NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT - Pdf 12

NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
I/ NGUỒN GỐC CỦA PHÁP LUẬT
1. Theo quan điểm duy tâm, tôn giáo
Theo quan điểm tôn giáo: pháp luật là sản phẩm có ý chí của đấng tối cao. Ở các quốc
gia Hồi giáo, nguồn gốc của pháp luật là do Thượng đế quyền năng đã thần khải cho
Mohamed thành kinh Koral, quan điểm của kinh Koral cao hơn Hiến pháp-pháp luật của nhà
nước. Ở các quốc gia phật giáo, quan niệm nhà nước là do trời định nên vua được coi là
Thiên tử và pháp luật có nguồn gốc từ ý trời thể hiện ở các sắc lệnh có ghi: “phụng thiên
thừa vận Hoàng đế chiếu viết”.
Theo thuyết pháp luật tự nhiên: pháp luật là hiện thân của các quyền tự nhiên mà tạo
hoá trao cho hết thảy mọi người, không phân biệt địa vị xã hội. Pháp luật tự nhiên này quy
định bản chất của pháp luật thực định, pháp luật do nhà nước ban hành chẳng qua là biểu
hiện của pháp luật tự nhiên. Học thuyết này đòi hỏi pháp luật của nhà nước phải phù hợp với
pháp luật tự nhiên.
2. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định pháp luật là một hiện tượng lịch sử xã hội, chỉ ra
đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định đó là khi xuất hiện chế độ
tư hữu cho đến khi hình thành các giai cấp đối kháng và sự thống trị giai cấp bằng nhà nước.
Về mặt khách quan, nguyên nhân dẫn tới sự ra đời nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn
đến sự ra đời của pháp luật: khi trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và
có sự phân chia thành những giai cấp có lợi ích đối kháng không thể điều hòa được. Trong
xã hội cộng sản nguyên thuỷ, những tập quán và tín điều tôn giáo được sử dụng để điều
chỉnh các quan hệ xã hội một cách rất hiệu quả vì nó thể hiện ý chí chung của mọi người
trong xã hội. Nhưng khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội có sự phân chia giai cấp thì những
tập quán đó không còn phù hợp vì thế cần phải có một loại quy phạm mới để thiết lập cho xã
hội một “trật tự” mới, loại quy phạm này phải thể hiện ý chí của giai cấp thống trị chứ không
phải ý chí chung của cộng đồng, đó là quy phạm pháp luật.
Về mặt chủ quan, hệ thống pháp luật được hình thành qua nhiều bước phụ thuộc vào
điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước. Nhưng nói chung, hệ thống pháp luật có thể được
hình thành bằng con đường ban hành hoặc thừa nhận của nhà nước.
II/ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT

địa chủ phong kiến đối với nông dân.
Pháp luật tư sản tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và
chịu sự chi phối có tính chất quyết định của các quan hệ đó. Pháp luật tư sản thể hiện ý chí
của giai cấp tư sản là bằng mọi giá phải duy trì và củng cố chế độ tư hữu và sự chi phối
không hạn chế của nó đối với các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa được xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa với nền tảng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất do đó pháp luật xã hội chủ nghĩa
thể hiện và bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân, là công cụ để quản lý xã hội
và thực hiện tiến bộ xã hội.
• Tính xã hội
Pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự
trước hết bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị nhưng nhà nước cũng là đại diện chính thức
của toàn xã hội nên pháp luật còn có tính xã hội. Để đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển
thì pháp luật cần phải đáp ứng những nhu cầu và lợi ích chung của xã hội như: trật tự công
cộng, an sinh xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục, bảo vệ môi trường….Cụ thể:
- Pháp luật thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội nhưng ở
mức độ ít hay nhiều và ở một chừng mực nhất định pháp luật cũng thể hiện ý chí và bảo vệ
lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội;
- Pháp luật có khả năng hạn chế, loại bỏ các quan hệ xã hội tiêu cực, thúc đẩy các quan
hệ xã hội tích cực;
Như vậy, pháp luật vừa có tính giai cấp vừa có tính xã hội. Hai thuộc tính này có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Tính xã hội của pháp luật không mâu thuẫn với tính giai cấp mà
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
2
hỗ trợ, bổ sung cho tính giai cấp vì tính xã hội đảm bảo cho sự ổn định của xã hội, đây là
yếu tố mà bất cứ giai cấp cầm quyền nào cũng quan tâm. Vì thế, không có pháp luật chỉ có
tính giai cấp, cũng không có pháp luật chỉ có tính xã hội.
Định nghĩa : Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo
đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố để điều
chỉnh các quan hệ xã hội.

