TIỂU LUẬN: Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 12



TIỂU LUẬN

Vấn đề nợ nước ngoài
ở Việt Nam Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

1

DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên MSSV
1 Đặng Tuấn Anh K094010002
2 Võ Quốc Cảnh K094010006
3 Trần Hữu Dũng K094010011
4 Bùi Nguyễn Quang Duy K094010014
5 Nguyễn Minh Định K094010020
6 Vũ Thị Hà K094010026
7 Nguyễn Thị Hoa K094010037
8 Trần Mạnh Hùng K094010042
9 Bùi Lê Bảo Khanh K094010051
10 Muộn Thị Khiên K094010053
11 Trần Văn Lĩnh K094010062
12 Đỗ Hồng Quân K094010088
13 Lê Thị Kim Quỳnh K094010089
14 Mai Thị Thu Thương K094010104

3.1 Khả năng hoàn trả nợ vay. 9
3.2 Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia 10
3.3 Tỷ lệ trả nợ (Tỷ lệ dịch vụ nợ). 10
3.4 Tỷ lệ trả lãi (Tỷ lệ dịch vụ lãi). 10
3.5 Tỷ lệ dự trữ ngoại hối. 11
3.6 Tỷ lệ nợ nước ngoài so với ngân sách 11
3.7 Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP 11
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM 13
1. Tình hình phát triển chung (2006 – 2010). 13
2. Cơ cấu nợ. 15
2.1 Phân theo loại tiền. 15
2.2 Phân theo chủ nợ. 16
2.3 Phân theo lãi suất 19
3. Đánh giá nợ nước ngoài của Việt Nam. 20
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

3

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN VIỆT NAM 22
1. Về mặt tích cực. 22
1.1 Góp phần tăng trưởng kinh tế 22
1.2 Cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư của Nhà nước 23
1.3 Thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 24
1.4 Vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 24
2. Về mặt tiêu cực 24
2.1 Lấn áp một số phương diện kinh tế 24
2.2 Gây ra áp lực trả nợ, kéo theo nhiều hệ quả 25
2.3 Ảnh hưởng tới chính trị, xã hội, mất lòng tin trong dân chúng 25
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ NỢ HIỆU QUẢ 26
1. Phát triển nội lực nền kinh tế. 26

ta không thể chỉ trông chờ vào tiềm lực trong nước vốn đã không mạnh mà phải biết tận
dụng và thu hút nguồn vốn dồi dào từ nước ngoài, trong đó, vay nợ là một phương cách
quan trọng. Sử dụng vốn vay nước ngoài hợp lý sẽ đem lại những hiệu quả hết sức to lớn,
tạo tiền đề để thế hệ sau bứt phá, đưa đất nước đi lên nhanh chóng. Trong thời gian qua,
việc huy động vốn vay nước ngoài đã có nhiều chuyển biến và góp phần tích cực vào việc
thúc đầy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý và cẩn trọng
vì sử dụng vốn vay cũng chính là tạo cho đất nước một gánh nặng nợ đáng kể. Chính vì
vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ hiện trạng sử dụng nợ nước ngoài của Việt Nam, cần có
những chiến lược cụ thể, hợp lý để quản lý nợ nước ngoài hiệu quả, nếu không chính các
khoản nợ đó lại là những rào cản đối với sự phát triển kinh tế, cản trở quá trình đưa Việt
Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Với tính cấp thiết của vấn đề đã nêu, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài “Vấn đề nợ
nước ngoài ở Việt Nam” với mong muốn giúp mọi người hiểu rõ hơn về tình trạng nợ
nước ngoài của Việt Nam. Mặc dù đã có rất nhiều báo cáo về lĩnh vực này nhưng qua quá
trình tìm tòi và chọn lọc thông tin, nhóm chúng em vẫn muốn cố gắng nghiên cứu và hình
thành một cách nhìn riêng về nợ nước ngoài ở Việt Nam.
Vì đây là một vấn đề rộng và phức tạp nên khi thực hiện đề tài nên sẽ khó tránh khỏi
một số khiếm khuyết và sai sót nhất định. Nhóm chúng em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý giá từ thầy và các bạn để có được một đề tài hoàn thiện hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

5

Mục tiêu của đề tài là phân tích, nghiên cứu, tìm hiểu về nợ nước ngoài và thực trạng
vay nợ nước ngoài ở Việt Nam, qua đó đánh giá tác động của nợ đối với tăng trưởng và
phát triển kinh tế, từ đó rút ra nhận xét chung và đề xuất một số biện pháp cho vấn đề
quản lý nợ.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau

Nợ nước ngoài là một khái niệm cần làm rõ để quản lý một cách hiệu quả, với cách
hiểu khác nhau sẽ cho số liệu khác nhau dẫn đến đánh giá và giải quyết vấn đề nợ khác
nhau.
Theo “Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài” (ban hành kèm nghị định số
134/2005/ND–CP ngày 01/11/2005 của Chính Phủ) thì không gọi là nợ mà gọi là vay
nước ngoài: “Vay nước ngoài là khoản vay ngắn hạn (có thời hạn vay đến một năm),
trung và dài hạn (có thời hạn vay trên một năm), có hoặc không phải trả lãi, do Nhà nước,
Chính phủ Việt Nam và các tổ chức là người cư trú ở Việt Nam vay của tổ chức tài chính
quốc tế, Chính phủ các nước, các tổ chức và cá nhân là người không cư trú”. Như vậy,
theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân
Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của các cá nhân
và hộ gia đình).
Theo 8 tổ chức quốc tế nghiên cứu thống kê nợ nước ngoài, gồm Ngân hàng Thanh
toán Quốc tế, Ban Thư ký Khối Thịnh Vượng chung, Tổ chức Thông Kê Châu Âu, Quỹ
Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Ban Thư ký Câu lạc bộ Paris, Hội
nghị về Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc, nợ nước ngoài được thống nhất
định nghĩa: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tồng dư nợ của các nghĩa vụ
nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải
thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai và khoản nợ này là nợ của người
cư trú với người không cư trú trong quốc gia”.
2. Phân loại
Phân loại các khoản nợ vay nước ngoài được căn cứ vào các tiêu chí khác nhau giúp
cho công tác theo dõi, đánh giá và quản lý nợ có hiệu quả.
2.1 Theo cơ cấu dòng vốn vào
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

7

Phân loại nợ nước ngoài trước hết phải dựa trên luồng vốn vào để nắm được tính chất
của từng loại vốn, từ đó lựa chọn cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu tăng trưởng ổn định,


hoàn lại
Vay thương m

i

Tín d

ng thương m

i

Viện trợ
phát triển
chính thức

Tài trợ phát
triển chính
thức khác
Đầu tư
trực tiếp
nước
ngoài

Đầu tư
tài chính

Vay tư
nhân
Tài trợ phát triển chính thức

2.3 Theo thời hạn vay
 Nợ ngắn hạn: từ 1 năm trở xuống. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ có ảnh
hưởng trực tiếp đến tình hình thanh khoản của quốc gia và có khả năng gây ra khủng
hoảng kinh tế
 Nợ dài hạn: trên 1 năm.
2.4 Theo chủ thể đi vay
 Nợ chính thức (khu vực công): hay còn xem là nợ Chính phủ, bao gồm:
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

9

 Nợ của các tổ chức Nhà nước (đối với một liên bang thì gồm cả nợ của các
bang trong liên bang).
 Nợ của cơ quan hành chính, tỉnh, thành phố.
 Các khoản nợ của khu vực tư nhân do Nhà nước hoặc tổ chức chính thức
bảo lãnh
 Nợ tư nhân (khu vực tư): là các khoản nợ do doanh nghiệp trực tiếp vay mượn
hoặc do chính quyền địa phương mượn không được bảo lãnh của Chính phủ trung
ương. Nợ tư nhân thường là nợ trên thị trường trái phiếu, nợ ngân hàng thương mại
và các tư nhân khác.
Trong đó, nợ nước ngoài của chính phủ là chủ yếu, còn nợ của khu vực tư nhân hầu
như không đáng kể.
2.5 Theo chủ thể cho vay
 Nợ đa phương: chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới,
Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các ngân hàng phát triển khu vực, các cơ quan đa phương v à
liên Chính phủ (OPEC,…).
 Nợ song phương: từ Chính phủ một nước hoặc từ một tổ chức quốc tế nhân danh
một Chính phủ duy nhất dưới các dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện
vật.
3. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài

Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài.Thông thường các
nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ
giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ. Do vậy, tình trạng nợ có thể không
được đánh giá đúng mức.
3.3 Tỷ lệ trả nợ (tỷ lệ dịch vụ nợ)
Cách tính: % =
ổịụợảảàă()
ổạấẩàó,ịụ()Đây là tiêu chí quan trọng, phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng
lực xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ quốc gia đi vay.
Tháng 9 năm 2000, Hiệp định cơ cấu lại nợ cho các quốc gia có đồng tiền không khả
năng chuyển đổi đã làm cho mức nợ của các nước này giảm đi đáng kể do do đó chỉ số
TDS/XGS đang tăng từ sau cuộc khủng hoảng Châu Á thì giảm xuống từ năm 2000.
3.4 Tỷ lệ trả lãi (tỷ lệ dịch vụ lãi)
Cách tính: % =
ổãảảàă()
ổạấẩàó,ịụ()Một quốc gia phải thanh toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho
vay, thông thường lãi này được trích thừ từ thu nhập xuất khẩu. Quốc gia mắc nợ trong
quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽ trích thu nhập từ xuất khẩu càng nhiều, hạn chế
khối lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu. Đây là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá nợ vì không
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

11

chỉ đề cập đến gắng nặng nợ mà còn chỉ ra chi phí vay nợ, điều này ngầm hiểu như hiệu

 > 15%

3.7 Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP
Cách tính: % =
ổợướà()
ổảẩốộ()Biểu hiện của tỷ lệ nợ/GDP là một tiêu chuẩn để đánh giá điều gì đang xảy ra với tài
chính của chính phủ. Bởi vì GDP là một thước đo tốt về cơ sở thuế của chính phủ, nên tỷ
lệ nợ/GDP giảm dần cho thấy rằng nợ của chính phủ giảm tương đối so với khả năng của
chính phủ trong việc tạo nguồn thu từ thuế. Điều này hàm ý rằng theo một nghĩa nào đó,
chính phủ đang chi tiêu trong phạm vi cho phép. Ngược lại, tỷ lệ nợ/GDP ngày càng tăng
hàm ý nợ của chính phủ đang tăng lên so với khả năng tạo nguồn thu từ thuế.

Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

12

Dựa vào các chỉ số trên, các tổ chức tài chính quốc tế có thể đánh giá mức độ nợ nần
và khả năng tài trợ cho các nước thành viên. Các chỉ số này là căn cứ để các quốc gia vay
nợ tham khảo, xác định tình trạng nợ để hoạch định chiến lược vay nợ cho quốc gia.
Ngân hàng Thế giới đã sử dụng các chỉ số trên để xếp loại và đánh giá mức độ nợ nần
của các quốc gia vay nợ như sau:
Chỉ số (%)
Mức độ
trầm trọng
Mức độ
khó khăn
Mức độ


CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

1. Tình hình phát triển chung (2006 – 2010)
Nợ nước ngoài của Việt Nam chủ yếu thực hiện dưới 3 hình thức:
 Nợ ODA: phần cho vay ưu đãi trong khoản hỗ trợ phát triển chính thức ODA
 Vay thương mại qua các hợp đồng vay song phương hay đa phương.
 Phát hành trái phiếu quốc tế.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, số nợ Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh đã liên tục
tăng, từ 15.64 tỷ USD (2006) lên 19.25 tỷ (2007) và 21.81 tỷ (2008). Đến cuối năm 2010
dư nợ là 32.5 tỷ USD. Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

14 Nguồn: Báo cáo tài chính số 7

Trong đó nợ của Chính phủ từ 14.6 tỷ USD (2006) đã tăng lên là 17.2 tỷ (2007), 18.9
tỷ (2008), và đến năm 2010 đã tăng đột biến lên là 27.86 tỷ USD, chiếm 85.7% tổng dư
nợ.
Số nợ này khiến ngân sách nhà nước phải chi trả nợ trong năm 2010 lên tới 1.67 tỷ
USD, trong đó chỉ trả hơn 1 tỷ USD nợ gốc, số còn lại là lãi và phí. Trong khi ở năm
2006, ngân sách Nhà nước chỉ phải chi 0.7 tỷ USD trả nợ với 0.4 tỷ nợ gốc.
Theo Báo cáo của Bộ tài chính, mức dư nợ này được dự kiến trả từ năm nay đến hết
năm 2026, với mức trả hàng năm cao nhất lên tới gần 2.4 tỷ USD (cả gốc lẫn lãi, phí) và
năm thấp nhất gần 1 tỷ USD. Dự kiến đến năm 2015, ngân sách Nhà nước phải trả nợ
khoảng 1.5 tỷ USD, trong đó hơn 1 tỷ là nợ gốc. Và đến năm 2020, ngân sách phải chi

nợ tư nhân khác.

