luận văn quan hệ thương mai giữa việt nam và nhật bản thực trạng và giải pháp - Pdf 12



Luận văn: Quan hệ Thương mai giữa
Việt Nam và Nhật Bản thực trạng và
giải pháp
Quan hệ Thương mai giữa Việt
Nam và Nhật Bản thực trạng và
giải pháp
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ
THƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN
1.1 Cơ sở lý luận.
Có thể nói, chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, tạo ra
một diện mạo mới cho các quan hệ kinh tế quốc tế. Nó tác động lớn tới nhiều quốc gia,
làm thay đổi hẳn cục diện thế giới. Mở đầu, đợc đánh dấu bằng sự tan rã của của chế độ
chính trị ở đất nớc Liên Xô và một loạt các nớc Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu. Tình hình
an ninh chính trị trên thế giới, về cơ bản đã ở trong trạng thái ổn định. Nguy cơ của bùng
nổ chiến tranh hạt nhân (thế chiến thứ 3) đã bị đẩy lùi. Ngời ta đã cảm thấy yên tâm hơn,
để tập trung vào đầu t phát triển kinh tế và củng cố đất nớc. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn

với một môi trờng kinh tế quốc tế mới, đã và đang thay đổi. Mục tiêu cuối cùng của các
nhà kinh doanh là lợi nhuận, thị phần và những ảnh hởng quốc tế ngày càng sâu rộng của
mình tới thị trờng các nớc. Để đạt đợc mục đích này, các quốc gia phải bắt kịp, thích ứng
và thậm chí phải đón đầu, đi trớc thời đại với những công nghệ mới hiện đại và cả những
triển vọng phát triển mới của nền kinh tế thế giới trong tơng lai.
Thứ hai, trong quá trình toàn cầu hoá, tiến bộ công nghệ nói chung, đặc biệt là sự
bùng nổ của cách mạng tin học trong những năm gần đây, đã đẩy mạnh, đẩy nhanh quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tin học trong nhiều quốc gia
trên thế giới. Đây là nhân tố nổi bật, giúp cho việc điều hành dễ dàng, các hoạt động kinh
tế quốc tế phân tán ở nhiều nớc khác nhau trên thế giới. Bằng cách sử dụng rộng rãi các
thiết bị tin học, viễn thông ở nhiều quốc gia. Nhờ đó mà, các quốc gia phát triển và các
nhà kinh doanh, doanh nghiệp… không những có thể mở rộng các hoạt động kinh tế về
quy mô ra nớc ngoài, mà còn có thể tăng cờng các hoạt động kinh tế về chiều sâu, đổi mới
về phơng thức tổ chức và quản lý.
Thứ ba, dới tác động của toàn cầu hoá và cách mạng tin học, quá trình liên kết khu
vực cũng đang diễn ra mạnh mẽ giữa các nớc, đòi hỏi các quốc gia phải sử dụng tối u các
nguồn lực để hội nhập có hiệu quả vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.
Các tiến trình này sẽ làm nảy sinh nhu cầu kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách thơng mại
với đầu t và viện trợ…, đẩy mạnh tự do hoá thị trờng, bằng cách dỡ bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan giữa các nớc.
Tuy nhiên, toàn cầu hoá kinh tế nh con dao hai lỡi. Một mặt nó là cỗ xe có động cơ
mạnh làm tăng tốc độ phát triển kinh tế, tạo cơ hội to lớn để cải thiện điều kiện sống của
ngời dân ở các nớc giầu lẫn nớc nghèo. Nhng mặt khác, nó cũng là cả một tiến trình đầy
gian nan và thách thức. Nó sẽ tiến công vào chủ quyền của mỗi quốc gia, có thể làm xói
mòn nền văn hoá và truyền thống của dân tộc, dẫn tới nguy cơ phân hoá xã hội, tạo ra hố
ngăn cách giữa các quốc gia cũng nh các tầng lớp trong xã hội và nó ngày càng trở nên
mạnh mẽ và sâu sắc hơn.
Nh vậy toàn cầu hoá là một xu hớng khách quan và xu hớng này đang trong quá
trình vận động không ngừng, tạo những cơ hội và cả những thách thức cho tất cả các quốc
gia. Vì vậy, các quốc gia cần phải biết khai thác những u thế và hạn chế những thách thức