Những đặc trưng nói trên chỉ là những đặc trưng cơ bản, bên cạnh đó quy phạm pháp
luật còn có những đặc trưng khác như tính khái quát và cụ thể, tính hà khắc và nhân đạo,
thành văn và không thành văn….việc nghiên cứu những đặc trưng này tuỳ thuộc vào kiểu
pháp luật và hệ thống pháp luật khác nhau.
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
3
III/ HÌNH THỨC PHÁP LUẬT
P. Ăngghen cho rằng: “Pháp luật là ý chí giai cấp đề lên thành luật” nên theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị
sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật.
Theo các nhà luật học Âu Mỹ thì hình thức pháp luật là những dạng tồn tại thực tế của
pháp luật được các quan toà áp dụng khi xét xử.
Trong lịch sử hình thành pháp luật ở các nước trên thế giới, các nhà cầm quyền công
nhận và sử dụng ba hình thức pháp luật: tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp
luật.
1. Tập quán pháp
Tập quán pháp là hình thức nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong
xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, nâng chúng thành những quy tắc xử sự
chung được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Tập quán pháp hình thành dựa trên hai yếu tố: yếu tố chủ quan (yếu tố vật chất) và yếu
tố khách quan (yếu tố tâm lý). Yếu tố vật chất là các xử sự, thái độ, hành vi đã thành thói
quen một cách tự nhiên. Ví dụ: người phụ nữ phương Tây khi lấy chồng thường mang họ
chồng; còn yếu tố tâm lý là chủ thể pháp luật cho rằng thói quen, cách xử sự đó mang tính
chất bắt buộc và họ chấp nhận đó là “luật”. Ví dụ: Người phương Đông khi chết thì con phải
thắt khăn xô trắng.
Đây là hình thức pháp luật xuất hiện sớm nhất và phổ biến nhất trong các nhà nước chủ
nô và nhà nước phong kiến. Trong các nhà nước tư sản hình thức tập quán pháp được sử
dụng nhiều nhất ở các nước có chế độ quân chủ. Nhìn chung, tập quán pháp là hình thức
pháp luật rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Anh Mỹ và Châu âu lục địa. Còn trong các
nước xã hội chủ nghĩa, một số tập quán tiến bộ vẫn được thừa nhận tuy nhiên ở mức độ hạn

