Khảo sát khả năng sinh trưởng, tái sinh và năng suất của một số loại cây thức ăn cho trâu bò trong vụ đông xuân tại vùng dự án ACIAR xã tà hộc huyện mai sơn tỉnh sơn la - Pdf 13

MỤC LỤC


4
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Mai Sơn nằm trong toạ độ, từ 20
0
52'30” đến 21
0
20'50” vĩ độ bắc; từ
103
0
41'30” đến 104
0
16' kinh độ đông.
-Phía Bắc giáp Thuận Châu, thị xã Sơn La và Mường La.
-Phía Đông giáp Bắc Yên, Yên Châu.
- Phía Tây giáp huyện Sông Mã.
-Phía Nam giáp tỉnh Hủa Phăn của Lào với đường biên giới dài 8 km.
1.1.1.2. Tình hình chung
Tà Hộc là một xã vùng II của của huyện Mai Sơn, chủ yếu là đồi núi,
có 15km sông Đà chảy qua, cách trung tâm huyện 30km. Tổng diện tích tự
nhiên là 8.237,5ha. Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 2.779ha.
- Đất rừng và đất lâm nghiệp: 5.799,96ha.
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 3,3ha.
- Đất thổ cư: 22ha.

b. Thủy văn
Nguồn nước: Tà Hộc - huyện Mai Sơn có một nhánh sông Đà chảy
qua, nhưng chỉ qua vành đai xã. Xã có vài con suối nhỏ nhưng ở rất xa làm
cho công tác thủy lợi gặp khó khăn, đặc biệt là các bản ở trên đồi cao của
xã thường thiếu nước vào mùa khô. Vì vậy dễ phát sinh bệnh tật và lây lan
mầm bệnh.
1.1.1.4. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Cây sắn gieo trồng được: 129ha, chỉ tiêu đầu năm là:100 ha, vượt chỉ
tiêu kế hoạch giao đầu năm là: 29ha.
Cây ngô gieo trồng được: 1.184ha, chỉ tiêu đầu năm là: 98 % kế hoạch.
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trong toàn xã là: 5.799,96 ha đã
giao cho các tổ chức trong bản, quản lý bảo vệ tốt. Công tác khoanh nuôi bảo
vệ rừng theo vốn sự nghiệp kiểm lâm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
năm 2011 là: 1.944,16 ha.
1.1.1.5. Tình hình sản xuất chăn nuôi Tà Hộc
Trong 6 tháng đầu năm 2012 phát triển đàn trâu: 620 con, đạt: 109 %
kế hoạch, vượt chỉ tiêu giao đầu năm 0.9%. Đàn bò: 1.095 con, đạt: 93% kế
hoạch. Đàn ngựa: 37 con, đạt: 50 kế hoạch. Dê: 1.192 con, đạt: 116% kế
hoạch, vượt chỉ tiêu giao đầu năm 16%, đàn lợn 1.094 con, đạt: 43% kế
hoạch. Gia cầm: 14.750 con, đạt 112% kế hoạch, vượt chỉ tiêu giao đầu
năm 12%.
5
6
1.1.1.6. Mô tả phương thức chăn nuôi trâu bò tại Tà Hộc
Qua điều tra 2 bản của xã Tà Hộc về chăn nuôi bò có đặc điểm địa hình
và cách thức nuôi dưỡng có sự khác biệt. Những đặc điểm khác biệt này có
thể là do tập quán chăn nuôi của 2 nhóm dân tộc Thái và Mông, do điều kiện
địa hình, đất đai, …
Các hộ gia đình tại Bản Hộc chủ yếu là dân tộc Thái, các hộ sống tập
trung chủ yếu thành các khu vực địa lý nhỏ (5 - 10 hộ). Hầu hết các hộ đều có