Nam Á (ASEAN).
APEC đợc thành lập vào tháng 11 năm1989. Lúc đầu, chỉ có 18 nớc thành viên.
Hiện nay, có 21 nớc trong đó có Nhật Bản và Việt Nam. Đây là tổ chức hợp tác kinh tế
khu vực có quy mô lớn nhất thế giới. Dân số xấp xỉ 2165,5 triệu ngời (bằng 45,6 % dân số
thế giới); diện tích lãnh thổ 43.631,8 triệu km
2
(chiếm khoảng 46,7 % diện tích lãnh thổ
của toàn thế giới); GDP 15.526,23 tỷ USD (chiếm khoảng 55,8 % GDP của toàn thế giới);
và kim ngạch xuất khẩu 2.255,6 tỷ USD (chiếm khoảng 43,8 % tổng kim ngạch xuất khẩu
của toàn thế giới). Chính vì vậy, mô hình hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dơng và tiềm
năng to lớn của sự hợp tác kinh tế - kỹ thuật của APEC, đã và đang cuốn hút sự chú ý của
toàn thế giới. Thế kỷ 21 này, chắc chắn sẽ là thế kỷ phát triển đầy năng động của khu vực
Châu Á Thái Bình Dơng mà APEC là tổ chức hạt nhân. Việt Nam và Nhật bản đều là
thành viên chính thức của APEC. Do đó, các quan hệ kinh tế song phơng giữa hai nớc
cũng chịu sự ràng buộc, chi phối của những nguyên tắc mà tổ chức này đã đề ra.
Cùng với APEC, tổ chức kinh tế khu vực thứ hai có vai trò quan trọng, ảnh hởng
trực tiếp đến các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Nhật Bản là hiệp hội các nớc
Đông Nam Á (ASEAN).
ASEAN đợc thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967, lúc đầu thành lập mới có 5 nớc
thành viên. Hiện nay, đã phát triển và mở rộng ra toàn bộ các nớc Đông Nam Á. Bao gồm
11 nớc, trong đó có Việt Nam. Ngay trong ngày đầu thành lập, ASEAN đã long trọng
tuyên bố mục tiêu hàng đầu của Hiệp hội là: “Thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã
hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình
đẳng, hợp tác nhằm tăng cờng cơ sở vật chất cho một cộng đồng các nớc Đông Nam Á hoà
bình, hợp tác và thịnh vợng”. Kể từ đó cho đến nay, các nớc này luôn coi hợp tác kinh tế là
một trong những nội dung chủ yếu trong các hoạt động của mình. Là một nớc thành viên
của ASEAN, các quan hệ kinh tế của Việt Nam với Nhật Bản, nhất là trong quan hệ của
ASEAN cộng 3 gồm (Trung Quốc; Nhật Bản; Hàn Quốc) vừa chịu sự chi phối của những
nguyên tắc chung trong hợp tác kinh tế của Hiệp hội với các nớc trong khu vực và các khu
vực khác, vừa nằm trong bối cảnh chung quốc tế, chịu sự chi phối của các chính sách kinh

biến chuyển tình hình kinh tế thế giới, chủ yếu dựa vào sức mạnh kinh tế của mình, các
nhà hoạch định chính sách kinh tế Nhật Bản đã xây dựng chiến lợc kinh tế, với mục tiêu
vơn lên trở thành một cờng quốc cả về kinh tế lẫn chính trị.
Mục tiêu của Nhật Bản trong những năm tiếp tới đây là, vơn lên vị trí trở thành một
cờng quốc chính trị, kinh tế. Mục tiêu này đợc thể hiện rất rõ trong chiến lợc kinh tế nói
chung và trong chiến lợc kinh tế đối ngoại nói riêng của Nhật Bản. Nhật Bản từng bớc
giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ, vơn lên vị trí ngang hàng với Mỹ (Nhật Bản có thể trả lời
“không” trong đàm phán với Mỹ). Để thực hiện đợc chiến lợc đó, Nhật Bản ra sức phát
triển quan hệ với các khu vực kinh tế thông qua hoạt động thơng mại, đầu t trực tiếp và các
khoản viện trợ cho các nớc. Bên cạnh đó, trớc sự tăng trởng kinh tế mạnh mẽ của các
quốc gia khu vực Châu Á trong vài thập kỷ qua và với những lợi thế gần gũi về mặt địa lý,
văn hoá xã hội, Nhật Bản đã xây dựng đợc mối quan hệ tốt đẹp với các nớc. Họ đã có một
chiến lợc kinh tế đối với các khu vực Châu Á. Đây đợc coi là chiến lợc trọng tâm để phát
triển chiến lợc kinh tế đối ngoại của Chính phủ Nhật Bản trong thời gian tới.
Thay đổi chiến lợc của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh là, chú trọng vào khu
vực Châu Á - Thái Bình Dơng, phát triển các quan hệ phụ thuộc lẫn nhau cùng nhau phát
triển trong khu vực; phát huy vai trò toàn diện của các tổ chức hợp tác khu vực. Hợp tác
với các tổ chức quốc tế nh Liên Hợp Quốc và tổ chức mậu dịch thế giới Điều này, thể
hiện trong chính sách áp dụng vào Châu Á của Nhật Bản, nhằm phát huy tối đa vai trò của
mình ở Châu Á và sử dụng Châu Á làm căn cứ để Nhật Bản vơn lên trở thành một cờng
quốc. Nhật Bản tranh thủ sự phát triển kinh tế của ở Đông Á để đối phó với những chính
sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và bảo vệ lợi ích của Nhật Bản ở Châu Á - Thái Bình Dơng
bằng các cơ chế kinh tế. Đồng thời đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc xây dựng trật tự
mới ở Châu Á. Thông qua cuộc họp thợng đỉnh APEC ở Seattle, Nhật Bản cảm thấy Mỹ
đang chuyển chính sách hớng về Châu Á. Sợ rằng, vai trò lãnh đạo Châu Á - Thái Bình
Dơng sẽ có thể rơi vào tay Mỹ sẽ làm mất đi vai trò ảnh hởng của mình. Hơn nữa, trớc
việc Mỹ, Canada, Mêhicô tăng cờng bảo hộ mậu dịch với việc thành lập khu vực mậu dịch
tự do của ba nớc và sự lớn mạnh của cộng đồng kinh tế Châu Á đã buộc Nhật Bản phải có
chính sách phát triển hợp lý trong trong nội bộ nớc mình và đối với các nớc Châu Á.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, Nhật Bản luôn giữ vai trò là đại diện ở khu vực Châu

