Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ ở Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội - Pdf 23

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BH: Bảo hiểm
DMTS: Danh mục tài sản
GCNBH: Giấy chứng nhận bảo hiểm
GTBH: Giá trị bảo hiểm
PCCC: Phòng cháy chữa cháy
STBH: Số tiền bảo hiểm
TS: Tài sản
VASS Hà Nội: Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...................................................................................................1
MỤC LỤC...................................................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ..........................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ
CÁC RỦI RO PHỤ.....................................................................................................................7
1.1 Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ...........................................................................................7
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ.7
1.1.1.1 Trên thế giới....................................................................................................................7
1.1.1.2 Tại Việt Nam...................................................................................................................8
1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ.....................................................................9
1.1.3 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ...................................................10
1.1.3.1 Các khái niệm cơ bản....................................................................................................10
1.1.3.2 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm....................................................................................11
1.1.3.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm............................................................................14
1.1.3.4 Phí bảo hiểm..................................................................................................................15

SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
2.1.2 Tình hình kinh doanh bảo hiểm tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh
Hà Nội........................................................................................................................................29
2.1.3 Phương hướng hoạt động của doanh nghiệp...................................................................31
2.2 Thị trường kinh doanh bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ trên thị trường Việt Nam hiện
nay..............................................................................................................................................32
2.3 Thực trạng của hoạt động khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ tại Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội................................................................34
2.3.1 Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tại Công ty Cổ phần Bảo
hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội.......................................................................................34
2.3.2 Kết quả khai thác..............................................................................................................38
2.3.3 Hiệu quả khai thác............................................................................................................41
2.4 Đánh giá chung....................................................................................................................43
2.4.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân..............................................................................43
2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân................................................................................44
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHAI THÁC
NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO PHU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO
HIỂM VIỄN ĐÔNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI.........................................................................46
3.1 Giải pháp..............................................................................................................................46
3.1.1 Giải pháp đối với nguồn nhân lực....................................................................................46
3.1.2. Giải pháp về quản lý và xác định đối tượng tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
....................................................................................................................................................47
3.1.3 Giải pháp về mở rộng mạng lưới phân phối....................................................................48
3.1.4 Giải pháp về nâng cao chất lượng hệ thống phân phối qua đại lý..................................49
3.1.5 Giải pháp về dịch vụ chăm sóc khách hàng.....................................................................50
3.1.6 Giải pháp đối với công tác tuyên truyền quảng cáo........................................................51
3.1.7. Về phối hợp với lực lượng Công an, Cảnh sát PCCC....................................................52
3.2 Khuyến nghị........................................................................................................................52

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các
lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội không ngừng phát triển. Đặc biệt là lĩnh
vực kinh tế với mức tăng trưởng cao, nhiều nhà máy, xí nghiệp, nhà cao
tầng…được xây mới; Hàng hóa, vật tư, thiết bị, máy móc…ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó, với sự gia tăng dân số, nhất là các đô thị lớn, làm nguy cơ cháy,
nổ tăng lên.
Thiệt hại do cháy gây ra rất nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến
cuộc sống của một vài cá nhân mà còn tác động mạnh đến cả cộng đồng dân
cư, môi trường khí hậu. Để đối phó với cháy từ xa xưa con người dân sử dụng
rất nhiều biện pháp khác nhau như PCCC, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức
và ý thức thông tin tuyên truyền về PCCC. Mặc dù khoa học công nghệ phát
triển thì phương tiện PCCC được đổi mới. Tuy nhiên sự phát triển của khoa
học công nghệ về an toàn lại chậm hơn so kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất
và nguồn vốn đầu tư vào công tác đảm bảo an toàn thường thấp hơn so nguồn
vốn đầu tư phát triển. Vì thế ngày càng có nhiều vụ cháy với thiệt hại lớn hơn,
nguyên nhân xảy ra cũng khó lường hơn trong đó cũng có cả nguyên nhân
xuất phát từ mặt trái công nghệ.
Tuy nhận thức được sự nghiêm trọng của cháy, nổ và thiệt hại do cháy,
nổ gây ra, nhưng không phải tổ chức, cá nhân nào cũng ý thức được tầm quan
trọng của việc mua bảo hiểm cháy và rủi ro phụ. Chính vì vậy, tuy đã được
triển khai trên thị trường bảo hiểm Việt Nam từ rất lâu nhưng việc khai thác
nghiệp vụ bảo hiểm này vẫn còn rất khiêm tốn. Cần phải có sự thay đổi nhận
thức để các cơ quan, doanh nghiệp, hộ cá nhân không chỉ mua bảo hiểm cháy
nổ bắt buộc mà còn tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tự nguyện để
bảo vệ mình và xã hội. Chính vì vậy mà em đã quyết định chọn đề tài : “Thực
trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ ở Công ty Cổ
phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp
với mong muốn góp phần làm rõ thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nhằm
đẩy mạnh công tác khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tại

Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội.
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO
HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO PHỤ
1.1 Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm
cháy và rủi ro phụ.
1.1.1.1 Trên thế giới
Tại những thành phố đông đúc của thế kỷ XVII ở châu Âu, hầu hết nhà
cửa đều dựng bằng gỗ, trong khi đó mọi người dùng lửa để sưởi ấm, chiếu
sáng và đun nấu. Do đó mà rủi ro nhà bị bắt lửa là rất dễ xảy ra. Để đề phòng
nguy cơ xảy ra rủi ro này thì vào ban đêm ở các thành phố thị trấn đều có đội
tuần tra để nhắc nhở các nhà về nguy cơ cháy đồng thời nhà nào cũng dự trữ
các xô chứa nước để kịp thời dập những đám cháy nhỏ. Còn khi có ngôi nhà
nào đó bị cháy rụi thì tất cả các hàng xóm sẽ hợp sức với nhau để giúp xây
dựng lại ngôi nhà. Hoạt động này chỉ mang tính chất tương hỗ, giúp đỡ nhau
chứ không mang tính chất bảo hiểm.
Hiệp hội bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591 mang tên Feuer
Casse, một thời gian ngắn sau đó đã xuất hiện thêm một vài công ty nữa
nhưng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17. Phải đến năm 1666,
sau khi chứng kiến đám cháy khủng khiếp ở thủ đô Luân Đôn kéo dài bảy
ngày, tám đêm (bắt đầu từ chủ nhật 2/9/1666 đến ngày 9/9/1666) thiêu hủy
hoàn toàn 13.200 ngôi nhà, 137 văn phòng, 87 nhà thờ trong đó có cả nhà thờ
Saint Paul và trụ sở của Lloyd’s người ta mới ý thức được tầm quan trọng của
việc thiết lập hệ thống phòng cháy, chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt
hại một cách hiệu quả. Như vậy, thảm họa này đã kích thích sự ra đời của một
nghiệp vụ bảo hiểm mới – Bảo hiểm cháy.
Năm 1667 ở Anh, văn phòng bảo hiểm cháy đầu tiên được thành lập lấy

Ở Việt Nam thì đây cũng là một nghiệp vụ được triển khai sớm vào cuối
những năm 1989 sau khi có quyết định 06/ TCQĐ ngày 17/1/1989 của Bộ
trưởng Bộ Tài Chính và Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên triển khai nghiệp
vụ bảo hiểm cháy. Sau một thời gian thực hiện để phù hợp hơn với thực tế Bộ
Tài Chính đã ban hành thêm một số quyết định: quyết định số 142/TCQĐ về
quy tắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 ban hành
biều phí bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ với mức phí tối đa thay cho biểu phí
cũ theo quyết định số 142/TCQĐ và mới nhất là quyết định 28/2007/QĐ- BTC
ngày 24/04/2007 về quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy bắt buộc. Với việc ban
hành nghị định 130/2006/NĐ - CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy định
chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã làm cho thị trường bảo hiểm cháy trở
nên là chiếc bánh hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm.
Tính đến năm 1990 thì nước ta đã có khoảng 16 doanh nghiệp triển khai
nghiệp vụ này với giá trị bảo hiểm lên tới 6200 tỷ đồng. Mặc dù đối tượng bảo
hiểm chủ yếu của doanh nghiệp là các kho xăng dầu, còn phần lớn các khách
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
sạn, chợ, nhà máy … có giá trị lớn vẫn chưa được bảo hiểm xong năm 1994
thì loại hình này đã được triển khai ở hầu hết 53 tỉnh thành phố với tổng giá trị
bảo hiểm 27.000 tỷ đồng . Còn giai đoạn 1994-1995 thì có sự xuất hiện của
một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo Minh, Pjico, Bảo Long… đã hâm
nóng thị trường bảo hiểm cháy. Từ đó cho đến nay thì chúng ta tiếp tục chứng
kiến sự phát triển đa dạng và sôi động của thị trường bảo hiểm cháy với sự
xuất hiện của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm như VASS, PTI, BIC, MIC,
ABIC…Và từ ngày 01/01/2008 cuộc cạnh trạnh trong thị trường bảo hiểm
cháy càng diễn ra khốc liệt hơn, khi Việt Nam sẽ thực hiện lộ trình cam kết
WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài sẽ được khai thác sản
phẩm bảo hiểm trong đó có bảo hiểm cháy nổ.
1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ

tổn thất, tỷ lệ bồi thường. Thông qua thống kê bảo hiểm về các vụ cháy ở quá
khứ, cũng như xác xuất xảy ra vụ cháy để xác định được thông tin đảm bảo,
nâng cao nhận thức của người dân về rủi ro này. Công ty có thể tuyên truyền,
phổ biến kiến thức về phòng cháy chữa cháy và tác hại của rủi ro này từ đó
nâng cao nhận thức của người dân.
+ Mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và nhà
nước
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm : việc triển khai nghiệp vụ này làm cho
DNBH đa dạng hóa được sản phẩm, tăng doanh thu phí và lợi nhuận bằng
cách khi số phí này nhàn rỗi các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đem đi đầu tư sinh
lời. Có thể đầu tư vào các hạng mực như: bất động sản, chứng khoán, cho
ngân hàng vay lãi… đem lại lợi nhuận đầu tư lớn và nâng cao hiệu quả kinh
doanh, tăng cường uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Từ
đó có thể giúp doanh nghiệp mở rộng được quy mô doanh nghiệp tạo lập
thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường.
Nếu khi rủi ro xảy ra, khi tham gia nghiệp vụ bảo hiểm này, người dân và
doanh nghiệp, các tổ chức sẽ nhanh chóng khắc phúc được hậu quả. Rủi ro
xảy ra có thể làm cho người dân mất đi chỗ ở, các doanh nghiệp hoạt động
kém hiệu quả, thất nghiệp…ảnh hưởng đến cuộc sống của xã hội. Ngoài ra
nhà nước còn thu thêm được từ các doanh nghiệp 1 khoản thuế bổ sung vào
ngân sách nhà nước.
Hơn nữa, từ khi gia nhập WTO, cơ hội mở ra cho nước ta rất lớn, nền
kinh tế phát triển hơn trong quá trình hội nhập, thu hút được vốn đầu tư nước
ngoài, khi tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ sẽ làm cho các nhà đầu
tư an tâm hơn để đầu tư vào nước ta. Từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.1.3.1 Các khái niệm cơ bản
+ Cháy : là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sáng do nổ hoặc bất kỳ
nguyên nhân nào khác.
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2

cho công tác giám định và bồi thường chuẩn xác hơn, hạn chế tối đa sự khiếu
nại bồi thường không cần thiết.
b. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi BH là giới hạn các rủi ro được BH và giới hạn trách nhiệm của
các công ty BH. Trong BH cháy, nhà BH có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
và chi phí sau:
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
- Những thiệt hại do những rủi ro được BH gây ra cho TS .
- Những chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất TS được BH
trong và sau khi cháy.
- Những chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi cháy.
* Rủi ro được bảo hiểm
Trong bảo hiểm cháy nổ rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
- Rủi ro chính : “Cháy” (rủi ro A)
Rủi ro này thực chất bao gồm: cháy, sét, nổ..
+ Cháy : cháy sẽ được bảo hiểm nếu có đủ 3 yếu tố: Cháy phải thực sự
phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dùng và lửa đó phải là ngẫu nhiên,
bất ngờ phát ra, chứ không phải do cố ý, có chủ định. Tuy nhiên, nếu cháy xảy
ra do bất cẩn của người được bảo hiểm thì vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm bồi
thường.
Khi có đủ 3 yếu tố đó và có thiệt hại về vật chất do những nguyên nhân
được cho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó là
do bị cháy hoặc là do nhiệt hoặc khói gây ra.
+ Sét : Người được bảo hiểm sẽ được bồi thường khi tài sản bị phá huỷ
trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây cháy. Tức là nếu sét đánh mà không làm
huỷ hoại giá trị của tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường.
Cần lưu ý rằng khi sét đánh phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện tử thì
được bồi thường, còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại cho