Đối với Bản Pá Nó A là điển hình cho các thôn bản vùng cao, các hộ
gia đình ở đây thuộc nhóm dân tộc Mông nên các thức nuôi dưỡng và quản
lý đàn bò có khác so với Bản Hộc. Các hộ dân ở đây chủ yếu là hộ trước đây
di chuyển chỗ ở từ trên núi xuống gần đường đi lại. Hiện tại các hộ gia đình
này canh tác vẫn trên nương ngô cách nhà 4-5km tại các đỉnh đồi, núi cao.
Bò được nuôi hầu hết trên đồi, tại lán chăn nuôi, không có chuồng trại mà
chỉ có các lán che mưa gió tạm bợ, thậm chí là buộc ngoài trời, khi có mưa
hoặc rét quá thì mới cho vào gầm nhà tránh mưa rét. Ban ngày bò được chăn
thả tại các khu vực đồi, rừng gần nương ngô dưới sự giám sát của các hộ.
Buổi tối bò tự về hoặc được đưa về khu vực lán của gia đình quản lý. Theo
điều tra thì việc trồng cỏ chăn bò tại bản gần như là không có, vì mọi người
chỉ trồng rau ở vườn chứ không có trồng cỏ. Nếu trồng ở trên nương thì sẽ bị
bò phá hết, vì sau khi thu hoạch ngô vào tháng 10 và tháng 11 thì bò sẽ được
thả trên nương, vài ngày mới đi tìm và kiểm tra tình hình bò. Vào mùa đông
bò được thả tự do kiếm ăn cho đến tháng 3. Tháng 4 thì bò đực cày thường
được bổ sung vỏ bắp ngô, cây chuối, cám ngô hoặc cắt cỏ rừng cho ăn. Công
tác thú y ở đây hầu như chưa được thực hiện vì địa bàn vùng cao đi lại rất
khó khăn và ý thức của người dân chưa quan tâm nhiều. Tuy nhiên, dịch
bệnh ít gặp vì mật độ nuôi ít, người Mông cũng quan tâm và có nhiều kỹ
thuật quản lý và chăm sóc tốt.
Do xa trung tâm và địa hình khó khăn nên việc đi lại rất bất tiện. Hiện
nay, trong 2 bản đều chưa có cửa hàng bán thuốc thú y. Khi bò bị bệnh đa số
mọi người đều tự mua thuốc về tiêm hoặc nhờ người khác tiêm. Rất nhiều hộ
còn dự trữ thuốc thú y trong nhà, khi bò bị bệnh thì mang ra tiêm.
1.1.1.7. Kết quả điều tra nông hộ chăn nuôi trâu bò
- Kết quả điều tra tại địa bàn hai thôn là Bản Hộc và Bản Pá Nó A của
xã Tà Hộc huyện Mai Sơn cho thấy, tổng số hộ điều tra là 47 hộ gia đình với
37/47 là chủ hộ và 39/47 người được phỏng vấn là nam giới. Kinh tế hộ cũng
chủ yếu là trung bình và nghèo (44,68%; 38,3%).
7

con/hộ và 97,87% hộ nuôi bò với trung bình mỗi hộ có 3,28 bò trưởng thành
và 1,81 con bê/hộ. Số gia súc khác (dê, lợn và gà) được một số hộ gia đình
nuôi (63,83%-70,2%) với số lượng không nhiều. Số đầu lợn và đầu dê trung
bình của hộ là 4,9 và 4,7 con/hộ và gia cầm 18,7 con/hộ.
- Qua kết quả điều tra ta thấy số lượng trâu có xu hướng giảm xuống
qua các năm 57 con (năm 2008) xuống còn 47 con (năm 2010), nguyên nhân
một phần vì chết do rét, nguyên nhân khác là hiệu quả kinh tế từ nuôi trâu rất
8
9
thấp. Đàn bò có xu hướng tăng đàn chậm và duy trì ổn định số lượng 231 con
năm 2010. Điều này cho thấy diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp, người
dân không thể tăng thêm đầu gia súc mà có xu hướng duy trì số lượng nuôi
nhằm mục đích bán và lấy sức kéo hàng năm. Tỷ lệ bò bị chết do các nguyên
nhân rét, bệnh tật hoặc ngã rơi có xu hướng giảm dần theo các năm.
- Về cơ cấu đàn bò qua kết quả điều tra ta thấy trong số 227 con bò điều
tra có tỷ lệ bò cái là 53,74%. Bò trưởng thành (>12 tháng tuổi trở lên) chiếm
phần lớn 90,31%. Về độ tuổi trung bình của các bò nuôi tại khu vực điều tra
trên 4 năm tuổi (50,16 tháng). Mục đích duy trì đàn bò chủ yếu là phục vụ
sinh sản (53,3%) và khai thác sức kéo (46,26%), một phần nhỏ nuôi với mục
đích để bán, nguồn gốc bò chủ yếu do bò cái gia đình nuôi sinh sản (76,21%)
một phần nhỏ do mua về nuôi.
- Tình hình sử dụng thức ăn cho bò của các hộ chăn nuôi ta thấy các hộ
sử dụng nhiều nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò, trong đó hầu hết các hộ sử
dụng thức ăn phế phụ phẩm trồng trọt (lá ngô, lõi ngô, bẹ ngô…) chiếm
95,74% phần còn lại trồng cỏ để làm thức ăn chủ động chiếm 65,96%. Ngoài
ra các hộ còn kết hợp cả nguồn thức ăn là cỏ tự nhiên và bổ sung thêm thức
ăn tinh mà chủ yếu là ngô và sắn.
- Tình hình phân bố thức ăn xanh cho thấy thức ăn thiếu chủ yếu tập
trung và các tháng cuối mùa khô và đầu mùa mưa từ tháng 1- 4, ứng với đó
thể trạng của bò cũng rất kém. Ngược lại trong khoảng thời gian từ tháng 6