về chế độ chính trị là một trở ngại trong việc xác lập các quan hệ quốc tế, tin cậy lẫn nhau
mà ngời ta cố gắng vợt lên, song đã không thành công thì ngày nay tình hình đã đổi khác.
Chính bối cảnh này, tình hình khu vực đã tạo tiền đề cho Nhật Bản thực thi
tốt chính sách mở rộng hợp tác kinh tế, chính trị và văn hoá với các nớc ASEAN, trong đó
có Việt Nam.
Trên cơ sở đó có thể thấy rằng, vào đầu thập kỷ 90, quan hệ hai nớc Việt Nam -
Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Tạo cơ sở vững chắc cho
sự phát triển ổn định trong thế kỷ XXI. Trong giai đoạn quá độ của quá trình toàn cầu hoá,
việc cơ cấu lại tơng quan lực lợng trong khu vực và trên thế giới, làm cho quan hệ Việt –
Nhật có điều kiện phát triển thuận lợi hơn so với các nớc khác, do hai nớc có những lợi ích
tơng đồng là cùng ở Châu Á; cùng có nhu cầu hoà bình và ổn định để phát triển; có tiềm
năng kinh tế cần bổ sung cho nhau và cần có sự ủng hộ lẫn nhau trong việc nâng cao vai
trò chính trị ở khu vực cũng nh trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam ngày càng có vị trí quan
trọng trong chính sách của Nhật Bản đối với Châu Á - Thái Bình Dơng đặc biệt là Đông
Nam Á. Trong sự vận động của quan hệ Nhật – Mỹ, Nhật – Trung, Nhật – ASEAN, Nhật
Bản có lợi ích lớn về kinh tế, chính trị… trong quan hệ với Việt Nam.
1.2.2 Các nhân tố từ phía Việt Nam
Nớc ta và một số nớc khác, đã có lúc xem xét vấn đề độc lập kinh tế, xây dựng một
nền kinh tế hoàn chỉnh mang tính tự túc (tự cung tự cấp) để tránh sự lệ thuộc vào bên
ngoài. Có thể nói, việc mở rộng thơng mại quốc tế cùng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
khác, vận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quý báu, đợc rút ra từ thực tiễn của
nớc ta trong những năm qua. Kế thừa và phát huy có chọn lọc các quan điểm đổi mới của
Đại hội Đảng VI, Đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra nh: chiến lợc
ổn định và phát triển kinh tế – Xã hội đến năm 2000 tiếp tục khẳng định quyết tâm thực
hiện công cuộc đổi mới, phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự định hớng của nhà nớc theo định hớng XHCN. Trong lĩnh vực
ngoại thơng, để tiến tới “tự do hoá thơng mại”, từng bớc tham gia, hội nhập với các tổ
chức thơng mại khu vực và toàn cầu, nhiều văn bản, chính sách mới về các hoạt động xuất
nhập khẩu, đặc biệt là khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nớc sản xuất
kinh doanh hàng xuất khẩu, kêu gọi các nhà đầu t nớc ngoài tham gia đầu t liên doanh với

