Đề tài: Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza - Pdf 12

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme
cellulase từ aspergillus niger và
aspergillus oryza
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
Contents
Contents 2
Phần I 4
MỞ ĐẦU 4
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ 5
Hiện nay, phần lớn nguời dân Việt Nam sống nhờ nghề nông, họ phát triển mạnh nghề trồng trọt
và tạo ra một khối lượng khổng lồ phế phụ phẩm của trồng trọt. Người dân đã tận dụng nguồn
phế phụ phẩm để chế biến thức ăn chăn nuôi nhằm tiết kiệm nguồn nguyên liệu đầu vào, từ
những gì bỏ đi của ngành trồng trọt như bột khoai mì, lõi bắp, cám trấu,…tận dụng làm thức ăn
trong ngành chăn nuôi. Mà phần lớn nguồn thức ăn này có hàm lượng chất xơ rất cao, khi vật
nuôi ăn tiêu hóa rất chậm và nguồn dinh dưỡng rất thấp, vật nuôi phát triển chậm, năng suất thấp.
5
Vấn đề đã đặt ra, con người đã tìm hiểu và nghiên cứu các loài vi sinh vật có khả năng sinh các
enzyme có khả năng phân giải hàm lượng chất xơ này. Dùng các phế phụ phẩm làm môi trường
lên men, tách chiết enzyme, thu chế phẩm thô và bổ sung vào thức ăn chăn nuôi giúp vật nuôi
tiêu hóa chất sơ tốt hơn để tăng năng suất vật nuôi đồng thời làm bớt uổng phí các phế phụ phẩm
của trồng trọt, tận dụng nó để thu thêm lợi nhuận về kinh tế trong ngành chăn nuôi 5
1.2. MỤC ĐÍCH- PHẠM VI ỨNG DỤNG 5
1.2.1. Mục đích 5
1.2.2. Phạm vi ứng dụng 6
Trong phạm vi phòng thí nghiệm 6
Khi phát triển rộng ứng dụng trong nghiên cứu các chế phẩm vi sinh bổ sung vào thức ăn chăn
nuôi 6
1.3. Ý nghĩa 6
Trong chế biến thức ăn chăn nuôi, thành phần thức ăn chứa một hàm lượng lớn chất xơ-cellulase.

MỞ ĐẦU
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, phần lớn nguời dân Việt Nam sống nhờ nghề nông, họ phát triển mạnh
nghề trồng trọt và tạo ra một khối lượng khổng lồ phế phụ phẩm của trồng trọt. Người
dân đã tận dụng nguồn phế phụ phẩm để chế biến thức ăn chăn nuôi nhằm tiết kiệm
nguồn nguyên liệu đầu vào, từ những gì bỏ đi của ngành trồng trọt như bột khoai mì, lõi
bắp, cám trấu,…tận dụng làm thức ăn trong ngành chăn nuôi. Mà phần lớn nguồn thức ăn
này có hàm lượng chất xơ rất cao, khi vật nuôi ăn tiêu hóa rất chậm và nguồn dinh dưỡng
rất thấp, vật nuôi phát triển chậm, năng suất thấp.
Vấn đề đã đặt ra, con người đã tìm hiểu và nghiên cứu các loài vi sinh vật có khả
năng sinh các enzyme có khả năng phân giải hàm lượng chất xơ này. Dùng các phế phụ
phẩm làm môi trường lên men, tách chiết enzyme, thu chế phẩm thô và bổ sung vào thức
ăn chăn nuôi giúp vật nuôi tiêu hóa chất sơ tốt hơn để tăng năng suất vật nuôi đồng thời
làm bớt uổng phí các phế phụ phẩm của trồng trọt, tận dụng nó để thu thêm lợi nhuận về
kinh tế trong ngành chăn nuôi.
Một trong những loại enzyme có vai trò đóng góp vào cải thiện vật nuôi cho ngành
chăn nuôi. Enzyme cellulase được thu nhận từ nguồn nấm mốc Aspergilus Nigier,
Aspergilus Oryzae, là một enzyme được trộn vào thức ăn cho vật nuôi, nhằm kích thích
gia súc, gia cầm hấp thụ thức ăn, tiêu hóa tốt, tăng năng xuất vật nuôi.
Chính vì vậy ngày nay có rất nhiều các nghiên cứu tìm ra các enzyme có ích để bổ
sung vào thức ăn chăn nuôi cho vật nuôi
Nghiên cứu và khảo sát các điều kiện thuận lợi sao cho khả năng sinh enzyme là
nhiều nhất. Đó là việc rất có giá trị
Khả năng sinh enzyme cellulose của nấm mốc Nigier, Aspergilus Oryzae, ở điều
kiện như thế nào là thích hợp nhất.
1.2. MỤC ĐÍCH- PHẠM VI ỨNG DỤNG