1.1.2.2. Khó khăn
Tà Hộc là một xã vùng 2 còn nhiều khó khăn, vùng lòng hồ sông Đà
của huyện Mai Sơn. Địa hình là đồi núi cao, suối sâu, độ dốc lớn, đường xá
liên bản đi lại khó khăn cách trở, nhất là về mùa mưa lũ. Trình độ dân trí còn
thấp, không đồng đều; nền kinh tế xã hội chậm phát triển. Đời sống văn hóa
tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Hơn nữa, xã thường
xuyên phải chịu ảnh hưởng của các cơn bão và các đợt lũ quét gây thiệt hại
nặng nề cho người và của. Diễn biến thời tiết khí hậu bất lợi tạo điều kiện cho
dịch bệnh sinh sôi nảy nở. Giống vật nuôi bản địa có năng suất chưa cao.
Phương thức chăn nuôi về cơ bản vẫn nhỏ lẻ, phân tán trong các nông
hộ, hình thức chăn nuôi truyền thống còn phổ biến; hiệu quả chăn nuôi còn
thấp, năng suất thấp.
Chưa chủ động sản xuất thức ăn công nghiệp tại chỗ; thiếu vốn cho sản
xuất, thiếu cơ sở sản xuất giống vật nuôi quy mô lớn cung cấp con giống cho
10
11
nhu cầu sản xuất của tỉnh. Công tác quản lý nhà nước về giống vật nuôi mới
được tập trung vào đại gia súc, chăn nuôi lợn và một số con khác vẫn còn
lúng túng trong quản lý.
Việc chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả sang trồng cỏ phục vụ chăn
nuôi còn chậm và manh mún.
Hoạt động thú y chưa thực sự hiệu quả vì nhận thức của người dân
chưa cao cũng như điều kiện về giao thông, đi lại khó khăn. Công tác tuyên
truyền triển khai chưa sâu rộng đến tận người chăn nuôi.
1.1.2.3. Phương hướng sản xuất
Trong thời gian gần đây, phương hướng sản xuất của toàn xã là cố gắng
khai thác tối đa mọi nguồn lực để có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn.
Tiếp tục đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm vì đây cũng đã được xác
định là thế mạnh của vùng. Khai thác lợi thế của sông Đà, tận dụng các khe
suối có nước quanh năm để phát triển chăn nuôi.