được các “khoảng trống” của pháp luật.
Theo các nhà làm luật Anh thì tiền lệ pháp có rất nhiều ưu điể m
Thứ nhất, các đối tượng liên quan trong vụ án có thể biết trước các hậu quả pháp lý
của vụ việc vì họ biết các quyết định này không phải là các quyết định tùy tiện của các thẩm
phán mà các thẩm phán đã dựa vào các quyết định của các vụ việc trước đó.
Thứ hai, tiền lệ được đưa ra từ thực tiễn, trong khi các đạo luật lại ít nhiều căn cứ vào
lý thuyết và suy luận mang tính lô gích; tiền lệ hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau trong
đời sống do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh.
Thứ ba, tiền lệ tạo điều kiện cho thẩm phán đưa ra nhiều tư tưởng mới trong lĩnh vực
áp dụng pháp luật tùy theo điều kiện, hoàn cảnh xã hội phát sinh ra các quan hệ pháp luật.
Thứ tư, đó là tính linh hoạt của tiền lệ pháp, thuộc tính này phụ hợp với sự thay đổi
nhanh chóng của xã hội. Trong khi sự thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần phải
một thời gian nhất định thì tiền lệ pháp lại đáp ứng ngay những đòi hỏi của thực tiễn.
Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức tiền lệ pháp gặp phải những bất cập nhất định
Thứ nhất, do các quyết định và bản án quá nhiều và liên tục tăng theo thời gian nên
gây rất nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng.
Thứ hai, bên cạnh tính linh hoạt thì nó cũng chứa đựng sự cứng nhắc vì thẩm phán
buộc phải tuân thủ theo những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không mang giá
trị pháp lý cao.
Thứ ba, thẩm phán sẽ khó khăn khi nhận định trong những điều kiện hoàn cảnh như
nhau nhưng tình tiết vụ việc lại hoàn toàn khác nhau; trong trường hợp này, thẩm phán phải
so sánh và hình thành nên một tiền lệ mới, và như vậy sẽ làm phức tạp thêm khi áp dụng
luật.
Thứ tư, nó không mang tính hệ thống và tính khái quát vì án lệ được hình thành theo
những tình tiết của mỗi vụ việc.
Có thể nói tiền lệ pháp khởi nguồn ở nước Anh. Trước khi cuộc chinh phục của người
Norman diễn ra vào năm 1066, công lý và pháp luật được ban hành chủ yếu bởi tòa án hạt
(the county court) và được chủ trì bởi các giám mục và các hạt trưởng và được áp dụng
trong cả quyền hạn của giáo hội lẫn dân sự. Nhưng sau khi cuộc chinh phục của người
Norman thành công vào năm 1066, một hệ thống pháp mới được hình thành. Tuy vậy không

3. Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
trong đó quy định những quy tắc xử sự chung được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội.
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất chủ yếu nhất được thừa
nhận và áp dụng trong mọi nhà nước. Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa văn bản quy
phạm pháp luật được xem là hình thức pháp luật duy nhất được dùng để điều chỉnh các quan
hệ xã hội. Còn đối với các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và hệ thống pháp luật
Châu Âu lục địa, đây cũng là hình thức chủ yếu vì các tính chất của loại văn bản quy phạm
pháp luật.
Thực tế, không có nhà nước nào chỉ áp dụng một hình thức pháp luật, mỗi hình thức
pháp luật có những ưu và nhược điểm riêng nên việc áp dụng hình thức pháp luật nào tuỳ
thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh riêng của mỗi nhà nước.
Ngoài ra còn có các hình thức pháp luật khác. Như các học thuyết pháp lý: các công
trình nghiên cứu của các học giả, các ý kiến, các bài viết liên quan đến luật. Trước khi có các
văn bản pháp luật thì các học thuyết ra đời từ các trường đại học được xem là nguồn quan
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
6
trọng nhất trong hệ thống pháp luật. Các điều ước quốc tế: cam kết kí giữa các quốc gia với
nhau, có thể là điều ước song phương hoặc đa phương.
IV/ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI KHÁC
Mối quan hệ giữa pháp luật và các hiện tượng xã hội khác giúp giải thích rõ hơn bản
chất của pháp luật.
1. Mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước
Nhà nước và pháp luật là hai yếu tố của kiến trúc thượng tầng có cùng nguồn gốc phát
sinh, cùng quá trình tồn tại và phát triển vì thế hai yếu tố này có quan hệ khăng khít, không
thể tách rời nhau.
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị nhưng quyền lực đó chỉ có thể
được phát huy trên cơ sở pháp luật. Còn pháp luật lại do nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện, phản ánh quan điểm, đường lối chính trị của nhà nước.
Nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực của mình nếu thiếu pháp luật và