1.5. Kết quả dự kiến
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
Tìm ra những điều kiện cơ chất, pH, môi trường lên men cho 2 loại nấm mốc
Aspergilus Niger, Aspergilus Oryzae sinh enzyme cellulase nhiều nhất.
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
2.1. TỔNG QUAN VỀ NƠI THỰC TẬP
2.1.1. Địa điểm
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền
Nam
Địa chỉ: 121, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1,
TPHCM
Tel: 08.8291746 – 8297889 – 8228371 Fax:
08.8297650
Email: -
Website:
2.1.2. Lịch sử hình thành
Viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Miền Nam (KHKTNNMN) hiện nay tiền thân
là Viện Khảo cứu Nông Nghiệp Đông Dương thành lập năm 1925.
Từ năm 1956 đến 1975 Viện có tên gọi mới là Viện Khảo Cứu Nông Lâm Súc với
những hoạt động chính vẫn tập chung vào nghiên cứu các nhóm cây công nghiệp có giá
trị.
Từ năm 1975 Viện có tên là Viện KHKTNNMN.

Trung tâm nghiên cứu
thực nghiệm Nông
nghiệp Đồng Tháp
Mười
Trung tâm nghiên cứu
và huấn luyện Chăn
Nuôi Gia Súc Lớn
P. Ngiên cứu Cây
Thực Phẩm
P. Nghiên cứu Bắp
P. Nghiên cứu Điều
và Hồ Tiêu
P. Nghiên cứu Tiểu
Gia Súc
Trung tâm nghiên cứu
và huấn luyện Chăn
Nuôi Bình Thắng
Trung tâm chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật Nông
Nghiệp
Trung tâm nghiên cứu
Khoai tây, Rau và Hoa
Trung tâm nghiên cứu
và Phát Triển Mía
Đường
P. Nghiên cứu Hệ
Thống Nông
Nghiệp
P. Nghiên cứu Đại
Gia Súc