kinh tế cao.
Vận động nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh, định kỳ tiêm phòng
dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.
Khuyến khích bà con tăng thêm diện tích trồng cỏ để chăn nuôi trâu bò
có hiệu quả.
Tuyên truyền những tiến bộ khoa học và công nghệ mới cho nông dân
và áp dụng vào địa phương.
1.2.1.2. Công tác thú y
Tham gia tiêm phòng dịch bệnh cho vật nuôi.
Chẩn đoán, điều trị bệnh cho vật nuôi.
1.2.2. Phương pháp tiến hành
Tự giác tuân thủ nội quy, quy định của khoa, nhà trường, xã Tà Hộc
trong thời gian thực tập.
Tuân thủ yêu cầu kỹ thuật để thực hiện tốt chuyên đề một cách
nghiêm túc.
Bám sát địa bàn thực tập, không ngại khó khăn gian khổ, trung thực với
công việc.
Mạnh dạn bắt tay vào công việc thực tế, không ngừng học hỏi kinh
nghiệm của nhân dân và các cán bộ thú y cơ sở, qua đó bổ sung kiến thức cho
cá nhân.
12
13
Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến chăn nuôi và thú y để bổ sung kiến
thức phục vụ cho thực tế.
Nắm vững chủ trương, kế hoạch, lịch tiêm phòng hàng năm của vùng
và kết hợp với UBND xã cùng phòng Nông nghiệp và Trạm thú y cơ sở để
tham gia kế hoạch tiêm phòng.
Tìm hiểu tình hình dịch bệnh, qua đó rút ra kinh nghiệm để hướng
dẫn bà con cách phòng chống các bệnh hay xảy ra. Cùng cán bộ thú y tham
gia chữa bệnh cho vật nuôi, vừa tuyên truyền những thành tựu của khoa

để bổ sung dinh dưỡng và dự trữ thức ăn. Đồng thời bổ sung các loại thức ăn
như bột cá, các loại khoáng và vitamin để tăng sức đề kháng trong chăn nuôi.
Ngoài ra, chúng tôi còn hướng dẫn bà con cách vệ sinh chuồng trại để phòng
bệnh cho vật nuôi.
Nhận thấy đất đai ở đây khá nhiều, một số hộ chăn nuôi đã có trồng cỏ
voi để cung cấp thêm cho chăn nuôi trâu bò, cung cấp một lượng thức ăn
không nhỏ cho chúng, đặc biệt là vào mùa khô thiếu thức ăn nên chúng tôi đã
vận động bà con tăng thêm diện tích trồng cỏ, những hộ nào chưa trồng thì
nên trồng cỏ. Qua lời tư vấn của chúng tôi và nhận thấy lợi ích thực tế của
những hộ đã trồng cỏ, rất nhiều hộ đã quyết định trồng thêm cỏ voi để chăn
nuôi trâu bò.
1.2.3.2. Công tác thú y
Với phương châm “phòng bệnh là chính”, để phòng chống dịch bệnh
cho đà gia súc, chúng tôi đã cùng với thú y cơ sở kết hợp với chính quyền địa
phương tổ chức tiêm phòng dịch bệnh cho gia súc vụ Đông năm 2011. Các
loại vaccine được sử dụng là vaccine lở mồm long móng và tụ huyết trùng
cho trâu bò, lợn.
Cùng với công tác phòng bệnh, công tác chẩn đoán và chữa bệnh cho
vật nuôi cũng được tiến hành thường xuyên vì đây chính là công việc rất quan
trọng và cần thiết của người làm công tác thú y. Được sự bảo ban, hướng dẫn
tận tình của cán bộ thú y xã và sự tin tưởng của nhân dân trong xã, tôi đã có
cơ hội làm việc và nâng cao tay nghề cũng như kiến thức thực tế. Trong thời
gian thực tập, chúng tôi đã tiến hành tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh cho
một số gia súc sau:
* Bệnh ở trâu, bò
- Bệnh tụ huyết trùng: Trong thời gian thực tập, chúng tôi gặp một số
trường hợp trâu, bò bị ốm. Qua kiểm tra lâm sàng và hỏi thăm qua chủ nhà,
thấy được trâu, bò có biểu hiện bỏ ăn, ngừng nhai lại, chướng hơi dạ cỏ, dãi
14
15

