luận văn tăng thu ngân sách bằng việc thực hiện thu hiệu quả và triệt để các loại thuế - Pdf 12



Luận văn: Tăng thu ngân sách bằng
việc thực hiện thu hiệu quả và triệt để
các loại thuế
Lời nói đầu
Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ
quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân. Như vậy, có thể thấy rằng Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước.
Song để biện pháp đó đạt hiệu quả sẽ rất cần đến một bộ phận chuyên trách, chất
lượng trong quá trình quản lý và hành thu.
Nhận thức được điều này, đồng thời để bắt nhịp được với bước chuyển
biến về cơ cấu, thành phần kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi cải cách hệ
thống Thuế bước hai. Trong đó, nổi bật nhất là việc thay thế 2 sắc thuế Doanh thu
và thuế Lợi tức bằng thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp được
thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999. Đây là bước đi
vô cùng quan trọng, thể hiện sự mạnh dạn của Đảng ta trong công cuộc đổi mới
nền kinh tế. Tuy nhiên sự khởi đầu nào cũng đều có những chắc trở không thể
tránh khỏi, nhất là ở khu vực kinh tế cá thể cả nước nói chung và đặc biệt ở Quận

Phần I: Sự cần thiết phải quản lý thuế giá trị gia tăng đối với thành phần kinh tế
cá thể hiện nay. I. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường:
1. Khái niệm, đặc điểm của thuế.
2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường.
II. Sự cần thiết phải áp dụng thuế giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay:
1. Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị gia tăng thay cho thuế Doanh thu.
2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật.
3. Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng.
III. ý nghĩa của công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh
tế cá thể:
1. Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị
trường.
2. ý nghĩa của việc tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với khu vực
kinh tế cá thể.
Phần II: Tình hình quản lý thu thuế giá trị
gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn Quận Ba Đình quý I năm 2003.
I. Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình quản lý thu thuế trên địa bàn quận
Ba Đình:
1. Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội.
2. Công tác tổ chức bộ máy thu thuế trên địa bàn quận Ba Đình.
II. Tình hình quản lý thu thuế giá trị gia tăng với các hộ kinh tế cá thể trên địa
bàn quận Ba Đình trong những tháng đầu thực hiện luật thuế mới:
1. Quản lý đối tượng nộp thuế. 2. Quản lý căn cứ tính thuế.
3. Quản lý khâu thu nộp tiền thuế.

phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế
ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường,
các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy
định công khai bằng luật pháp của Nhà nước.
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Cùng
với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà
nước ngày càng mở rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của
bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế.
Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối
với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư.
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau,
nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau:
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của
Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân
nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà
nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản động viên qua thuế được thể
chế hoá bằng luật.
Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các hình
thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:
• Đặc điểm thứ nhất : Thuế là một biện pháp tài chính của
Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng
sự bắt buộc này là phi hình sự.
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển
đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành
quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện
quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan,
nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở
Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí. Lệ phí được coi
là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa hưởng
những dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu nhập của
mình cho nhà nước. Tuy nhiên việc trao đổi này thường không tuân thủ theo hình
thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường.
Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, nó được thực thi
khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra. Đặc
biệt, trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên quan
trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong công tác
quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
2. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường:
Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh tế (sản
xuất cái gì, như thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế thị
trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu quả, thúc đẩy
quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung hoá sản
xuất.
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây cho xã
hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền thủ tiêu cạnh
tranh. Với cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu hố ngăn cách giữa
người giầu và người nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã hội. Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước
vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị
trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng. Để quản lý, điều hành vĩ
mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoặch hoá, pháp
luật, các chính sách tài chính tiền tệ vv Trong các công cụ trên thì chính sách

trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản
lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền
kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh
tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi. Bốn mục tiêu đó là:
- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý .
- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.
- ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng
nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.
1. Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm:
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà
nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích
thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong
từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ
kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng
đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng.
- Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất
ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất.
- Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng.
- Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư,
có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự
trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng”
phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm

nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại những mặt
hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu
nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều
chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn
làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng
kinh tế của đất nước.
3. Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên
hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định
giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh
bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích
thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng
thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí tăng,
gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng,
nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi
phí, kích thích tăng năng suất lao động.
4. Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều
kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ
bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước. Điều này được thể hiện
rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc
không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua
chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với
hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập
khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc
hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu

được quy định thấp.
Thuế doanh thu có ưu điểm là tính toán đơn giản, thu dứt điểm từng lần
bán hàng mà không phải theo dõi thoái trả số thuế đã nộp ở khâu trước. Vì vậy,
nguồn thu của các cấp ngân sách và giữa các địa phương cũng tương đối ổn định.
Tuy nhiên, thuế doanh thu có nhiều nhược điểm, trong đó, nhược điểm
lớn nhất là thu thuế trùng lắp. Thuế doanh thu quy định cứ mỗi lần bán hàng là
một lần phải nộp Thuế doanh thu nên càng chuyên môn hoá sâu thì càng phải nộp
nhiều thuế. Ngược lại, nếu tổ chức sản xuất khép kín kiểu tự cấp tự túc thì phải
nộp ít thuế hơn. Do đó, thuế doanh thu không phù hợp với yêu cầu Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Mặt khác, cơ chế thuế có nhiều mức thuế suất để bảo hộ đến
từng ngành hàng, mặt hàng chỉ phù hợp với thời kỳ kế hoặch hoá, thời kì mà giá
cả đại bộ phận hàng hoá đều do Nhà nước thống nhất quản lý.Việc quy định quá
nhiều thuế suất làm cho sắc thuế phức tạp, tạo kẽ hở để trốn thuế, lách thuế. Mặt
khác thuế Doanh thu quy định quá nhiều các trường hợp miễn giảm thuế, nhiều
khi không đúng tính chất của thuế gián thu, gây phức tạp cho quá trình thực hiện,
quản lý.
Sang cơ chế kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá do cung- cầu trên thị
trường quyết định, nếu vẫn duy trì cơ chế nhiều thuế suất thì chỉ làm tăng thêm
khó khăn, phức tạp trong quản lý và tạo nhiều kẽ hở cho trốn lậu thuế Chính vì
vậy, trong cải cách thuế bước II này, Quốc hội đã quyết định ban hành thuế Giá
trị gia tăng để áp dụng từ 1/1/2003 thay thế cho thuế doanh thu.
2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật:
Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Vì chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu bán
hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước, cho nên cách tính
thuế Giá trị gia tăng là rất khoa học, rất cần thiết đối với phát triển sản xuất theo
hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.

quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, hạn chế bớt những sai sót, tiêu cực và
mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế.
+ Thuế Giá trị gia tăng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho Việt nam
hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Rõ ràng, thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm nổi trội hơn thuế doanh thu. Mục
đích chủ yếu của việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng là tạo thêm thuận lợi cho các
cơ sở sản xuất, kinh doanh phát triển, chứ không nhằm tăng mức động viên, càng
không phải là làm cho doanh nghiệp khó khăn.
2.Nội dung cơ bản của Luật thuế Giá trị gia tăng:
Theo luật thuế Giá trị gia tăng đã được quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ
họp thứ 11.
Nghị định số 28/2003/NĐ-CP.
Thông tư số 89/2003/TT-BTC.
• Phạm vi áp dụng :
a. Đối tượng chịu thuế : Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt nam là đối tượng chịu thuế Giá trị gia tăng, trừ các đối tượng
không thuộc diện chịu thuế đã quy định trong luật.
Do những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định trong từng thời kỳ, luật thuế
Giá trị gia tăng quy định 26 nhóm, mặt hàng không thuộc diện chịu thuế Giá trị
gia tăng. Đặc điểm của những hoạt động không phải chịu thuế Giá trị gia tăng là: - Những hoạt động nhà nước cần khuyến khích phát triển nhưng đang gặp
khó khăn. Ví dụ: Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước bán cho người đang
thuê.
- Những hoạt động liên quan đến vốn đầu tư. Ví dụ: Dịch vụ tín dụng và
quỹ đầu gồm hoạt động cho vay vốn, cho thuế tài chính
- Những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ thiết yếu. Ví dụ: Sản phẩm
trồng trọt, chăn nuôi chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế
- Những hoạt động không mang tính kinh doanh. Ví dụ: Vũ khí, khí tài phục

+ Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá gia công
chưa có thuế bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực vật liệu phụ và chi phí
khác để gia công.
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá
xây dựng, lắp đặt chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền hoa
hồng, giá tính thuế Giá trị gia tăng là tiền công hoặc tiền hoa hồng đựơc hưởng
chưa trừ khoản phí tổn nào. + Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá
cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ đặc thù được xác định như sau:
Giá tính Giá thanh toán
thuế =
giá trị gia tăng 1+ Thuế suất(%) thuế GTGT
- Thuế suất:
Luật thuế Giá trị gia tăng quy định 4 mức thuế suất: 0%,5%,10%,20%.
Mục đích của việc quy định 4 mức thuế suất này là nhằm khắc phục nhược
điểm của thuế Doanh thu, là một bước giảm bớt đáng kể sự phức tạp và kém hiệu
quả của cơ chế đa thuế suất. Đồng thời thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và
hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ của nhà nước.
+ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ thiết yếu, phục
vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng.
+ Mức thuế suất 10% là thuế suất phổ thông áp dụng đối với hàng hoá
dịch vụ thông thường nhằm đảm bảo số thu cho NSNN.
+ Mức thuế suất 20% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ không thiết yếu
mà nhà nước cần điều tiết:
. Vàng bạc đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào bán ra.

c. Khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào:
+ Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng
hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ .
+ Thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất kinh
doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng và không chịu thuế giá trị gia
tăng thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng cho sản
xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng.
+ Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác
định số thuế phải nộp của tháng đó.
+ Thuế đã trả cho hàng hoá, vật tư, tài sản cố định, dịch vụ mua vào để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế Giá trị gia
tăng thì không được khấu trừ.
+ Riêng với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn
thì được phép khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế.
d. Hoàn thuế:
Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng chỉ áp dụng cho các đối tượng nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế trong các trường hợp sau:
+ Được xét hoàn thuế khi cơ sở kinh doanh có số thuế Giá trị gia tăng
đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh 3 tháng liên tục.Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng đầu vào được thực hiện trong đầu quý tiếp
theo.
+ Được hoàn thuế Giá trị gia tăng theo từng kỳ hoặc theo tháng khi cơ
sở kinh doanh xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc xuất khẩu theo từng lần với
số lượng lớn phát sinh số thuế đầu vào được khấu trừ lớn.
+ Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế có đầu tư, mua sắm tài sản cố định có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào
được khấu trừ lớn thì được xét hoàn thuế:
. Cơ sở đầu tư mới, đã đăng ký nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng chưa có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status