với từng vùng sinh thái đã góp phần giải quyết những khó khăn về lương thực, ổn định
đời sống xã hội vào những năm đầu sau giải phóng. Trong đó, việc nghiên cứu phòng trừ
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
rầy nâu hại lúa và chọn tạo ra những giống lúa kháng sâu bệnh đã có ý nghĩa hết sức to
lớn.
Những nghiên cứu đã được Hội đồng Khoa học Bộ nông Nghiệp công nhận và cho
phép phổ biến.
- Về trồng trọt: giống lúa cạn, giống Bắp lai, giống Đậu xanh, hạt Điều mới,
giống rau, cải ngọt, ớt…
- Về chăn nuôi: giống heo Yorkshire thuần chủng, Thuộc Nhiêu, Heo lai tỷ lệ
cao, giống gà thả vườn…
- Những giống bò sữa ở Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
- Những công thức phối hợp khẩu phần ăn cho chăn nuôi công nghiệp.
Với những cống hiến liên tục trong 30 năm qua của Viện (1975 – 2005), Đảng và
Nhà Nước đã trao tặng Viện KHKTNNMN Huân Chương Độc Lập Hạng II.
Năm 2005 Viện được trao tặng 2 giải thưởng Khoa Học cấp nhà nước là chọn tạo
giống lúa ĐB VND95-20.
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ NẤM MỐC
2.2.1.1. Lịch sử
Nấm mốc (fungus, mushroom) là vi sinh vật chân hạch, ở thể tản (thalophyte), tế bào
không có diệp lục tố, sống dị dưỡng (hoại sinh, ký sinh, cộng sinh), vách tế bào cấu tạo
chủ yếu là chitin, có hay không có celuloz và một số thành phần khác có hàm lượng thấp.
Nấm học (Mycology) được khai sinh bỡi nhà thực vật học người Ý tên là Pier Antonio
Micheli (1729) qua tài liệu công bố “giống cây lạ” (Nova Plantarum Genera) nhưng theo
Giáo sư Ekriksson Gunnan (1978) thì người có công nghiên cứu sâu về nấm mốc lại là
Elias Fries (1794 - 1874). Theo Elizabeth Tootyll (1984) nấm mốc có khoảng 5.100 giống

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
Chi nấm l 2 3 4 5 6
Thành phần thành tế bào
Glucan 16 54 0 43 29 6
Cellulose - 36 0 0 0 0
Chitine 58 0 9 19 1 10
Chitosan - 10 33 - 0 -
Mannan - <1 2 2 31 <3
Protein 10 5 6 11 13 7
Lipid - 3 8 5 9 3
Chú thích:
1- Allomyces
2- Phytophthora
3- Mucor
4- Aspergillus
5- Saccharomyces
6- Schizophyllum
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
2.2.1.4. Vị trí và vai trò chung của nấm mốc
Nấm mốc có ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người một cách trực tiếp bằng cách
làm hư hỏng, giảm phẩm chất lương thực, thực phẩm trước và sau thu hoạch, trongchế
biến, bảo quản. Nấm mốc còn gây hư hại vật dụng, quần áo hay gây bệnh cho người,
động vật khác và cây trồng. Tuy nhiên, các qui trình chế biến thực phẩm có liên quan đến
lên men đều cần đến sự có mặt của vi sinh vật trong đó có nấm mốc. Nấm mốc cũng giúp
tổng hợp những loại kháng sinh (penicillin, griseofulvin), acit hữu cơ (acit oxalic, citric,
gluconic ), vitamin (nhóm B, riboflavin), kích thích tố (gibberellin, auxin, cytokinin),