15
16
Sau khi đã xác định con vật bị giun đũa, chúng tôi đã cho uống thuốc
Mebendazol 10% liều 150mg/kg TT để tẩy giun. Nhắc nhở chủ hộ tăng cường
chăm sóc trâu bò mẹ để tăng lượng sữa cho con bú.
- Ngộ độc sắn: tháng 12 - 1 là thời gian thu hoạch sắn của bà con nên
có rất nhiều sắn tươi cho trâu bò ăn. Nhưng vì không nắm rõ được tác hại khi
cho gia súc ăn sắn tươi nên bà con chủ quan khiến cho nhiều trường hợp gia
súc ngộ độc khi ăn sắn. Triệu chứng của gia súc khi bị ngộ độc sắn là: toàn
thân run rẩy, đi loạng choạng, có cảm giác bồn chồn không yên, không nhai
lại, nước dãi chảy ra, chướng hơi, phân nhão có lẫn ít máu. Đặc biệt khi nghe
chủ nhà nói cho ăn sắn tươi với lượng khá nhiều, chúng tôi kết luận trâu bị
ngộ độc sắn và sử dụng phác đồ điều trị như sau;
Atropin 0,1% 4ml/con
Xanh metylen 1% 1ml/10kg TT
Cafein - Natribenzoate 20% 10ml/con
Vitamin C 5% 30ml/con
Các loại trên tiêm dưới da, sau khoảng 4 giờ thấy con vật tỉnh táo,
nhanh nhẹn hơn. Tuy nhiên, con vật vẫn còn yếu nên chúng tôi nhắc nhở bà
con cần phải chú ý chăm sóc tốt hơn để gia súc nhanh hồi phục.
- Bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ: trong quá trình thực tập, chúng tôi
phát hiện trứng sán lá dạ cỏ và sán lá gan trong phân của một số trâu bò. Xác
định được bệnh, chúng tôi đã dùng thuốc Benzimidazole cho trâu bò bị sán lá
dạ cỏ với liều 12mg/kg TT, cho uống. Còn với bệnh sán lá gan, chúng tôi
dùng các loại thuốc Han - Dertil- B, Fasciolid 25%, Fasinex với liều lượng
như đã quy định trong đề tài.
* Bệnh ở lợn
Bệnh giun đũa lợn: Đây là bệnh điển hình của lợn địa phương này, vì
lợn hầu hết được thả rông cho ăn linh tinh, uống nước bẩn rất mất vệ sinh.
Mọi người cho biết là lợn rất chậm lớn mặc dù cho ăn nhiều. Theo quan sát,

Tình hình chăn nuôi ở đây vẫn chưa được quan tâm đúng mức nên bệnh
dịch xảy ra nhiều. Đa số bà con nhận thức được giá trị kinh tế của đàn trâu bò
nên đã có ý thức trong việc tiêm phòng nhưng vẫn chưa triệt để.
Đàn lợn địa phương còn thả rông nhiều nên rất khó để tiêm phòng, vì
vậy kết quả tiêm phòng trên đàn lợn rất thấp. Do điều kiện đi lại rất khó khăn
nên tôi chỉ được tham gia tiêm phòng ở 5/11 bản, còn những bản xa và đi lại
khó khăn quá thì chúng tôi không được tham gia tiêm phòng.
Tuy kết quả chưa cao do kinh nghiệm của bản thân chưa có nhiều và
tay nghề chưa cao nhưng đó cũng là những thành tích ban đầu trong công tác
của tôi. Có được những kết quả như vậy là nhờ có sự chỉ bảo tận tình của thầy
giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa, sự giúp đỡ của cán bộ thú y xã,
trạm thú y huyện Mai Sơn và sự tin tưởng của bà con trong xã đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đợt thực tập này.
17
18
1.3. Kết luận và kiến nghị
1.3.1. Kết luận
Qua thời gian thực tập, tôi thấy tình hình chăn nuôi và thú y của địa
phương vẫn còn nhiều hạn chế mặc dù theo tôi được biết là trong những năm
gần đây, tập quán chăn nuôi đã được cải thiện nhiều so với trước. Đa số bà
con vẫn còn chăn nuôi kiểu tự nhiên, chưa thực sự chú trọng nhiều đến lợi ích
kinh tế từ việc chăn nuôi. Trâu bò được chăn nuôi theo phương thức bán chăn
thả, lợn cũng được thả rông, dê cũng thả cho tự kiếm ăn. Tuy nhiên, bà con
cũng đã biết dự trữ thức ăn cho mùa đông, trồng cỏ bổ sung cho trâu bò dù số
lượng vẫn còn hạn chế.
Tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp do người dân không chủ
động trong việc phòng chống bệnh. Mặc dù có chương trình hỗ trợ tiêm
phòng định kỳ hằng năm cho gia súc nhưng ý thức và nhận thức của người
dân chưa cao, thêm nữa là do địa hình phức tạp, đi lại rất khó khăn nên việc
tiêm phòng chưa được triệt để.