- Lửa ngầm dưới đất.
- Cháy mà nguyên nhân là do bản thân tài sản tự lên men, tỏa nhiệt hay
bốc cháy.
- Giông tố, bão táp và lũ lụt.
- Vỡ, tràn nước từ các bể chứa, thiết bị chứa nước hay đường ống dẫn.
- Xe cộ, súc vật không thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm soát của người
được bảo hiểm hay của người làm thuê cho họ đâm vào.
- Nước chảy hoặc rò rỉ ra từ thiết bị vòi phun sprinkler tự động lắp sẵn
trong nhà.
* Rủi ro loại trừ.
Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại
do một trong những nguyên nhân sau gây ra:
- Tổn thất do hành động cố ý hay đồng lõa của người được bảo hiểm
gây ra nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm.
- Những tổn thất có liên quan đến hàng hóa nhận ủy thác hoặc kí gửi,
trừ khi những hàng hóa đó được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là
được bảo hiểm và người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo quy định.
- Tiền, chứng khoán, kim loại quý, đá quý, thư bảo lãnh, bản thảo, sổ
sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng,
khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này được xác
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Chất nổ nhưng không bao gồm: nhiên liệu, xăng dầu.
- Người, thực vật và động vật sống.
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theo
đơn Bảo hiểm hàng hải hay thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo hiểm
hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá trách nhiệm bồi thường theo đơn bảo
hiểm hàng hải.

còn là căn cứ để xác định phí bảo hiểm. Vì thế, xác định chính xác STBH có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Cơ sở xác định STBH là GTBH.
Trường hợp số lượng tài sản thường xuyên tăng giảm thì số tiền bảo
hiểm có thể được xác định theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa theo thoả
thuận của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm. Cụ thể như sau:
- Giá trị trung bình là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thông
báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về giá trị trung bình của tài sản trong thời hạn
bảo hiểm.
- Giá trị tối đa là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thông báo
cho doanh nghiệp bảo hiểm giá trị tối đa của tài sản có thể đạt vào một thời
điểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm. Tùy theo thỏa thuận, đầu mỗi tháng
hoặc quý, bên mua bảo hiểm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm giá trị tối
đa của tài sản được bảo hiểm trong tháng hoặc quý trước đó.
Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiền
bảo hiểm do các bên thỏa thuận.
1.1.3.4 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm. Tính toán mức giá vừa
phải, phù hợp với yêu cầu của khách hàng, đảm bảo hoạt động kinh doanh
không phải đơn giản. Bảo hiểm cháy có đối tượng là tài sản rất đa dạng về
chủng loại, giá trị và mức độ rủi ro khác nhau do đó phí bảo hiểm cũng khác
nhau
Phí bảo hiểm cháy được tính theo công thức:
P= S
b
 R
Trong đó: S
b
là số tiền bảo hiểm.
R là tỉ lệ phí bảo hiểm.
P là phí bảo hiểm.

+R
2
Trong đó: R
1
– tỷ lệ phí thuần.
R
2
– tỷ lệ phụ phí.
Tỷ lệ phụ phí (R
2
) được kế hoạch hóa bằng cách căn cứ vào tài liệu
thống kê của một số năm trước đó, gồm các loại chi phí: phí quảng cáo, tuyên
truyền, kể cả hoa hồng bảo hiểm...
Tỷ lệ phí thuần (R
1
) được xác định tương đối phức tạp. Về mặt lý thuyết
phải căn cứ vào số liệu thống kê trong một số năm trước đó như: tổng số đơn
vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy; số đơn vị rủi ro bị cháy; tổng số tiền bảo
hiểm cháy; số tiền bồi thường bảo hiểm cháy…
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: theo phân loại và theo danh
mục.
+ Theo phân loại: Đây là cách kết hợp các đơn vị có thể so sánh với
nhau vào cùng một loại, sau đó tính tỷ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và các
chi phí khác của loại đó. Phương pháp này phù hợp với những tài sản tương
đối đồng nhất với nhau như nhà ở của dân cư, các nhà thờ…Khi thực hiện
phương pháp này cần xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phí như:
• Vật liệu xây dựng.
• Khả năng phòng cháy, chữa cháy.
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
16