cũng bị loại trừ nhanh chóng nhờ hệ miễn dịch ở trên những người khỏe mạnh.
Aspergillosis là một nhóm bệnh từ hệ quả nhiễm Aspergillus spp. gồm dạng bệnh
Asperrgillus thể xâm nhập (invasive aspergillosis), ABPA và u nấm (aspergilloma). Một
số bệnh nhân hen phế quản có thể trở nặng do nhiễm nấm này. Thường nấm tồn tại trong
không khí, không gây thành bệnh, nhưng khi cơ thể suy giảm miễn dịch như mắc các
bệnh ung thư bạch cầu, bệnh nhân đang dùng corticosteroides, bệnh nhân có ghép tạng,
xơ hóa nang, HIV/AIDS, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lao, bệnh u hạt mạn tính, hen
nặng và cơ địa mẫn cảm với nấm.
Phân loại học nấm thuộc giới Fungi, ngành Ascomycota, bộ Eurotiales, họ
Trichocomaceae, giống Aspergillus. Canh thang nuôi cấy nấm A. fumigatus được lựa
chọn
Một số indolic alkaloids với đặc tính chống nguyên phân (anti-mitotic) đã được nhận
biết. Những hợp chất thích hợp được phân loại là tryprostatins, với spirotryprostatin B.
Aspergillus là loại nấm có hình giống sợi, có mặt khắp nơi trong tự nhiên. Chúng thường
phân lập thấy trong đất, mảnh vụn cây cỏ, môi trường trong và ngoài nhà. Giống
Aspergillus gồm hơn 185 loài, khoảng 20 loài đã được báo cáo như là tác nhân gây ra các
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
nhiễm trùng cơ hội ở người. Trong số này, Aspergillus fumigatus là loài được phân lập
phổ biến nhất, tiếp theo là Aspergillus flavus và Aspergillus niger. Nhóm Aspergillus
clavatus, Aspergillus glaucus, Aspergillus nidulans, Aspergillus oryzae, Aspergillus
terreus, Aspergillus ustus và Aspergillus versicolor là những loài khác mà khi phân lập ít
gặp hơn và ít nhận ra là đóng vai trò trong các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
2.2.2.1. Đặc điểm đại thể (Marcoscopic featues)
Đặc điểm đại thể chính trong các loài nấm này là các chỉ điểm như tỷ lệ phát triển
của nấm, màu sắc, khuẩn lạc và sự dung nạp với nhiệt độ. Ngoại trừ Aspergillus nidulans
và Aspergillus glaucus, tỷ lệ phát triển là từ nhanh đến trung bình. Trong khi Aspergillus
nidulans và Aspergillus glaucus phát triển chậm và đạt đến kích cỡ khuẩn lạc 0.5-1cm sau

một bộ phận tròn, dính liền với nang nấm, mang các bào tử nấm. Các nang nấm lan rộng
ra xung quanh khi dạng cầu vỡ ra. Dạng cầu được sinh ra trong giai đoạn sinh sản hữu
tính của một vài loài Aspergillus. Bào tử đính bên là một loại bào tử đính hay hạt đính
(conidium) được sinh ra bởi sự ly giải tế bào nâng đỡ nó. Chân nấm thường cắt cụt và
mang cái mảnh còn lại của các tế bào ly giải. Các tế bào Hulle là các tế bào lớn vô trùng
mang ruột nhỏ. Tương tự như dạng cầu, nó gắn với giai đoạn hữu tính của một vài loài
Aspergillus.
2.2.3. GIỚI THIỆU VỀ CHỦNG NẤM MỐC ASPERGILLUS NIGER
2.2.3.1. Phân loại
Sinh giới: Eukaryote
Giới: Fungi
Ngành: Ascomycota
Ngành phụ:Pezizomycotina
Lớp: Ascomycetes
Bộ: Plectascales
Họ: Aspergillaceae
Giống: Aspergillus
Loài: Aspergilus Niger
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
1.a Thể bình hai tầng
2.a Khuẩn lạc (bông) trên môi trường thạch czapeck nhìn mắt thường có màu đen
như than.
3.a Conidi trưởng thành có đường kính 6-10µm.
A. carbonarius (Bainier) Thom
3.b Conidi trưởng thành có đường kính 5,0 µm trở xuống
4.a Cuống conidi không quá 4mm chiều dài
5.a Khuẩn lạc lan rộng nhanh chóng trên thạch czapeck

Batista và Mais
5.b Conidi chín xù xì nhẹ không đều
6.a Bông nói chung nhỏ, khi già trên thạch mạch nha tách ra thành khá nhiều cột dày
đặc phân kì
A foetidus (Naka)
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
Thom và Raper
6.b Bông to, cột ít không rõ rệt trên thạch mạch nha
7.a Nền hệ sợi trên thạch mạch nha không có màu hoặc chỉ hơi vàng
A foetidus (Naka)
T và R.var.acidus N,S, và W
1b Thể hai tầng
2.a Conidi hình cầu đến gần cầu, có gai rõ, bọng thường 20-35µm nhưng có thể từ
15-45µm
2.b Conidi gần cầu elip rõ,bọng thường đến 60-80µm, có thể từ 35-100µm
A .aculeatus Lizuca
2.2.3.2. Cấu trúc vi thể
Bào tử dính dài trơn không màu hay nâu, thể bình 2 đáy, túi nấm tròn đầu xòe
2.2.3.3. Hình thái
Xác định tên nấm mốc
Tên nấm mốc Đặc điểm đại thể Đặc điểm vi thể
A.niger
Khóm nấm mốc có đường
kính 4 ¸ 5 cm trên thạch
Czapek sau 5 ngày. Khóm
nấm mốc màu đen hoặc
nâu đen lấm tấm như bã