Sự tác động của pháp luật đối với kinh tế có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Nếu pháp luật
phù hợp với kinh tế: thể hiện ý chí của giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội,
phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì pháp luật có nội dung tiến bộ và có tác dụng
tích cực.
Nếu pháp luật không phù hợp với kinh tế: pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
đã lỗi thời thì pháp luật mang nội dung lạc hậu và có tác dụng tiêu cực, kìm hãm sự phát
triển của kinh tế và xã hội.
3. Mối quan hệ giữa pháp luật với chính trị
Pháp luật là biện pháp, phương tiện phục vụ các mục tiêu chính trị, là hình thức biểu
hiện cụ thể của chính trị. Chính trị được thể hiện trong các đường lối, chính sách của giai
cấp, cầm quyền, pháp luật có nhiệm vụ thể chế hoá các đường lối, chính sách đó.
Mặt khác, chính trị có sự tác động trở lại đối với pháp luật, đường lối chính sách của
giai cấp thống trị luôn luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với pháp luật.
4. Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
Đạo đức là những quan điểm, quan niệm của con người về cái thiện, cái ác, về sự công
bằng, nghĩa vụ, danh dự và những phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã hội.
Hệ thống các quy tắc xử sự được hình thành trên các quan điểm, quan niệm về đạo đức.
Khi đạo đức trở thành niềm tin thì chúng sẽ trở thành cơ sở cho hành vi của con người, chỉ
đạo hoạt động của con người. Pháp luật phản ánh đạo đức của giai cấp thống trị trong xã hội,
tuy nhiên pháp luật cũng phản ánh các quan điểm, quan niệm của các lực lượng khác nhau
trong xã hội. Pháp luật chịu sự tác động của quy phạm đạo đức và các loại quy phạm xã hội
khác nhưng pháp luật có tác động rất mạnh mẽ tới các quy phạm.
B/ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I/ CÁC KIỂU PHÁP LUẬT
1. Khái niệm
Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của pháp luật thể hiện bản
chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh
tế xã hội nhất định.
Cơ sở để phân định kiểu pháp luật là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Đặc điểm của mỗi kiểu pháp luật sẽ do đặc điểm của hình thái kinh tế -

Trong tương lai pháp luật xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và không còn một kiểu pháp luật
nào thay thế nữa.
II/ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Khái niệm
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
2. Bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa
Nói chung, pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng như các kiểu pháp luật khác đều có bản
chất vừa thể hiện tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Tuy nhiên, do đặc thù về những điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, hệ tư tưởng nên pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng có
những nét đặc thù riêng. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có bản chất khác bản chất của các kiểu
pháp luật trước đó, thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất: Tính giai cấp công nhân của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Pháp luật xã hội
chủ nghĩa thể hiện lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, đó chính là lập trường của
Đảng cộng sản của giai cấp công nhân. Thông qua Đảng cộng sản giai cấp công nhân đề ra
đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật xã hội chủ nghĩa có
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
9
nhiệm vụ thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng thành những quy tắc xử sự chung để
điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Thứ hai: Pháp luật xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân sâu sắc
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nòng
cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức.
Nhà nước thể chế hoá ý chí của nhân dân lao động thành pháp luật, ý chí nhà nước thể
hiện trong pháp luật là ý chí của gia cấp công nhân và tầng lớp nhân dân lao động khác.
- Thứ ba: Pháp luật xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc sâu sắc
Pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa phản ánh ý chí và nguyên vọng, lợi ích của cả
dân tộc, là phương tiện để thể chế hoá chính sách dân tộc của giai cấp công nhân.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là nền tảng pháp lý để thực hiện chính sách đại đoàn kết và

