhìn chung, DNNN sau CPH bắt đầu gặp
nhiều khó khăn hơn trước như cơ chế quản lý của nhà nước chưa kịp thay đổi
cho phù hợp, cơ quan nhà nước ít quan tâm đến DNNN sau CPH, các loại thủ
tục xác định quyền sở hữu và quyền sử dụng sau CPH thường kéo dài và phức
tạp CPH không còn là con đường mang lại toàn lợi ích cho người lao động
và DNNN sau CPH như giai đoạn thử nghiệm.
Từ năm 2005 đến nay, với chủ trương hoàn thành CPH trong thời
gian sớm nhất, đồng thời cố gắng hạn chế thất thoát vốn nhà nước trong
quá trình CPH, diện DNNN cần CPH đã mở rộng đến tất cả các DNNN,
chính sách CPH đã được xây dựng chuẩn mực và chặt chẽ hơn như việc
định giá DNNN đã có tính đến giá trị quyền sử dụng đất, chính sách hỗ trợ
giải quyết lao động dôi dư độc lập với tiến trình CPH, phương thức phát
hành cổ phiếu mang tính thị trường nhiều hơn Tất cả những thay đổi đó
đã dẫn đến tình hình là DNNN sau CPH kế thừa được rất ít lợi ích từ

sản DN không sử dụng về cho Nhà nước cũng không được thực hiện dứt
điểm, dẫn đến hiện tượng nhập nhèm giữa tài sản nhà nước và tài sản của
CTCP Các cơ quan quản lý nhà nước ít quan tâm đến DNNN sau CPH,
nhất là các DN, Nhà nước không giữ cổ phần khống chế. Sự “bỏ rơi” này, một
mặt, làm cho DNNN sau CPH hoang mang, khi gặp khó khăn không biết
trông cậy vào đâu, thậm chí không có địa chỉ để lấy thông tin về chính sách

23
của Nhà nước; mặt khác, nhiều vấn đề của DN sau CPH cần sự hỗ trợ bên
ngoài DN như tranh chấp giữa các cổ đông, giữa cổ đông và Hội đồng quản
trị, vấn đề cấp giấy xác nhận quyền sở hữu cổ phần, vấn đề chuyển nhượng cổ
phiếu CTCP không nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước chủ
quản nên thực sự khó khăn.
Nói tóm lại, do diện DNNN CPH quá rộng, do chính sách CPH của
Nhà nước thường xuyên thay đổi, do dân cư và giới quản lý DN chưa kịp làm
quen với CTCP do CPH tạo ra, do các cơ quan nhà nước chưa được chuẩn bị
để hỗ trợ DNNN sau CPH nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của
DNNN sau CPH và đặt DNNN sau CPH vào điều kiện hoạt động khá đặc biệt
so với các CTCP khác.
1.2.2. Môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.1. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý ảnh hưởng quyết định đến hoạt động của CTCP bởi
đây là mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của DN mang tính xã hội hoá cao
nhất. Nếu như các mô hình DN tư nhân, CT TNHH còn có sự hỗ trợ kiểm
soát trực tiếp của cá nhân chủ sở hữu đối với hoạt động của DN, thì CTCP
hoàn toàn chịu sự quản lý của các cơ quan đại diện, chủ sở hữu chỉ có vai trò
quản lý gián tiếp hoạt động của công ty. Do đó, luật pháp cần phải chế định

họ, nhất là các CTCP có điều kiện phát triển thuận lợi.
1.2.2.2. Đường lối, chính sách đối với doanh nghiệp của Nhà nước
Với sự lựa chọn xu hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta tất yếu thực
thi chính sách tạo điều kiện cho kinh tế nhà nước, trong đó có các DNNN,
phát triển mạnh mẽ, đảm đương được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Hơn
nữa, trong quá khứ và hiện tại, hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước ta
đã được thiết kế với phần ưu đãi cho DNNN khá lớn. Về nguyên tắc, ưu đãi
cho DNNN là tạo vị thế cạnh tranh không bình đẳng cho các DN khác, nhất là
cho các DN vừa thoát thai khỏi mô hình DNNN, tức là các DNNN sau CPH.

25
Các ưu đãi cho DNNN còn tạo tâm lý ganh tỵ trong người lao động và cán bộ
ở DNNN thuộc diện CPH. Để khuyến khích họ ủng hộ CPH, có hai cách làm:
Một là, xoá bỏ ưu đãi cho các DNNN còn lại; hai là, đền bù cho những người
làm việc trong các DN thuộc diện CPH. Nhà nước ta đã chọn cách làm thứ hai
trong điều kiện ngân sách nhà nước vô cùng hạn hẹp, thường xuyên bị bội chi.
Cách làm đó đã ảnh hưởng đến DNNN sau CPH theo hai hướng: 1, DNNN
thuộc diện CPH cố tình trì hoãn CPH để đòi được chế độ đền bù cao hơn.
Trong điều kiện chính sách CPH của nước ta luôn thay đổi, các DNNN càng
có lý do để chờ đợi; 2; Chế độ đền bù của Nhà nước không nhất quán do ngân
sách không đủ sức gánh chịu, dẫn đến các chế độ bồi thường trong các giai đoạn
khác nhau là khác nhau, vừa tạo ra tình trạng không công bằng, gây bất bình
trong số những người có liên quan, vừa tạo cớ để DNNN không muốn CPH.
Thời gian gần đây, dưới sức ép của đường lối đổi mới nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các DNNN và sức ép của hội nhập kinh tế quốc tế,
Nhà nước đã tuyên bố kiên quyết xoá bỏ bao cấp cho DNNN dưới mọi hình
thức, từng bước đưa DNNN hoạt động trong môi trường thương mại bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status