Ở A.niger cơ quan sinh sản có dạng như hoa cúc nên được gọi là “nấm cúc”. Cuống
bào tử trơn nhẵn, trong suốt hoặc nâu nhạt, cuống bào tử có phần phình to rõ rệt ở đầu,
tạo thành bọng lớn dạng hình cầu thường được gọi là bọng đỉnh giá hình cầu(vesicle), trên
có mọc lên những thể bình là cơ quan tạo bào tử đính (conidi) và từ ngọn thể bình sinh ra
các chuỗi bào tử đính (conidia).
2.2.3.4. Đặc điểm sinh lý
Loại Aspergillus niger phân bố nhiều trong tự nhiên, trong đất, ở xác bã thực vật,
hoa quả và đặc biệt có nhiều ở vùng khí hậu ấm áp.
Chúng là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khả năng
quang hợp tạo chất hưu cơ mà sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn qua
bề mặt khuẩn ty.
2.2.3.5. Đặc điểm sinh hóa
Khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau
A.niger đồng hóa tốt các loại đường như glucose, fructose, saccharose, mannose. Đối
với đường sorbose, galactose, A.niger đồng hóa ở mức khá tốt, còn đường lactose thì
đồng hóa ở mức trung bình.
Nguồn dinh dưỡng nitơ
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
A.niger có khả năng sử dụng ure làm nguồn N và chất điều chỉnh pH, duới tác dụng
của enzyme urease, ure phân hủy thành CO
2
và NH
3
. A.niger đồng hóa các muối amon.
Việc sử dụng nguồn N hữu cơ, urease và các muói amon đều gắn liền với việc tách NH
3
ra

Trong chăn nuôi, ứng dung lên men thu enzyme bổ sung vào thức ăn chăn nuôi giúp
vật nuôi tăng khả năng tiêu hóa, tăng sức đề kháng, cải thiện năng suất vật nuôi giúp vật
nuôi phát triển tốt hơn, tăng trọng nhanh hơn tăng lợi nhuận kinh tế,…
2.2.4. GIỚI THIỆU VỀ CHỦNG NẤM MỐC ASPERGILLUS ORYZAE
Asp. oryzae là một loại nấm vi thể thuộc bộ Plectascales, lớp Ascomycetes (nang
khuẩn ). Cơ thể sinh trưởng của nó là một hệ sợi bao gồm những sợi rất mảnh, chiều
ngang 5-7 µm, phân nhánh rất nhiều và có vách ngang , chia sợi thành nhiều bao tế bào
(nấm đa bào ). Từ những sợi nằm ngang này hình thành những sợi đứng thằng gọi là
cuống đính bào tử, ở đó có cơ quan sinh sản vô tính. Cuống đính bào tử của Asp.oryzae
thường dài 1-2 mm nên có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Phía đầu cuống đính bào tử
phồng lên gọi là bọng. Từ bọng này phân chia thành những tế bào nhỏ, thuôn, dài, gọi là
những tế bào hình chai. Đầu các tế bào hình chai phân chia thành những bào tử đính vào
nhau, nên gọi là đính bào tử. Đính bào tử của Asp.oryzae có màu vàng lục hay màu vàng
hoa cau…
Đặc điểm của giống Asp.oryzae giàu các enzyme thủy phân nội bào và ngoại bào
(amylase, protease, pectinasa,… ), ta rất hay gặp chúng ở các kho nguyên liệu, trong các
thùng chứa đựng bột, gạo… đã hết nhưng không được rửa sạch, ở cặn bã bia, bã rượu, ở
lỏi ngô, ở bã sắn… Chúng mọc và phát triển có khi thành lớp mốc, có màu sắc đen,
vàng… Màu do các bào tử già có màu sắc. Các bào tử này, dễ bị gió cuốn bay xa và rơi
vào đâu khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ mọc thành mốc mới.
2.2.4.1. Phân loại
Sinh giới: Eukaryote
Giới: Fungi
Ngành: Ascomycota
Ngành phụ: Pezizomycotina
Lớp: Ascomycetes
Bộ: Plectascales
Họ: Aspergillaceae
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 22

GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Khảo sát khả năng sinh enzyme cellulase từ aspergillus niger và aspergillus oryza
Trong cơ thể sống ( các tế bào ) luôn luôn xảy ra quá trình trao đổi chất. Sự trao đổi
chất ngừng thì sự sống không còn tồn tại. Quá trình tro đổi chất của một chất là tập hợp
các quy luật của rất nhiều các phản ứng hóa học khác nhau. Các phản ứng hóa học phức
tạp này có liên quan chặt chẽ với nhau và điều chỉnh lẫn nhau. Enzyme là các hợp chất
protein xúc tác cho các phản ứng hóa học đó. Chúng có khả năng xúc tác đặc hiệu các
phản ứng hóa học nhất định và đảm bảo cho các phản ứng xảy ra theo một chiều hướng
nhất định với tốc độ nhịp nhàng trong cơ thể sống.
Chúng có trong hầu hết các loại tế bào củ cơ thể sống. Chính do những tác nhân xúc
tác có nguồn gốc sinh học nên enzyme còn được gọi là các chất xúc tác sinh học
(biocatalysators ) nhằm để phân biệt với các chất xúc tác hóa học.
Enzyme học là khoa học nghiên cứu những chất xúc tác sinh học có bản chất
protein. Hay nói cách khác enzyme học là khoa học nghiên cứu tính chất chung, điều kiện
và tính đặc hiệu của các enzyme.
2.2.5.2. Lịch sử hình thành và phát triển enzyme
Enzyme đã được sử dụng rất lâu. Khoảng 5.000 năm trước công nguyên ở jerico,
người ta đã biết đến kỹ thuật làm bánh mì. Trong thành cổ Babylon, rượu vang là thứ
nước uống được mọi người ưa thích trong quá khứ…Nướng bánh mì, nấu rượu vang, sản
xuất dấm, tương, chao,…ở các mức độ khác nhau, là những quá trình sinh học xưa nhất
trong lịch sử phát triển văn minh nhân loại.
Quan sát đầu tiên về quá trình phân rã xúc tác bởi enzyme được thực hiện bởi
Spallaazani (1729-1799). Năm 1815 Kirchhoff phát hiện thấy ở mầm đại mạch có chứa
protein làm tan tinh bột. Năm 1833 Payen và Persoz đã đặt tên cho dịch này là diastase
(tiếng hy lạp có nghĩa là tách rời ). Vào 1857 Pasteur chứng minh rằng quá trình lên men
do nấm men thực hiện.
Kuhne vào năm 1878 đặt tên là enzyme ( theo tiếng hy lạp có nghĩa là bột chua –
sourdough). Năm 1879 Buchner đã chứng minh là dịch chiết tế bào nấm men cũng có khả

chất, dược phẩm và xử lý môi trường
Các phương pháp của công nghệ enzyme đang có xu thế thay thế phương pháp hóa
học truyền thống.
Ngày nay công nghệ enzyme phát triển theo hướng:
GVHD: LÊ HOÀNG BẢO VI
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status