Việt Nam, hiện đang trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi, quá trình tái cơ cấu
nền kinh tế theo hớng CNH – HĐH đang đợc đẩy mạnh. Chu trình đổi mới toàn diện đợc
bắt đầu từ năm 1986, đã làm cho nền kinh tế thay đổi một cách cơ bản. Những thành tựu,
mới đạt đợc là bớc đầu nhng rất quan trọng. Nh việc chuyển từ một nền kinh tế thiếu hụt
về lơng thực, thực phẩm sang một nền kinh tế có d thừa và xuất khẩu lơng thực, kiểm soát
đợc lạm phát, không ngừng mở rộng, phát triển các mối quan hệ kinh tế với các nớc bên
ngoài, tăng trởng kinh tế cao, cải thiện điều kiện sống… và những nhu cầu cơ bản khác
của mọi tầng lớp xã hội đợc đáp ứng. Điều quan trọng nhất là, sự chuyển đổi của cả một
hệ thống kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đó là những nhân tố quyết
định, đánh dấu sự cố gắng nỗ lực của toàn thể dân tộc Việt Nam để đạt tới “điểm cất cánh”.
Và đây cũng là những nhân tố, làm cho Việt Nam có khả năng thực hiện một chiến lợc
mới về CNH – HĐH đất nớc. Để thực hiện đợc chiến lợc mới này trong tơng lại, Việt Nam
cần thực hiện ba nhiệm vụ chiến lợc chính sau đây:
- Thứ nhất; phát triển cơ sở hạ tầng Kinh tế - Xã hội và thực hiện tái đầu t theo
hớng CNH – HĐH.
- Thứ hai; Tổ chức lại và phát triển các lực lợng chủ chốt trong cơ cấu kinh tế đa sở
hữu, đặc biệt là khu vực nhà nớc một khu vực đóng góp rất lớn cho tổng thu nhập quốc
dân (GDP) của Việt Nam. Nó có thể tiếp tục, đóng vai trò là lực lợng chính và cơ bản
trong nền kinh tế thị trờng trong khoảng hai đến ba thập kỷ tới.
- Thực hiện chính sách: kết hợp giữa tăng trởng cao với công bằng xã hội.
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ này, Việt Nam phải đơng đầu với những khó khăn
lớn nh:
+ Thiếu hụt vốn.
+ Thiếu công nghệ hiện đại.
+ Thiếu kinh nghiệm quản lý cả về vĩ mô cũng nh là vi mô.
+ Sự cách biệt thu nhập ngày càng gia tăng tạo nên hố ngăn cách, phân hoá giữa
giầu và nghèo. Những tiêu cực trong phát triển nền kinh tế thị trờng nh: tham nhũng, buôn
lậu và sự sa sút môi trờng…
Những khó khăn trên đây, không thể vợt qua đợc nếu chỉ dựa vào những nỗ lực của
bản thân Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Thực hiện chính sách đối ngoại theo hớng đổi

luồng vốn đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, sẽ cải thiện phần nào tình trạng
thiếu vốn, thiếu công nghệ mà các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam đang vấp
phải.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại với Nhật Bản, Việt Nam nhận đợc nhiều những
khoản viện trợ phát triển chính thức (ODA) từ Nhật Bản. Đây là hoạt động viện trợ mang
tính chất chính phủ của Nhật Bản đối với công cuộc kiến thiết, phát triển đất nớc của Việt
Nam. Hoạt động này đợc chính phủ Nhật Bản tiến hành từ khá lâu và đóng một vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam cho tới nay. Thông qua nguồn
vốn ODA, Nhật bản đã hỗ trợ cho Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vốn
lạc hậu, h hỏng và xuống cấp nghiêm trọng. Với các dự án xây dựng, tu sửa đờng xá, cẩu
cống, xây dựng hệ thống thông tin liện lạc, khai thác nguồn năng lợng… làm thay đổi bộ
mặt của đất nớc, đồng thời làm tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc ngoài.
Trong quan hệ kinh tế – thơng mại giữa Việt Nam – Nhật bản, không chỉ mang lại
nhiều thuận lợi cho Việt Nam mà về phía Nhật Bản cũng có nhiều lợi ích, góp phần vào
mục tiêu kinh tế – chính trị của họ. Về mặt kinh tế, Việt Nam là một thị trờng rộng lớn của
các doanh nghiệp Nhật Bản, đặc biệt là các mặt hàng nh đồ điện tử, điện lạnh. xe máy, ô
tô….
Ngoài ra, Việt Nam còn là một quốc gia có nguồn tài nguyên tơng đối đa dạng và
phong phú. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và
các cây công nghiệp. Bờ biển từ Bắc xuống Nam của Việt Nam chuyển hớng, uốn khúc
theo hình chữ “S”, kéo dài trên 15 vĩ độ. Bờ biển dài trên 3000 km là điểm thuận lợi để
Việt Nam phát triển các ngành thuỷ hải sản, cảng biển vận tải biển, du lịch, giao thông.
Bên cạnh đó, vùng Biển Việt Nam có thềm lục địa mở rộng hứa hẹn nhiều tài nguyên
khoáng sản đặc biệt là các kim loại quí hiếm và dầu mỏ. Mặt khác, cùng với sự gia tăng
đầu t sang Việt Nam, một thị trờng lao động rẻ, trẻ, có trình độ văn hoá khá… Các doanh
nghiệp Nhật Bản cũng tiết kiệm đợc chi phí sản xuất, cạnh tranh tốt hơn trong xuất khẩu,
gia tăng hiệu quả của nền sản xuất nói chung.
Ngoài những lợi ích về kinh tế, Nhật Bản còn đạt đợc những mục tiêu chính trị của
mình. Có thể nhận thấy rằng, từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995, bình thờng
hoá quan hệ với Mỹ, đợc xét kết nạp vào diễn đàn APEC, cùng với những hoạt động tại

THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN TỪ NĂM
1992 ĐẾN NAY
Sau hơn 30 năm (1973 – 2004) thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, quan hệ
kinh tế thơng mại giữa Việt Nam - Nhật Bản trong mối quan hệ mới không ngừng đợc
củng cố và hoàn thiện. Trên cơ sở lợi ích riêng của hai nớc, mặc dù có sự khác biệt về
chính trị, nhng hai nớc đã có nhiều cố gắng duy trì và phát triển mối quan hệ này. Đặc biệt
từ năm 1992 đến nay, do đã có các bớc tiến triển khả quan với nhiều sự kiện lớn trong
quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế giữa hai nớc khiến cho các hoạt động xuất nhập khẩu
đã diễn ra với tốc độ và quy mô ngày càng mạnh mẽ, sôi động hơn hẳn so với giai đoạn từ
năm 1986 đến 1991. Trớc khi đề cập đến quan hệ giữa hai bên từ năm 1992 đến nay,
chúng ta cần có cái nhìn tổng quan nhất về động thái phát triển kinh tế thơng mại giữa hai
nớc giai đoạn trớc năm 1992.
2.1 Sự tiến triển của quan hệ thơng mại giữa Việt Nam – Nhật Bản từ năm
1973 đến năm 1991
Sau khi hiệp định Pari, về việc chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam đợc ký kết,
ngày 21/9/1973 Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai
nớc. Hai năm sau, vào tháng 10 năm 1975, cả hai bên đã cùng mở đại sứ quán ở thủ đô của
nhau. Đã mở ra, một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nớc. Cũng từ đó,
quan hệ hai nớc bớc sang một trang mới.
Trớc năm 1986, ngoài quan hệ với các thị trờng truyền thống khu vực 1 (các nớc
XHCN) Việt Nam đã từng bớc mở rộng quan hệ thơng mại với các nớc khác, các thị trờng
khu vực II (các nớc TBCN và các nớc đang phát triển). Đặc biệt năm 1976, Nhật Bản đã
trở thành bạn hàng lớn thứ hai sau Liên Xô về cả xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá.
Bảng 1: Danh sách 5 bạn hàng xuất khẩu lớn nhất cuả Việt Nam giai đoạn
(1976 – 1990)
Nớc Tỷ trọng trong tổng Kim ngạch
Xuật khẩu Việt nam (%)
Xếp
hạng
Liên

