Trang 1
zBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………
LUẬN VĂN
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành
cho công ty cổ phần du lịch Bến Tre chi nhánh tại Tiền Giang
1. Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển của đất nước thì con người có nhu cầu đa dạng,
phức tạp hơn. Nhu cầu thì vô hạn và thay đổi thời gian theo đà phát triển của xã
hội, xã hội phát triển cao con người cũng có nhu cầu cao. Như chúng ta đã biết
trên thế giới ngày nay du lịch là nhu cầu cần thiết và phổ biến nhất đối với mọi
người. Đi du lịch là để thăm viếng những vùng đất mới, gặp gỡ những nền văn
minh, văn hóa khác nhau để học hỏi.
Ngành kinh doanh dịch vụ du lịch nói chung và dịch vụ lữ hành nói
riêng là một ngành công nghiệp không khói - hiện phát triển và trở thành một lĩnh
vực giữ vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia.
Hiện nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người
trong đời sống công nghiệp hiện đại, có tới hàng trăm triệu người đi du lịch và số
người đi du lịch có khuynh hướng ngày càng gia tăng.
Thông qua phát triển du lịch, thế giới hiểu hơn về đất nước và con người
Việt Nam. Phát triển trên cơ sở khai thác có hiệu quả về lợi thế tự nhiên, sinh
thái, truyền thống văn hóa lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh
thủ sự hợp tác, hỗ trợ của quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước.
Để doanh nghiệp hoạt động luôn đạt hiệu quả cao, thì việc quản trị kinh
doanh dịch vụ lữ hành đã trở thành một phương thức, một công cụ đắc lực và là
người bạn đồng hành đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Từ đó sẽ giúp cho
các nhà quản trị doanh nghiệp có thể nhạy bén nắm bắt cơ hội kinh doanh, tránh
rủi ro của thị trường … nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh
nghiệp lữ hành. Trang 3
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch
Đây là một phương pháp nghiên cứu truyền thống có hiệu quả rất lớn trong
việc thu thập trực tiếp số liệu, thông tin ban đầu với độ tin cậy và chính xác cao
trên địa bàn nghiên cứu.
3.2. Phương pháp phân tích xu thế
Dựa vào quy luật vận động trong quá khứ, hiện tại để rút ra xu thế phát
triển trong tương lai.
Phương pháp này sử dụng để đưa ra các dự báo và chỉ tiêu phát triển có thể
được mô hình hóa bằng phương pháp toán học
3.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Để thực hiện phương pháp này, phải tiến hành thu thập lượng thông tin du
lịch, trên cơ sở phân tích, đánh giá các nguồn lực phát triển du lịch, cần xác định
rõ các cơ hội phát triển và những hạn chế
3.4. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp nghiên cứu quan trọng với mục đích là so sánh, phát
hiện những giống và khác nhau giữa các đối tượng nghiên cứu để có thể rút ra kết
luận đúng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn này là hoạt động kinh doanh
của Công ty cổ phần du lịch Bến Tre chi nhánh tại Tiền Giang trong các năm gần
đây
Đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực lữ hành của Công ty
cổ phần du lịch Bến Tre chi nhánh tại Tiền Giang.
5. Nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu
o Phần mở đầu
o Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành
của Công ty cổ phần du lịch Bến Tre chi nhánh tại Tiền Giang Trang 5
1.1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhưng
đến nay vẫn là khái niệm khó hiểu và rất khó đo lường. Theo từ điển thuật ngữ
kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các
đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn
bộ thị phần của đồng nghiệp.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh
tranh là: “ khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu
vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh trên cơ sở bền vững”
1.1.1.3. Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành
Khái niệm:
Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành thuộc cấp độ cạnh tranh ngành,
là khả năng của các doanh nghiệp, ngành du lịch và Chính phủ trong việc tạo ra
việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Một ngành có
năng lực cạnh tranh nếu ngành đó có năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần
trên thị trường trong và ngoài nước.
Đối với ngành du lịch, năng lực cạnh tranh lữ hành chính là năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch. Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch là khả năng của
một điểm đến phân phối hàng hóa và dịch vụ du lịch tốt hơn các điểm đến khác.
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ
hành:
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ
hành: yếu tố nhân chủng – xã hội của cầu du lịch và sự thay đổi trên thị trường,
Ảnh hưởng của thỏa mãn khách du lịch, Marketing của các hãng lữ hành và cảm
nhận của họ về điểm đến, Tiếp cận thị trường du lịch, Gía cả và chi phí, Tỷ giá, Trang 7
lượt khách, thu nhập từ du lịch đạt trên 700 tỷ USD.