Nguồn: Báo cáo tài chính số 7

Cơ cấu nợ của Chính phủ vẫn chủ yếu tập trung vào các chủ nợ chính thức. Năm
2010, nợ chính thức của Chính phủ là 25.4 tỷ USD, chiếm 91.25% tổng nợ Chính phủ. Nguồn: Báo cáo tài chính số 7
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

18

Chính phủ nước ta chủ yếu là vay nợ song phương, nhiều nhất là từ Nhật Bản, chiếm
34.2% dư nợ (năm 2010). Nợ đa phương thì nước ta chủ yếu vay vốn từ các tổ chức của
Ngân hàng thế giới.

Nguồn: Báo cáo tài chính số 7
Năm 2010, dư nợ tại IDA (Hiệp hội phát triển quốc tế) của nước ta là 6.9 tỷ USD,
chiếm 24.9%, tại ADB (Ngân hàng phát triển châu Á) là 4.2 tỷ USD, chiếm 15%. Năm
2010 cũng là năm đầu tiên nước ta vay vốn tại IBRD (Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và
Phát triển) với 0.7 tỷ USD. Bên cạnh đó, số nợ với những đơn vị nắm giữ trái phiếu Việt
Năm năm 2010 đã tăng lên hơn 2 tỷ USD so với hơn 1 tỷ USD của năm 2009.

Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

19 Nguồn: Báo cáo tài chính số 7

Trong cơ cấu nợ nước ngoài, nợ của khu vực công chiếm phần lớn và chiếm tới 31.1%
GDP 2010.
Nghĩa vụ trả nợ so với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ n ăm 2010 là 3.4%, cũng thấp
hơn nhiều so với tiêu chuẩn WB.
Dự trữ ngoại hối năm 2010 chỉ bằng 187% tổng dư nợ ngắn hạn. Trong khi đó, con số
này của năm 2009 là 290%, năm 2008 la 2.808% và năm 2007 lên tới 10.177%.

Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam


lượng, sắt thép, xi măng sau sự kiện Liên xô cắt các khoản viện trợ cho Việt Nam. Để
Vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

23

đối phó với tình hình này, chính phủ đã tập trung nguồn vốn vay nước ngoài để đầu tư
phát triển những ngành công nghiệp cơ bản thông qua các doanh nghiệp nhà nước nhằm
tháo gỡ những điểm “thắt nút” trong nền kinh tế, tạo ra các đầu vào thiết yếu phục vụ các
ngành khác phát triển.
 Vốn vay từ nước ngoài có khả năng kích thích đầu tư của các thành phần kinh tế
khác.
Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các thành phần kinh tế khác giảm tốc độ tăng
trưởng đầu tư thì nguồn vay nợ nước ngoài được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước để
đầu tư phát triển đã có vai trò ngày càng lớn và có tác dụng kích thích các thành phần
khác tăng đầu tư trở lại. Đầu tư nhà nước có điều kiện phát triển, góp phần tăng nhu cầu
tiêu thụ nhiều loại sản phẩm đang tồn đọng trong nền kinh tế, mở ra khả năng mới để sản
xuất tiếp tục phát triển. Mặt khác, kích cầu đầu tư của các thành phần kinh tế khác vì đầu
tư nhà nước có điều kiện tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng đã tạo thuận lợi cho việc
đầu tư của các thành phần kinh tế khác.
Mặt khác, các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với lượng vốn nhỏ như Việt Nam sẽ
có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với nền kinh tế phát triển. Đó là
lý do mà các nước đang phát triển trở thành những điểm nóng hấp dẫn đầu tư của các nhà
đầu tư nước ngoài đặc biệt từ các nước phát triển, và các nước đang phát triển luôn quan
tâm, có những chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư mở cửa để thu
hút nguồn vốn nước ngoài. Từ đó giúp gia tăng đầu tư, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng
trong nước, kích thích tăng trưởng kinh tế.
1.2 Cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư của nhà nước
Những vốn vay nước ngoài (hầu hết là vốn ODA) được đưa vào đầu tư nhà nước,
trước hết là nguồn vốn đầu tư công cộng, đã và đang là nguồn chủ yếu tạo ra sự phát triển
dài hạn của nền kinh tế.

Bên cạnh những tác động tích cực thì nợ nước ngoài cũng mang lại những mặt tác
động tiêu cực, những nguy cơ rủi ro cho nền kinh tế Việt Nam.
2.1 Lấn áp một số phương diện kinh tế
Trong một số nghiên cứu chỉ ra rằng nợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế, dịch vụ nợ cao gây ra hiện tượng lấn áp đầu tư tư nhân, đầu tư trong nước
và hoạt động xuất khẩu có đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của các nước đang
phát triển.

Trích đoạn Công khai, minh bạch trong quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status