Kiểm tra học phần: Chủ nghĩa tư bản hiện đại - Pdf 12

Họ và tên: NGUYỄN LƯƠNG HÃN – K43 Kinh tế Chính trị.
Mã SV: 09K4031007
Kiểm tra học phần: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI.
Đề: Phân tích đặc trưng cắm nhánh nước ngoài của các công ty xuyên quốc
gia? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với Việt Nam hiện nay?
Bài làm:
1.ĐẶC TRƯNG CẮM NHÁNH CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
(TNC).
1.1. Hình thức cắm nhánh:
Để thực hiện cắm nhánh, các công ty xuyên quốc gia thường sử dụng nhiều
hình thức khác nhau, song chủ yếu là các hình thức sau:
 Hình thức đầu tư 100% vốn
Đây là hình thức cắm nhánh cổ truyền, trong đó các TNC được hoàn toàn tự
chủ trong kinh doanh theo luật đầu tư của nước chủ nhà mà không sợ thất thoát về
bí quyết công nghệ và quản lý hoặc là chia sẻ bạn hàng. Tuy nhiên các TNC phải
chịu sự kiểm soát của nước chủ nhà.
Mặt khác với xí nghiệp 100% vốn của mình, các TNC không tránh khỏi
những khó khăn trong việc khai thông các mối quan hệ với các cơ quan quản lý,
cũng như việc tìm hiểu thị trường nước chủ nhà. Đó là chưa kể đến trường hợp cá
biệt ở một số nước, vấn đề tuyển nhân công cũng gặp rất nhiều khó khăn là do tâm
lý họ không muốn làm thuê cho người nước ngoài, như ở Nhật Bản chẳng hạn.
Chính do một số khó khăn nêu trên nên nhiều công ty xuyên quốc gia đã lựa
chọn hình thức liên doanh.
 Hình thức liên doanh
Đây là một trong những hình thức phổ biến trong giai đoạn hiện nay mà các
TNC đã và đang sử dụng.
Để thực hiện liên doanh, các TNC thường sử dụng một số biện pháp như
tham gia cổ phần đối với xí nghiệp mới xây dựng, lập ra xí nghiệp mới có sự tham
gia của đối tác nước chủ nhà, mà công ty mẹ nắm giữ số cổ phần khống chế, hoặc
mua cổ phiếu của công ty đang hoạt động…
Hiện nay, hình thức liên doanh thường chiếm tỷ trọng lớn (60%- 70%, thậm

tư. Hầu hết các ngành được chuyển dịch sang các nước đang phát triển là những
ngàng đã hao mòn vô hình, giá trị thấp… cũng góp phần làm cho tỷ trọng vốn
giảm đi. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay lĩnh vực cạnh tranh là những ngành
hiện đại, trong khi đó các nước đang phát triển không phải là đối thủ cạnh tranh,
hơn nữa sức tiêu thụ những sản phẩm cao cấp còn rất hạn chế do thu nhập thấp.
Điều đó đã làm thay đổi hướng đầu tư của các TNC.
 Chiến lược đối với các ngành kinh doanh
Từ sau chiến tranh thế giới II đến nay việc đầu tư cắm nhánh của các TNC
có sự thay đổi. Đó là tỷ trọng vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp khai khoáng
có xu hướng giảm. Tuy nhiên mức độ giảm giữa các nước phát triển và đang phát
triển, giữa các TNC của các nước khác nhau không đồng đều. Đối với ngành công
nghiệp chế biến, vốn đầu tư có xu hướng tăng không đều nhau. Còn đối với ngành
dịch vụ, tỷ trọng vốn đầu tư mà các công ty xuyên quốc gia thực hiện thường tăng
nhanh, trung bình tăng 10% ở các nước tư bản phát triển và 20% ở các nước đang
phát triển. Chính xu hướng đầu tư cắm nhánh của các TNC đối với các ngành trên
đã góp phần thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế thế giới trong
những thập kỷ gần đây.
 Chiến lược thôn tính và sáp nhập của các công ty xuyên quốc gia
Cùng với xu hướng trên, các TNC đã thực hiện chiến lược sáp nhập và thôn
tính lẫn nhau. Ngay từ những năm 1970 của thế kỷ XIX, việc sáp nhập các công ty
đã diễn ra rất sớm. Song trong những thập kỷ gần đây, việc thực hiện thôn tính và
sáp nhập biểu hiện khá đậm nét ở hầu hết các công ty xuyên quốc gia, nhất là ở các
nước tư bản phát triển. Chẳng hạn: theo Securitie Data Corp , tổng số vụ sáp nhập
vào năm 1998 đã đạt tới 1.610 tỷ USD, tăng 78% so với năm 1997. Còn vào những
năm 1990 số vụ sáp nhập, thôn tính đạt 908 vụ, bình quân mỗi vụ 86,7 triệu USD.
Hiện nay các vụ sáp nhập có đặc điểm là quy mô rất lớn. Chẳng hạn: số vụ trị giá
trên 1 tỷ USD tăng từ 35 vụ năm 1995 lên 45 vụ năm 1996 và 58 vụ năm 1996 với
tổng giá trị tổng cộng lần lượt là 59 tỷ USD, 86 tỷ USD, 161 tỷ USD và diễn ra
trên tất cả các ngành.
Ngoài ra mỗi công ty xuyên quốc gia còn có những chiến lược riêng của