Kông
2.1 5
Nguồn: Nguyễn Trần Quế - Kinh tế đối ngoại Việt Nam – thực tiễn và chính sách.
Viện kinh tế thế giới, Hà Nội, 1992
Trong ba năm liền từ năm 1976 - 1978, quan hệ mậu dịch của hai nớc tiếp tục phát
triển, với tổng kim ngạch hàng năm tơng ứng khoảng 159 triệu USD, 247 triệu USD và
268 triệu USD. Nh vậy, có sự gia tăng quá nhanh về quy mô và giá trị.
Bớc sang năm 1979, do nhiều yếu tố phi kinh tế tác động nên mậu dịch song phơng
của hai nớc có sự giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu chỉ còn 50 triệu USD, nhiều hợp đồng
làm ăn bị hoãn lại. Lý do cơ bản là vì các năm này, Nhật Bản không vợt ra khỏi áp lực
chính trị vì ảnh hởng d luận phản đối của các nớc t bản chủ nghĩa trên thế giới mà đứng
đầu không phải ai khác là Mỹ. Về thực trạng diễn biến quân sự, chính trị giữa Việt Nam và
Trung Quốc qua cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc dẹp bỏ chế độ Pôn-Pốt của Việt
Nam ở Campuchia phía Tây Nam, cộng thêm một số vấn đề khác nữa… Đã dẫn đến quyết
định tối cao của Bộ ngoại giao Nhật Bản ngày 8/1/1987, là sẽ hoãn viện trợ cho Việt Nam
cho đến khi nào các vấn đề trên đợc giải quyết ổn thoả. Tuy nhiên, Nhật Bản chỉ đình chỉ
mọi cuộc tiếp xúc ngoại giao hoặc tài trợ nhân đạo. Nói cách khác, đồng thời với việc đình
chỉ tài trợ kinh tế, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì sự giúp đỡ nhân đạo cho Việt Nam trong
suốt thời gian từ năm 1979 đến trớc khi nối lại tài trợ ODA toàn diện cho Việt Nam năm
1992.
Bảng 3: Tài trợ của Nhật Bản và các nớc thuộc tổ chức DAC cho Việt Nam thời
kỳ 1979 – 1991
(đơn vị: triệu đô la Mỹ)

m
Từ
Nhật Bản
Từ
DAC


198
9
1,6 -
198
3
0,7 73,5 199
0
1,3 -
198
4
1,1 80,7 199
1
7,1 107,
7
198
5
0,6 54,2
(Nguồn: OECD, Development Assistance Committe Statistic và Japan’s ODA
Annual Report 1995)
Từ năm 1983 – 1986, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam – Nhật Bản có xu hớng gia
tăng. Hoạt động xuất nhập khẩu đợc đẩy mạnh, điều này xuất phát từ nhu cầu kinh tế của
cả đôi bên nh: Việt Nam muốn có các sản phẩm hàng hoá công nghiệp cần thiết, phục vụ
cho nhu cầu thiết yếu, các thiết bị công nghệ hiện đại, phục vụ cho việc CNH - HĐH đất
nớc. Còn về phía Nhật Bản, họ lại muốn khai thác tài nguyên thiên nhiên, thị trờng, lao
động… của Việt Nam. Do vậy mà tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 214 triệu USD
vào năm 1985. Trong đó, Việt Nam xuất sang Nhật Bản những sản phẩm thô có giá trị
thấp và nhập từ Nhật những hàng hoá có hàm lợng “chất xám” cao.
Bảng 4: Buôn bán giữa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn (1973 – 1986)
(đơn vị: Nghìn đồng)
N

980
48.627 113.090 161.717
1
981
37.334 109.449 146.793
1
982
36.018 92.339 128.357
1
983
37.625 119.221 156.846
1
984
51.206 119.221 170.224
1
985
65.027 148.036 213.863
1
986
82.923 189.187 272.110
Nguồn; Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế Nhật Bản
(Ghi chú: Từ năm 1973 – 1975, chỉ tính kim ngạch buôn bán với Bắc Việt Nam)
Giữa những năm 1980, nớc ta rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng do
lạm phát ba con số (lạm phát phi mã) gây nên. Đời sống của nhân dân rất khó khăn. Bên
cạnh đó, Mỹ lại thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, ngừng viện trợ và đầu t, kể cả các
khoản đã cam kết với chính phủ Việt Nam. Trớc tình hình đó năm 1986, nớc ta đã thực
hiện một bớc chuyển đổi cơ bản, từ chỗ nền kinh tế đóng sang mở cửa nền kinh tế. Việc
chuyển đổi này, đã giúp Việt Nam gặt hái đợc nhiều thành công trong thơng mại quốc tế.
Đợc sự ủng hộ và quan tâm hợp tác phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Nhật
Bản. Chỉ riêng trong lĩnh vực ngoại thơng, các hoạt động xuất nhập khẩu đều có sự tăng

