Bài tập Kinh tế vi mô
BÀI KIỂM TRA
Câu 1:
Trong các loại hình doanh nghiệp, công ty cổ phần được đánh giá là hình thức
tiên tiến nhất đối với doanh nghiệp xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lý mà
pháp luật qui định và được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập:
Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực
và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty.
Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng
chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của
mình theo qui định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân
sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài
sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công ty vì lúc
này công ty cổ phần là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông. Trong
trường hợp này, cổ đông không được xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của
cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi có giá trị của
công ty cổ phần như:quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo qui định, quyền
được chia cổ tức, quyền được chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể
… Tuy nhiên, với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền sở hữu tài sản riêng còn
các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu
nào đối với tài sản của công ty.
Thứ hai, Các cổ đông trong công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn:
Xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các cổ đông nên công ty
cổ phần có các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, do đó các rủi ro của cổ đông khi đầu
tư vào công ty cổ phần chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà cổ đông đó đầu
tư. Ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân thì mức độ rủi
ro là vô hạn. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư
đầu tư vào công ty cổ phần nhiều hơn so với đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác
mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn. Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi
Công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là
yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với
các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của
quyền lực. Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong công ty cổ phần
sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên
ngoài, vốn của công ty cổ phần là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty.
Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động
nhất. Các qui luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu
thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ
lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận động của vốn trong
công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh
hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải
2
Bài tập Kinh tế vi mô
tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận
động linh hoạt của vốn. Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu
cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của công ty cổ
phần. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch
các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự
chuyển nhượng đó mà bị thay đổi.
Thứ năm, Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về
thời gian tồn tại:
Với các loại hình doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, sự tồn tại của các
doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay các
thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị
kết thúc cùng với cái chết, sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp tư nhân hay
của một trong các thành viên hợp danh của công ty. Nhưng đối với công ty cổ phần thì
hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể
xảy ra đối với các cổ đông trong công ty; bởi vì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân
độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy ra đối với
đẩy mạnh từ năm 1996, dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành vào năm 2010.
Giai đoạn đẩy mạnh
Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm, Chính phủ Việt Nam quyết định chính
thức thực hiện chương trình cổ phần hóa. Ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban
hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
phần. Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp
được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được
phép mua quá 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10%. Đối với doanh nghiệp
mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp
nhân được phép mua tới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu. Riêng đối với các doanh
nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được
phép mua không hạn chế. Tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng để đào tạo lại
lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà
nước khác.
Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm
2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.
[1]
Giai đoạn tiến hành ồ ạt
Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghị quyết của Trung ương
Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà
nước. Để triển khai Nghị quyết trung ương này, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số
04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát
triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, và Chính phủ ra Nghị định số
4
Bài tập Kinh tế vi mô
64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành
công ty cổ phần. Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa
- giai đoạn tiến hành ồ ạt.
Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:
Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005, có 29 công ty là doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hóa.
5