Tuyên truyền, vận động cho bà con thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh,
thay đổi phương thức chăn nuôi để đạt hiệu quả cao, để chăn nuôi thực sự là
thế mạnh của vùng.
Khuyến khích bà con trồng thêm cỏ để việc chăn nuôi trâu được bò tốt
hơn vì ai cũng đã nhận thức được giá trị kinh tế của trâu, bò nên hiện nay trâu,
bò đang được gia tăng về số lượng, trong khi đó thức ăn cho chúng lại không
đủ và đặc biệt là tình trạng thiếu thức ăn mùa khô.
Vận động bà con đầu tư chuồng trại tốt hơn cho trâu, bò, vừa để thuận
lợi trong việc vệ sinh chuồng trại, vừa để tránh mưa rét cho chúng, giúp giảm
thiệt hại về bệnh tật cũng như chết rét.
19
20
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay nền nông nghiệp Thế Giới cũng như Việt nam
đã có những biến chuyển và phát triển vượt bậc đặc biệt là trong lĩnh vực
chăn nuôi. Đã có rất nhiều nguồn giống vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt
được ra đời đáp ứng nhu cầu của con người. Thế nhưng làm sao để phát triển
chăn nuôi bền vững lại là một câu hỏi lớn cho không chỉ các nhà khoa hoc,
các nhà nghiên cứu mà nó còn là sự mong mỏi của người chăn nuôi trên toàn
thế giới. Vậy hiện nay liệu đã có giải pháp nào để giải quyết vấn đề sản xuất
bền vững trong chăn nuôi?
Trong lĩnh vực phát triển của ngành chăn nuôi ở Việt Nam thì một
trong những lĩnh vực đã và luôn nhận được nhiều sự quan tâm của những
người nghiên cứu, phát triển chăn nuôi đặc biệt là những người kinh doanh
sản xuất trong ngành chăn nuôi đó là chăn nuôi đại gia súc. Chúng ta đã biết
gia súc nhai lại khác với các loại gia súc và vật nuôi khác, chúng sử dụng thức
ăn xanh trong khẩu phần chiếm 60- 100%. Vậy nên việc cung cấp thức ăn
xanh theo nhu cầu vật nuôi là điều hết sức cần thiết nếu thực muốn phát triển

nhiên như: cỏ gà, cỏ chít, cỏ may,
- Nhận xét, phân tích hiệu quả về khả năng sinh trưởng, tái sinh và đặc
biệt năng suất mang lại của cỏ được trồng thí nghiệm trong vùng dự án
ACIAR tại tỉnh Sơn La.
2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, tái sinh và năng suất của một số giống
cỏ tại vùng dự án ACIAR tỉnh Sơn La như: cỏ voi, các loại cây cỏ tự nhiên
như: cỏ gà, cỏ chít, cỏ may,
- Từ kết quả thu được sau nghiên cứu có thể nhân rộng và phát triển tại
các vùng, địa phương khác trong cả nước có điều kiện tương đương về kinh
tế- xã hội- môi trường.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Ý nghĩa của một số cây thức ăn đối với gia súc nhai lại
Ngạn ngữ Phương Tây có câu: “ Không có cỏ thì không có bò, không
có bò thì không có phân, không có phân thì mất mùa”
Nước ta cũng có câu: “Con lợn ăn cám ăn bèo
Trâu ăn cỏ, người nghèo ăn khoai”
21
22
Thực tiễn sản xuất chỉ rõ rằng cỏ là thức ăn tốt nhất cho gia súc nhai
lại. Chúng không những cung cấp cho cơ thể gia súc nhai lại những chất dinh
dưỡng cần thiết mà còn đảm bảo cho bộ máy tiêu hoá (dạ cỏ) hoạt động bình
thường (Phùng Quốc Quảng, 2002) [16].
Chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng
chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ở một số vùng
trung du miền núi thì con trâu vẫn được coi là đầu cơ nghiệp. Không chỉ là
nguồn cung cấp thực phẩm, sức kéo, phân bón mà nó còn được coi là con vật
linh thiêng trong tâm linh của người Việt.
Do cấu tạo đặc biệt của chiếc dạ dày kép mà thức ăn chủ yếu của