yếu tố Việt Nam – sự tiếp tục đổi mới kinh tế, những lợi thế và nhu cầu lợi ích… là những
yếu tố “bên trong” quan trọng thúc đẩy sự tái lập và phát triển quan hệ kinh tế với Nhật
Bản. Cả hai yếu tố này đều không thế thiếu, trong việc tạo ra cơ sở để cho quan hệ giữa
Việt – Nhật đợc phát triển.
- “Yếu tố Nhật Bản”, cũng là yếu tố “bên trong” không kém phần quan trọng trong
việc thúc đẩy quan hệ của hai nớc. Nói khác đi, chính tiếm lực kinh tế, chính sách kinh tế
đối ngoại hớng về Châu Á và lợi ích của Nhật Bản trong quan hệ với Việt Nam đã tạo ra
cơ sở cho quan hệ song phơng Việt Nam – Nhật Bản đợc phát triển.
2.2 Thực trạng phát triển Quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn
từ năm 1992 đến nay.
2.2.1 Tình hình chung của quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong
giai đoạn từ 1992 đến nay.
Trong thời kỳ từ năm 1991 đến năm 1996, là thời kỳ khó khăn nhất của Việt Nam,
do khối thị trờng mà Việt Nam có quan hệ chính trong hơn 40 năm qua là Liên Xô và các
nớc Đông Âu cũ đã bị sụp đổ vaò năm 1991. Thời kỳ có nhiều sự kiện quan trọng, tạo bớc
ngoặt lớn trong quá trình phát triển kinh tế của nớc ta. Trớc năm 1991, khối thị trờng Liên
Xô và các nớc Đông Âu cũ, chiếm tới hơn 50% thị phần xuất khẩu và gần 60% thị phần
nhập khẩu của Việt Nam. Sự sụp đổ của khối thị trờng này, làm cho kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam giảm 13% và kim ngạch nhập khẩu giảm 15% vào năm 1991. Nhng nhờ có
chính sách đổi mới của Chính phủ, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế
khu vực, thế giới. Kết quả cho thấy thị trờng xuất nhập khẩu của Việt Nam đợc mở rộng,
từ quan hệ ngoại thơng với 40 nớc năm 1990 đã tăng lên 174 quốc gia và vùng lãnh thổ
năm 2003, trong đó hai châu lục có nhiều bạn hàng nhất là Châu Á (27,9%) và Châu Phi là
(25,6%). Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thơng nói riêng, nhờ
có nỗ lực thực thi một chiến lợc phát triển kinh tế mở với nhiều giải pháp chính sách, cơ
chế quản lý ngày càng thông thoáng hơn trớc, nên chúng ta đã đợc sự quan tâm ủng hộ
hợp tác phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau
trên thế giới, do đó đã gặt hái đợc nhiều thành công trong mọi hoạt động kinh tế đối ngoại.
Điều khá nổi bật, đang đợc nhiều nhà ngoại giao, nhà kinh doanh quan tâm. Và cũng chính
ở thời kỳ này, quan hệ Việt - Nhật đợc phát triển mạnh mẽ và toàn diện. Mang trong nó

ngoài đối với Nhật Bản. Điều cần lu ý là về phía những nhân tố chủ quan Nhật Bản đã tạo
ra. Nh đã phân tích ở chơng 1, sở dĩ trong suốt thập niên 90 vừa qua, đã có nhiều nỗ lực
trong các quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại với Việt Nam còn là do sự chuyển hớng chiến
lợc trong chính sách đối ngoại và chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản đối với các
nớc ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.
2.2.2 Thực trạng phát triển quan hệ thơng mại Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn từ
năm 1992 đến nay.
Nh đã phân tích ở trên, quan hệ thơng mại Việt Nam – Nhật Bản ngày càng phát
triển, nhất là từ năm 1992 trở lại đây, do chính sách hợp tác hữu nghị, đã làm cải thiện
thông thoáng hơn, sau khi có sự kiện Phía Nhật Bản đã chính thức nối lại viện trợ phát
triển chính thức (ODA) cho Việt Nam vào tháng 11/1992. Đặc biệt là sau một loạt các sự
kiện quan trọng trong hai năm 1994 và 1995: Mỹ huỷ bỏ chính sách cấm vận thơng mại
chống Việt Nam vàn tháng 7/1995; Việt Nam gia nhập ASEAN cũng vào tháng 7/1995 thì
các quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản càng đợc phát
triển mạnh mẽ và sôi động hơn.
Nếu tính từ năm 1986, là năm khởi đầu công cuộc đổi mới với tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu giữa hai nớc mới ở mức rất khiêm tốn chỉ có 272 triệu USD, thì sau 5 năm đổi
mới, năm 1991 con số đó đã lên tới 879 triệu USD tăng gần gấp 3,2 lần đến năm 2001 đã
là 4.690 triệu USD tăng gấp 5,3 lần so với năm 1991. Năm 2003 trong 6 tháng đầu năm,
xuất khẩu sang Nhật đạt 1.370 triệu USD (tăng 32,9 % so với cùng kỳ năm 2002) với các
mặt hàng xuất khẩu chính là đồ thủy sản, dầu thô và các sản phẩm dệt may. Đặc biệt là các
sản phẩm từ sữa. Nhập khẩu 6 tháng đầu năm từ Nhật đạt 1.470 triệu USD (tăng 2,98 % so
với cùng kỳ năm 2002) các mặt hàng nhập khẩu chính là máy móc, thiết bị và phụ tùng
máy móc thiết bị, sắt/thép, máy tính và các linh kiện máy tính
Bảng 5: Tỷ trọng kim ngạch XNK Việt – Nhật trong tổng kim ngạch XNK của
Nhật Bản thời kỳ 1992 – 2003
(đơn vị: triệu USD)
N
ăm
XNK Việt –