và tự giác thực hiện vì thế, các biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng kết hợp với các
biện pháp giáo dục, thuyết phục.
- Thứ tư: Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội.
Pháp luật quy định về chế độ kinh tế tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia
hoạt động kinh tế xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội.
Trong mối quan hệ này kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, pháp luật phản
ánh trình độ của chế độ kinh tế xã hội. Mọi sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn tới sự thay
đổi tương ứng của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật cũng có sự tác động trở lại đối với chế độ
kinh tế xã hội chủ nghĩa. Về nguyên tắc, pháp luật không thể thấp hơn hoặc cao hơn trình độ
phát triển của chế độ kinh tế - xã hội nên nếu pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển của
kinh tế - xã hội thì nó sẽ có vai trò tích cực và ngược lại. Vì thế, trong quá trình xây dựng và
tổ chức thực hiện pháp luật phải gắn lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn sao cho phù
hợp.
- Thứ năm: Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng cộng sản.
Trong mối quan hệ này, đường lối, chính sách của Đảng giữ vai trò chủ đạo. Đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng chỉ đạo phương hướng xây dựng pháp luật; chỉ đạo nội
dung của pháp luật; chỉ đạo việc thực hiện và áp dụng pháp luật.
Pháp luật phản ánh đường lối, chính sách của Đảng, là sự thể chế hoá đường lối, quan
điểm của Đảng thành những quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội.
Cần phải tránh khuynh hướng pháp luật thuần tuý, khi xây dựng và thực hiện pháp luật
không dựa trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng. Đồng thời cũng phải tránh khuynh
hướng muốn dung đường lối chính sách của Đảng thay thế pháp luật, hạ thấp vai trò của
pháp luật.
- Thứ sáu: Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội
khác trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật tác động tới các quy phạm xã hội khác theo hai hướng khuyến khích hoặc hạn chế.
4. Vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa
4.1 Pháp luật là phương thức thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng cộng sản
thành các quy tắc chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội

xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều bị xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên, dân chủ phải có kỉ cương và phù hợp với chính sách của Đảng và pháp
luật của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện trong việc xác lập và điều chỉnh
mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Những quyền tự do, dân chủ của công dân được
quy định cụ thể trong pháp luật, nhà nước bảo đảm cho công dân được thực hiện các quyền
của mình trong khuôn khổ quy định của pháp luật, đồng thời, pháp luật cũng quy định những
nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.
4.5 Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm
và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững kỷ cương và trật tự quản lý nhà nước
Pháp luật xác định các yêu cầu, nhiệm vụ của nhà nước và xã hội đối với việc thực
hiện các chức ngăng có tính bạo lực của nhà nước, quy định các hành vi vi phạm pháp luật,
xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những biện pháp trách nhiệm cần thiết .
4.6 Pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ
Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động nên
tự nó đã có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, nâng cao tính tự giác
khi thực hiện pháp luật. Bên cạnh các biện pháp chế tài nhằm áp dụng cho những chủ thể có
hành vi vi phạm mang tính răn đe trừng phạt trì pháp luật còn quy định những hình thức và
mức độ khen thưởng, khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với những thành viên có
nhiều cống hiến cho nhà nước và xã hội. Vì thế, pháp luật có ý nghĩa giáo dục to lớn, nó có
tác động tới nhận thức và tư tưởng của mỗi thành viên trong xã hội, giáo dục cho họ ý thức
tôn trọng các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa.
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
12
4.7 Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới, là công cụ để thực hiện đường
lối đối ngoại hoà bình, hữu nghị và hợp tác
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có khả năng đi trước, định hướng cho sự phát triển của các
quan hệ xã hội vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc tạo dựng các quan hệ xã hội mới.
Sự hợp tác và phát triển chỉ có thể diễn ra trong môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
ổn định và có độ tin cậy. Pháp luật là phương tiện có ý nghĩa quan trọng để tạo ra môi
trường ổn định đó. Pháp luật tạo nên cơ sở để thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác quốc

+ Ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội nhất là bộ phận tâm lý
pháp luật tư sản, phong kiến do đó nó có thể kìm hãm sự phát triển của xã hội;
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
13
+ Trong một số trường hợp, ý thức pháp luật mà đặc biệt là ý thức pháp luật khoa học
có tính tiên phong tức là nó có thể vượt lên trên sự phát triển của tồn tại xã hội.
+ Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó song nó cũng kế
thừa những yếu tố nhất định của ý thức pháp luật thời đại trước. Yếu tố mà nó kế thừa có thể
là tiến bộ hoặc lạc hậu.
+ Ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, ý thức chính trị, đạo
đức và các yếu tố khác thuộc thượng tầng kiến trúc pháp lý như nhà nước và pháp luật. Tuỳ
thuộc vào tính chất của ý thức pháp luật, tiến bộ hay lạc hậu mà sự tác động của nó là thúc
đẩy hay kìm hãm sự phát triển của các hiện tượng trên.
- Ý thức pháp luật là hiện tượng mang tính giai cấp
Các giai cấp khác nhau thì có ý thức pháp luật khác nhau, tức là có quan niệm khác
nhau về pháp luật và các hiện tượng pháp lý. Mỗi quốc gia có thể tồn tại nhiều hệ thống ý
thức pháp luật như: ý thức pháp luật của giai cấp thống trị, ý thức pháp luật của giai cấp bị
trị, ý thức pháp luật của các giai tầng trung gian…tuy nhiên, chỉ có ý thức pháp luật của giai
cấp thống trị mới được phản ánh đầy đủ vào trong pháp luật.
Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm lý,
nhận thức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với pháp luật và pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
Ý thức pháp luật phát sinh và hình thành cùng với ý thức chính trị của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động từ trong lòng xã hội tư sản khi giai cấp công nhân chưa giành
được chính quyền. Ý thức pháp luật của giai cấp công nhân là ý thức pháp luật thống trị
trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, là hệ tư tưởng và những quan điểm pháp lý của giai cấp
tiến bộ nhất, nó có tính thống nhất cao vì lợi ích của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân
dân lao động khác là thống nhất.
2. Cấu trúc, phân loại ý thức pháp luật
a, Cấu trúc

pháp luật được hệ thống hoá, khái quát hoá thành các học thuyết pháp lý. Ý thức pháp luật
phản ánh mối liên hệ bên trong, bản chất của pháp luật.
- Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật được chia thành: ý thức
pháp luật xã hội, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật cá nhân.
+ Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của bộ phận tiên tiến đại diện cho xã hội, nó chứa
đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học về những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật, phản
ánh được xu thế của xã hội.
+ Ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một
nhóm chủ thể nhất định trong xã hội về pháp luật (cùng nghề nghiệp, cùng lợi ích…). Ý thức
pháp luật nhóm có phạm vi ảnh hưởng hẹp hơn so với ý thức pháp luật xã hội.
+ Ý thức pháp luật của cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình
cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và đối với pháp luật. Trình độ của ý thức pháp luật
cá nhân thường thấp hơn ý thức pháp luật xã hội, nó có thể phù hợp hoặc trái với ý thức
pháp luật xã hội nên muốn phát triển ý thức xã hội thì phải không ngừng nâng cao ý thức
pháp luật cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật xã hội.
3. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật
Ý thức pháp luật và pháp luật là hai hiện tượng xã hội khác nhau nhưng có quan hệ
chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, biểu hiện ở một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất: Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật.
Ý thức pháp luật phải đi trước, phản ánh được xu thế phát triển, thể hiện trong các
quan điểm chính thức của Đảng và nhà nước về mục tiêu, định hướng và nội dung của pháp
luật. Những thay đổi của đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức xã hội sau đó
được thể hiện thành các quy phạm pháp luật tương ứng. Pháp luật được xây dựng trên nền
tảng ý thức pháp luật đó sẽ điều chỉnh tích cực các quan hệ xã hội phù hợp với ý chí và lợi
ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì thế ý thức pháp luật được xem là tiền
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
15
đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với những điều kiện kinh
tế - xã hội.

- Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật;
- Mở rộng dân chủ, công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách đông
đảo vào hoạt động xây dựng pháp luật;
- Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, đạo đức, văn hoá, nâng cao
trình độ của nhân dân;
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục, nâng cao ý thức
pháp luật.
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
16
Giáo dục pháp luật là một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt để nâng
cao ý thức pháp luật của công dân.
Giáo dục pháp luật là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường
xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp
lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu
cầu của pháp luật.
Giáo dục pháp luật nhằm ba mục đích:
Thứ nhất, mục đích nhận thức là làm cho mọi người hiểu về pháp luật, tránh tình
trạng hiểu không đúng về pháp luật.
Thứ hai, mục đích cảm xúc là nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp
luật.
Thứ ba , mục đích hành vi là hình thành thói quen, cách xử sự hợp pháp, tích cực cho
mỗi công dân.
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status