22
23
3 3
Cỏ Brizantha
(thuần)
20,8 2,52 0,68 7,0
8
1,96
(Nguồn: Viện chăn nuôi quốc gia, 2001) [22].
Tuy cỏ có nhiều chất dinh dưỡng như vậy nhưng nó lại không làm thức
ăn lí tưởng quan trọng nhất đối với nhiều loài gia súc khác mà nó chỉ quan
trọng nhất đối với trâu bò và một số gia súc nhai lại khác. Đó là do dạ dày có
cấu tạo 4 túi đặc trưng của gia súc nhai lại. Trong đó dạ cỏ chiếm tới hơn 80%
thể tích dạ dày và được coi như là một thùng men lớn. Môi trường dạ cỏ quy
tụ đủ các yếu tố cho sự phát triển của VSV lên men, phân giải, tác động làm
cho những thức ăn thô xơ ít dinh dưỡng kia trở thành phần tử giàu chất dinh
dưỡng, năng lượng cung cấp cho cơ thể động vật nhai lại. Khu hệ VSV này
bao gồm:
Vi khuẩn: 10
9
VK/ 1g chất chứa dạ cỏ.
Protozoa:10
6
protozoa/ 1g chất chứa dạ cỏ.
Ngoài ra còn có một số chủng nấm (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn,
2005) [7].
Vai trò tiêu hoá chất xơ quan trọng nhất là thuộc về vi khuẩn vì chúng
có số lượng lớn. Không những tạo năng lượng từ việc phân giải chất xơ mà
chúng còn có khả năng tổng hợp một số vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B,
K rất cần thiết cho gia súc nhai lại. Ngoài ra trong quá trình sinh tồn của mình

xuân tốt hơn cỏ nhập nội, cỏ thân rễ sinh trưởng và phát triển chậm hơn,
kháng xuân tốt, cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì tính kháng xuân mạnh
và ngược lại.
* Đặc tính sinh trưởng
Theo David W. Pratt (1993) [28] thì tính hiệu quả của cỏ làm biến đổi
năng lượng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận chúng.
Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào những chu kì phát triển
của cây. Các giống cỏ nói chung và cỏ hoà thảo nói riêng, sinh trưởng và tái
sinh trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng và đường mô tả
sinh trưởng của nó có cấu tạo theo đường cong hình sin như sau:
24
25
Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt.
Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): sau khi gieo trồng hoặc sau khi cắt cỏ
hoặc sau khi chăn thả từ 10- 15 ngày.
Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng sinh trưởng hẳn): Sau khi
gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau cắt cỏ khoảng 40- 70 ngày.
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để
chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lí.
Cuối giai đoạn I đầu giai đoạn II: Cần chăm sóc, xới xáo, diệt cỏ dại và
bón thúc phân cho cỏ.
Cuối giai đoạn II đầu giai đoạn III: cần nhanh chóng thu cắt hoặc chăn
thả. Nếu không thu hoạch ngay cỏ sẽ già, ảnh hường đến khả năng tái sinh lần
sau và giảm số lứa cắt cỏ hoặc số lần chăn thả/ năm.
Thời gian thu cắt một số giống cỏ như sau:
Cỏ thân bò vào khoảng 45- 50 ngày sau khi trồng hoặc 35- 45 ngày sau
khi thu cắt. Cỏ thân bụi vào khoảng 60 ngày sau khi trồng hoặc 45- 50 ngày
sau khi cắt hoặc chăn thả lứa trước. ở cỏ thân đứng thì sau khi trồng hoặc sau
khi cắt vào khoảng trên 60 ngày.
* Sức sống của cỏ hoà thảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status