đầy đủ nguồn gốc của các TNC. Ở Việt Nam sự hoạt động của các công ty xuyên
quốc gia rộ lên kể từ khi Việt Nam ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (tháng
12/1987), kể từ đó đến nay đã có hàng trăm đoàn doanh nghiệp trên khắp thế giới
đã tiếp cận vào thị trường Việt Nam.
Sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam đã đem đến sự khởi sắc
cho nền kinh tế Việt Nam, nhưng bên cạnh đó chúng cũng đem lại một số tác động
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả hoạt động
của các công ty xuyên quốc gia thì trước hết chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu về
các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt đi sâu phân tích về bản chất và vai trò của
chúng. Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam.
TNC có vai trò quan trọng đối với việc phát triển thương mại quốc tế. Ở Việt
Nam hiện nay bên cạnh những tập đoàn phân phối lớn đã có mặt như Metro Cash
& Carry, Bourbon Espace (Big C), Parkson, Dairy Farm, các tập đoàn kinh
doanh bán lẻ hàng đầu thế giới như Wal-mart (Hoa Kỳ), Carrefour (Pháp), Tesco
(Anh), Marko (Hà Lan) đang mở rộng thị trường và thâm nhập ngày càng sâu,
rộng vào thị trường bán lẻ hàng hóa trên thế giới, sẽ sớm có mặt ở thị trường mới
nổi và có sức hấp dẫn này. Theo tổ chức tư vấn A.T.Keaney của Hoa Kỳ, thị trường
bán lẻ Việt Nam hiện xếp thứ tư thế giới về khả năng thu hút những tập đoàn bán lẻ
với những lý do như dân số đông và mức chi tiêu của người tiêu dùng cũng như
doanh số bán lẻ ngày một tăng nhanh.
Cùng với quá trình bành trướng và thâm nhập của TNC vào Việt Nam, việc xây
dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh của Việt Nam đang được Chính phủ
đặc biệt quan tâm và chỉ đạo thực hiện. Đồng thời, quá trình tích tụ và tập trung sẽ
diễn ra mạnh mẽ giữa các thương nhân trong nước tạo thành những chuỗi liên kết
với các nhà sản xuất, ngân hàng để tăng cường sức cạnh tranh. Một số thương nhân
có tiềm lực sẽ mở rộng hệ thống dịch vụ phân phối ra nước ngoài thông qua liên
doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung
tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của Việt Nam ở nước ngoài. Tất cả
điều này sẽ dẫn tới hệ thống dịch vụ phân phối của Việt Nam ngày càng lớn mạnh

Tuy nhiên việc chuyển giao công nghệ ở Việt Nam cũng còn tồn tại những
hạn chế. Các doanh nghiệp nhà nước lớn cũng ít quan tâm đến đổi mới công nghệ
vì thường có vị thế độc quyền, không chịu sức ép cạnh tranh và có tâm lý dựa dẫm
vào sự bảo hộ của Nhà nước. Ngay cả các DN ngành công nghiệp, được coi là chủ
lực cũng tương tự. Theo Bộ Công nghiệp, phần lớn giá trị máy móc thiết bị sản
xuất chỉ còn 30% so với giá trị ban đầu và đã lạc hậu hơn 30 năm, như dệt may có
đến 45% cần phải đầu tư nâng cấp và 30 - 40% cần thay thế; mũi nhọn công nghiệp
là cơ khí thì đã lạc hậu hơn 40 năm so với khu vực và 50 năm so với các nước phát
triển về công nghệ. Đầu tàu kinh tế của cả nước là TP.HCM cũng chỉ có 25% DN
có công nghệ sản xuất tiên tiến, 32% ở mức trung bình, còn lại là dưới trung bình
và lạc hậu, trong đó DN có công nghệ lạc hậu chiếm 20%. Bên cạnh đó, cơ chế bảo
hộ cho các đối tượng sở hữu công nghệ còn yếu, chưa có chiến lược chuyển giao
công nghệ hữu hiệu.
TNC còn có vai trò đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam. TNC là
lực lượng cơ bản trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhân tố quan trọng trong
quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định, động lực chính tạo nên
sự thành công của TNC. TNC có vai trò tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng ở cả
nước mẹ và nước chủ nhà. Đặc biệt bằng con đường cắm nhánh thông qua đầu tư
trực tiếp nước ngoài, TNC đã thực hiện sản xuất và phân phối một khối lượng lớn
các loại dược phẩm, thiết bị y tế và chế biến thực phẩm với chất lượng cao ở nước
chủ nhà. Chúng ta có thể thấy rõ vai trò của đầu tư nước ngoài đối với tăng cường
sức khoẻ và dinh dưỡng thông qua ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.
TNC là lực lượng có vai trò lớn trong các lĩnh vực và ngành của nền kinh tế,
đặc biệt trong ngành dịch vụ xã hội là sự giúp đỡ và hỗ trợ trực tiếp người lao
động. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ, mức sống của người lao động được nâng
cao và các chương trình phục vụ sức khoẻ của người lao động đã kích thích ngành
y tế phát triển…
Từ việc nhận thức những vai trò và sự tác động trên, Đại hội Đảng Cộng sản
Việt Nam lần thứ VIII (1996) đã khẳng định việc tiếp tục phát triển đường lối Đổi
mới của Đại hội VI,VII là đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối

sản phẩm của mình vào thị trường Việt Nam. Các sản phẩm của các TNC như
Coca-cola, Pepsi-cola, Kodak, tràn ngập thị trường Việt Nam, còn các TNC như
Mobil, IBM, General Motors, Microsoft, Esso ngay lập tức đã kỹ kết các hợp
Nam.
Cùng với đó, Việt Nam cũng có những chính sách nhằm thu hút, tiếp nhận
và liên kết với các công ty xuyên quốc gia để phát triển kinh tế - xã hội đất
nước.Chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, và thị trường xuất khẩu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam qua từng kỳ Đại Hội. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành
từ cuối năm 1987 đã mở đầu cho việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ
kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện thủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu
quả của hợp tác kinh tế quốc tế. Tuy nhiên thực tế cho thấy, trong lĩnh vực thu hút
FDI nói chung và thu hút FDI của các TNC nói riêng, Việt Nam không thể tránh
khỏi được những thách thức và khó khăn. Nhận thức được vấn đề này, Việt Nam đã
không ngừng cải thiện môi trường đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư nước ngoài, các TNC tham gia đầu tư ngày càng nhiều hơn vào Việt
Nam.Trước hết, phải khẳng định rằng Việt Nam có một môi trường Chính trị - xã
hội thực sự rất ổn định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý
của Nhà nước XHCN, nền chính trị - xã hội của nước ta luôn được củng cố và bền
vững. Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta luôn tăng trưởng và phát triển
khá cao, xã hội có nhiều biến chuyển tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện và
nâng cao, an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, lòng tin của nhân dân vào đường lối
đổi mới của Đảng và Nhà nước ngày càng cao, quan hệ quốc tế ngày càng được
mở rộng Có thể nói, chính trị là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sự phát triển của
kinh tế đất nước và cũng là điều kiện tối cần thiết đối với các ngành đầu tư, sự ổn
định của chính trị – xã hội đã tạo ra thế và lực mới để mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế, thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và của
các TNC nói riêng.

Ngoài các chính sách nhằm thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, Việt Nam
còn tích cực tiến hành nâng cấp, đầu tư cho cơ sở hạ tầng để có thể đáp ứng được
nhu cầu và tiếp thu được các công nghệ, kỹ thuật cao từ các TNC. Kết cấu kinh tế
kỹ thuật được coi là một hệ thống cơ bản, cốt lõi để thu hút đầu tư nước ngoài nói
chung và thu hút các TNC nói riêng. Trong điều kiện phát triển của sản xuất và thị
trường hiện nay, sự phát triển của kết cấu hạ tầng kỹ thuật là điều kiện tiên quyết
để phát triển kỹ thuật công nghệ cao, đáp ứng nhanh yêu cầu đòi hỏi của thị
trường. Nhận thức được tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật, để tăng sức
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các TNC, Việt Nam đã tiến
hành xây dựng và phát triển các đặc khu kinh tế bao gồm: Khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao. Đồng thời nước ta cũng có những chính sách ưu đãi
đối với các TNC đầu tư vào khu công nghiệp và khu chế xuất nhằm khuyến khích
họ đầu tư và hoạt động trong các khu chế xuất. Ví dụ như chính phủ cho phép các
doanh nghiệp đầu tư vào khu chế xuất được hưởng những thủ tục hành chính và
khuyến khích đầu tư thuận lợi hơn so với các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp
và khu chế xuất.
Riêng về vấn đề thuế, nhà nước ta cũng có một số quy định riêng cho đầu tư
nước ngoài. Thuế thu nhập doanh nghiệp tuỳ theo địa bàn và lĩnh vực hoạt động,
thuế suất thông thường 25%, khuyến khích đầu tư là 20,15,10%. Thời gian miễn
thuế đối với những dự án khuyến khích đầu tư: Miễn 2 năm, giảm 50% cho 2 năm
tiếp theo; miễn 4 năm giảm 50% 4 năm tiếp theo. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài với mức 7,5,3%. Hàng hoá đưa từ nước ngoài vào khu chế xuất hoặc doanh
nghiệp chế xuất và ngược lại không thuộc diện nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
và chỉ chịu sự giám sát của hải quan và không thuộc diện nộp thuế VAT. Thiết bị,
máy móc, phương tiện vận tải nằm trong dây chuyền công nghệ, để tạo tài sản cố
định của doanh nghiệp; vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được không
thuộc đối tượng chịu thuế VAT. Nguyên liệu, vật tư linh kiện nhập khẩu để sản xuất
của các dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn thuế nhập
khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.
Như vậy, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam ngày nay đặt trong bối cảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status