000
4,653 925.926 0,50
2
001
5,725 914.119 0,63
2
002
4,950
2
003*
2,840
(Nguồn : Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản JETRO)
Ghi chú: (*) - Tính trong 6 tháng đầu năm
Từ Bảng 4, cho ta thấy tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật trong tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản tăng rõ rệt trong từng năm. Điều đó thể hiện mối
quan tâm của Nhật Bản đối với thị trờng Việt Nam và triển vọng của mối quan hệ thơng
mại này. Những bảng số liệu trên cũng cho thấy thơng mại của Nhật Bản với Việt Nam chỉ
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ bé 0,63 % năm 2001, nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ trọng các nớc
nh Trung Quốc là 13,2 %; Singapore là 2,9 %; Malaysia là 2,7%; Thái Lan là 2,6%;
Philippin là 1,7%. Trong khi đó, bảng 5 lại cho thấy tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của
Việt – Nhật trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lại khá cao, chiếm tỷ trọng
trung bình 15,7%. Điều này phản ánh sự phụ thuộc khá lớn của Việt nam trong quan hệ
thơng mại với Nhật Bản. Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong nền kinh tế Nhật Bản sẽ dẫn đến
những thay đổi lớn cho Việt Nam.
Bảng 6: Tỷ trọng kim ngạch XNK Việt Nam – Nhật Bản trong tổng kim ngạch XNK của
Việt Nam thời kỳ 1992 – 2003
(Đơn vị: triệu USD)
Năm KNXNK Việt –
Nhật
Tổng KNXNK

tâm lý nghi ngờ…). Đây rõ ràng là một trở ngại lớn mà phía Việt Nam cần có giải pháp
kịp thời khắc phục ngay;
* Cho đến nay, nhiều nhà doanh nghiệp Việt Nam thiếu chủ động trong việc thanh
toán nợ thơng mại cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam lại
cha có những chính sách, biện pháp để giải quyết cho nhanh chóng, rõ ràng vấn đề này.
Đây cũng là những đề bức bách mà các nhà doanh nghiệp Nhật Bản đang mong chờ sự hỗ
trợ giải quyết của Chính phủ Việt Nam.
* Mặc dù, quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại Việt Nam – Nhật Bản đã có một tiến
trình phát triển khá lâu dài. Hai bên đã là bạn hàng tin cậy của nhau trong nhiều năm qua.
Nhng cho đến nay phía Việt Nam vẫn cha có các văn phòng xúc tiến thơng mại của Chính
phủ, khiến cho hoạt động thơng mại của Việt Nam với Nhật Bản cũng bị hạn chế đi rất
nhiều. Chính phủ Việt Nam vẫn phó thác việc này cho các tham tán thơng mại tại sứ quán
của mình ở Nhật Bản.
* Cơ sở vật chất của ngành ngoại thơng Việt Nam còn quá nghèo nàn lạc hậu. Chính
vì vậy, đã không đủ để đáp ứng đợc những đòi hỏi của hoạt động buôn bán quốc tế, nhất là
các cơ sở hạ tầng nh kho chứa hàng, các cảng còn chật hẹp, thiết bị bốc dỡ thô sơ, ít đợc
nâng cấp…không đảm bảo cho các phơng tiện vận tải hiện đại nh tàu bè của các bạn hàng
nớc ngoài khi cập bến, cảng…
* Sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia thơng mại có năng lực, trình độ ngoại ngữ, ngoại
giao kinh tế và kinh nghiệm chuyên môn trong không ít các công ty xuất nhập khẩu của
Việt Nam đã làm hạn chế nhiều tới kết quả của các cuộc đàm phán, thơng lợng để ký kết
hoặc triển khai thực thi các hợp đồng thơng mại. Do đó, làm ảnh hởng trực tiếp đến kết
quả của các hoạt động kinh doanh giữa đôi bên. Hạn chế này, cũng cần phải khắc phục
nhanh, và nó trực tiếp liên quan đến việc đào tạo, giáo dục…. đòi hỏi, Chính phủ ta cần
phải quan tâm nhiều hơn na trong việc đổi mới lại, nâng cao công tác giáo dục, đào tạo và

Trích đoạn Triển vọng mối quan hệ thơng mại Việt Nam – Nhật Bản. Những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa Việt Nam Nhật Bản.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status