tương ứng theo tỷ lệ của thời hạn bảo hiểm, theo công thức sau:
P = S
b
× R × t / T
Trong đó: t – thời hạn bảo hiểm.
T – thời gian 1 năm (12 tháng).
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
1.1.3.5 Giám định và bồi thường
a. Giám định
Giám định là cơ sơ xác định chính xác số tiền bồi thường. Khi tổn thất
xảy ra, người tham gia bảo hiểm phải kịp thời thông báo tới cơ quan bảo hiểm
bằng văn bản, điện thoại, điện tín hoặc fax, bảo đảm 3 nội dung:
- Địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất.
- Đối tượng thiệt hại.
- Dự đoán nguyên nhân xảy ra tổn thất.
Sau khi nhận được thông báo, công ty bảo hiểm cử ngay nhân viên có
trách nhiệm đến hiện trường làm công tác giám định. Khi giám định phải làm
rõ các vấn đề sau:
- Thời điểm xảy ra cháy và kết thúc cháy
- Nguyên nhân xảy ra cháy
- Thống kê toàn bộ số tài sản bị thiệt hại
- Lời khai của các nhân chứng
- Công tác phòng cháy chữa cháy và ngăn ngừa thiệt hại khi cháy xảy
ra.
Sau đó lập biên bản giám định có chữ ký của các bên (Công an,cảnh sát
phòng cháy chữa cháy, chính quyền sở tại…)
Căn cứ vào biên bản giám định để dự trù số tiền bồi thường một lần hay
nhiều lần cho người tham gia bảo hiểm.

1.1.3.6 Đề phòng và hạn chế tổn thất
Mục đích của bảo hiểm cháy không chỉ nhằm bồi thường, ổn định tài
chính cho người tham gia bảo hiểm mà còn nhằm hạn chế các vụ cháy và hậu
quả của chúng.
Qua công tác thống kê tình hình tổn thất, giám định bồi thường các vụ
rủi ro, trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân chủ yếu thường dẫn đến tổn thất,
nghiên cứu và đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm làm giảm đến mức
thấp nhất khả năng xảy ra tổn thất, đó là một mặt thuộc công tác đề phòng và
hạn chế tổn thất của công ty.
Với số phí bảo hiểm thu được hàng năm, công ty trích lập quỹ đề phòng
và hạn chế tổn thất dùng vào mục đích như : tuyên truyền, hỗ trợ kinh phí, hội
nghị khách hàng… Trong các khoản chi này thì khoản chi hỗ trợ kinh phí
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ số chi cho công tác này. Khoản chi này
có tác dụng to lớn không chỉ có giá trị to lớn về mặt kinh tế mà còn có tác
dụng tích cực trong tuyên truyền cho hoạt động của nghiệp vụ. Khoản chi hỗ
trợ trong bảo hiểm cháy bao gồm chi mua các phương tiện cần thiết tối thiểu
như mua bình chữa cháy, còi báo động và chi cho công tác luyện tập của đội
chữa cháy bán chuyên nghiệp của cơ quan doanh nghiệp, chi thiết lập các biển
báo cấm lửa…
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
Khoản chi tuyên truyền: Tuyên truyền tốt có tác dụng to lớn trong đề
phòng và hạn chế tổn thất. Với khoản chi này, công ty sử dụng nhiều biện
pháp tuyên truyền khác nhau như sách, báo, đài, ti vi, pano, áp phích…và điều
này có tác động mạnh mẽ tới ý thức PCCC của nhân dân.
Khoản chi hội nghị: thông qua khoản chi hội nghị khách hàng mà công
ty tiến hành tìm hiểu phân tích đánh giá các biện pháp hạn chế tổn thất hiệu
quả nhất.
Ngoài các công việc trên công ty thường xuyên cử cán bộ xuống đôn

hợp đồng
bảo hiểm.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
cho tài sản của mình.
- Khi nhận được sự đồng ý của khách hàng, nhân viên của công ty sẽ
cung cấp Giấy yêu cầu bảo hiểm để khách hàng tự khai vào giấy này. Đây là
điểm mà nhân viên của công ty bảo hiểm phải hết sức lưu ý khi tiến hành khai
thác.
Như vậy, cho đến khi khách hàng đồng ý mua bảo hiểm (hoặc có thể
không mua) là đã kết thúc quá trình tiếp thị khách hàng.
1.2.1.2. Đánh giá rủi ro
Bước này làm cơ sở cho việc xác định phí và đề xuất các phương án đề
phòng và hạn chế tổn thất hiệu quả. Đồng thời nó cũng liên quan trực tiếp đến
công tác bồi thường sau này.
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của khách hàng, công ty sẽ
tiến hành việc điều tra và đánh giá nguy cơ có liên quan đến các rủi ro được
yêu cầu bảo hiểm. Phương thức đánh giá rủi ro được sử dụng phổ biến là nhân
viên khai thác sẽ đưa cho khách hàng một bảng câu hỏi đánh giá rủi ro và yêu
cầu khách hàng điền đầy đủ thông tin vào bảng này. Đối với những trường
hợp đơn bảo hiểm có giá trị nhỏ, khai thác viên có thể thực hiện việc đánh giá
rủi ro thông qua nghiên cứu bảng câu hỏi và trao đổi thư từ với người yêu cầu
bảo hiểm. Hoặc có thể cán bộ khai thác sẽ cử một nhân viên bán bảo hiểm tại
địa phương đến thăm đối tượng được bảo hiểm. Tuy nhiên, điều này không thể
áp dụng được với các trường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn và phức tạp. Bởi
vì các chi tiết về rủi ro không chỉ giới hạn trong một bảng câu hỏi, dù bảng
câu hỏi này lớn. Nên đối với những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn thì công
ty bảo hiểm có thể cử giám định viên hoặc cộng tác viên đến tận nơi để xem
xét về đối tượng được bảo hiểm.
Sau khi tiến hành đánh giá rủi ro, nếu nhận thấy không thể bảo hiểm
cho đối tượng này được thì cán bộ khai thác phải thông báo bằng văn bản tới

Sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Hợp đồng này sẽ được đưa lên
trình lãnh đạo để đóng dấu và thực hiện lưu đơn bảo hiểm.
Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, hợp đồng sẽ được công ty quản
lý và theo dõi, nhằm đảm bảo việc thu phí đúng và đủ theo cam kết. Trong
trường hợp, khách hàng yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung tài sản được bảo hiểm
về giá trị, về số lượng tài sản…thì công ty cần phải xem xét để có thể đáp ứng
tốt nhất nhu cầu của khách hàng mà không ảnh hưởng đến lợi ích của công ty.
1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình khai thác nghiệp vụ bảo
hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.3.1 Chỉ tiêu phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
Hàng năm các doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch khai thác cho từng
nghiệp vụ cụ thể trong đó có cả nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ. Để lập
và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch khai thác có thể vận dụng các chỉ số
sau:
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
+ Chỉ số nhiệm vụ kế hoạch (i
NK
)
i
NK
=
+ Chỉ số hoàn thành kế hoạch (i
HK
):
i
NK
=
+ Chỉ số thực hiện (i):

với các chỉ tiêu: Tổng số hợp đồng bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm.
1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy
và các rủi ro phụ
Ta có thể đánh giá qua 2 góc độ:
● Góc độ kinh tế :
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm được do bằng tỉ số
giữa doanh thu với tổng chi phí chi ra trong kỳ và được tính thông qua chỉ
tiêu:
H
k
= D / C
Trong đó H
k
: Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
23
0
y
y
k
k
y
y
1
0
1
y
y
0
1

thác được nhiều hợp đồng bảo hiểm.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và
các rủi ro phụ
1.5.1. Yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Uy tín, thương hiệu của công ty
Uy tín và thương hiệu của công ty là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
tới hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ nói riêng
và tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm nói chung. Riêng đối với bảo hiểm cháy và
các rủi ro phụ đây còn là một yếu tố đặc biệt quan trọng hơn vì khi sự kiện bảo
hiểm xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng con người, tài sản với mức thiệt
hại là rất cao, mức ảnh hưởng rộng lớn.
Một công ty bảo hiểm đã có thời gian hoạt động dài, đã tạo được uy tín
về thương hiệu của công ty trên thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ thì
sẽ thuận lợi hơn cho công tác khai thác các sản phẩm bảo hiểm, nhiều người
biết đến sẽ thu hút được nhiều khách hàng, rút ngắn được quá trình khai thác.
Ngược lại nếu công ty mới thành lập và chưa khẳng định được uy tín thì sẽ
khó khăn hơn trong hoạt động khai thác nghiệp vụ này.
Chính vì vậy, các công ty bảo hiểm ngoài việc chú trọng hoạt động kinh
doanh bảo hiểm phải có những hoạt động khác nhằm tạo được niềm tin của
SV thực hiện: Tống Thị Như Quỳnh Lớp Đ3BH2
24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
khách hàng, nâng cao được uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường bảo
hiểm cháy và các rủi ro phụ.
1.5.1.2. Yếu tố thuộc về sản phẩm bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Sản phẩm bảo hiểm phải phù hợp với nhu cầu muốn tham gia bảo hiểm,
phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.
Khi khách hàng tham gia một sản phẩm bảo hiểm của công ty nào họ
thường quan tâm tới các vấn đề sau của sản phẩm bảo hiểm:
Đối tượng, phạm vi bảo hiểm của sản phẩm đó có phù hợp với nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status