Du lịch ra nước ngoài:
Đối với các thị trường nguồn du lịch quốc tế vẫn khá là tập trung ở các
nước công nghiệp của Châu Au, Châu Mỹ và Châu Á - Thái Bình Dương. Tuy
nhiên, với các mức độ gia tăng của thu nhập thuần, nhiều nước đanbg phát triển
đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh trong những thập kỷ qua, đặc biệt ở Đông Bắc
và Đông Nam Á, Trung và Tây Au, Trung Đông và Nam Phi
Tình hình du lịch Châu Á Thái Bình Dương:
Châu Á và Thái Bình Dương tăng trưởng mạnh trong năm 2006, với mức
tăng trưởng bình quân 9.4%. Nam Á và Đông Á tăng 11,6%. Khu vực thành công
nhất là Nam Á, tăng 13,9%. Trong khi đó, lượng khách đến Indonesia giảm 6%,
Thái Lan – tuy có nhiều biến cố chính trị xảy ra nhưng các thông số theo tháng
vẫn tăng 20%. Nam Á tăng 13.9% trong năm 2006
1.1.1.5. Sự hình thành và phát triển hoạt động lữ hành
Hoạt động du lịch nói chung và lữ hành nói riêng đã có từ lâu và có quá
trình phát triển lâu dài. Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, có những hình
thức biểu hiện và đặc trưng khác nhau. Có thể khái quát lịch sử phát triển hoạt
động lữ hành thành ba giai đoạn cơ bản:
Sự phát triển hoạt động lữ hành trong giai đoạn I(giai đoạn cổ đại):
- Hoạt động lữ hành trong xã hội nguyên thủy:
Trong giai đoạn này không chứa đựng nội dung du lịch, vì con người chưa có
điều kiện vật chất để làm nảy sinh nhu cầu du lịch, họ di chuyển vì lý do sinh tồn
là cơ bản.
- Hoạt động lữ hành thời nô lệ:
+ Loài người đã biết làm ra những sản phẩm tiêu dùng Trang 9
+ Sự phát triển kinh tế hàng hóa tạo ra phạm vi hoạt động trao đổi hàng hóa
nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.
1890 Hãng du lịch Thomas Cook lớn mạnh nhất thế giới với 15 tàu thủy,
200 khách sạn, liên kết với 1000 khách sạn khắp thế giới, và đặt 400 chi nhánh ở
70 quốc gia trên thế giới
Sự phát triển của hoạt động lữ hành giai đoạn III (giai đoạn 1950 đến nay)
Hoạt động lữ hành tuy đã phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XX với tư cách là
một ngành non trẻ, nhưng nó phát triển rất mạnh mẽ trong nền kinh tế thế giới sau
chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây.
- Những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự phát triển của hoạt động lữ hành:
+ Hệ thống dịch vụ phục vụ lữ hành phát triển theo các tuyến giao thông và
các trung tâm đô thị
+ Tình hình an ninh xã hội khá tốt
+ Giao thông thủy bộ phát triển
- Vị trí hãng lữ hành trong hoạt động lữ hành hiện đại:
Trong hoạt động du lịch hiện đại, hãng lữ hành đóng vai trò trung gian cầu
nối giữa khách du lịch với các cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch.
1.1.2. Vai trò quản trị hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành
Quản trị kinh doanh dịch vụ lữ hành trong điều kiện cạnh tranh là tìm cách,
biết cách tác động đến những người cấp dưới, những người thừa hành để tạo ra và
duy trì các lợi thế về chất lượng sản phẩm, giá cả, thời hạn, sự thuận tiện và uy tín
thương hiệu doanh nghiệp.
Người Nhật sử dụng Mô hình 7 chữ S để nói lên những thành tố cơ bản của
hệ thống quản trị, rất thích hợp để áp dụng trong việc quản trị hoạt động kinh
doanh dịch vụ lữ hành. Trang 11
Mô hình 7 chữ S bắt đầu từ 7 từ tiếng Anh: Strategy, Structure, System,
Staff, Style, Skill, Shooting mark.
viên, giữa người quản lý và người bị quản lý, giữa cán bộ quản lý các cấp.
1.2. Các khái niệm khác
1.2.1. Khái niệm kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành là ngành kinh doanh các chương trình du lịch.
Chương trình du lịch là một tour du lịch trọn gói (là một hành trình du lịch
khép kín, quy định ngày bắt đầu và địa điểm kết thúc của tour, quy định cụ thể
chất lượng các dịch vụ kèm theo quy định địa điểm tham quan, địa điểm và thời
gian lưu trú, ăn uống…
1.2.2. Khái niệm doanh nghiệp lữ hành
Tổ Chức Du Lịch Thế Giới đã dự báo đến năm 2010, lượng khách du lịch
quốc tế trên thế giới sẽ đạt gần 1 tỷ lượt người. Vì thế, kinh doanh dịch vụ du lịch
ngày càng phát triển và trở thành một lĩnh vực giữ vị trí quan trọng của nhiều
quốc gia, thu hút nhiều ngành, nhiều tổ chức, nhiều doanh nghiệp tham gia.
Theo Edgar Robger:
“Doanh nghiệp lữ hành là doanh nghiệp sản xuất, gián tiếp hay trực tiếp
bán các loại dịch vụ, đáp ứng các loại thông tin, làm tư vấn cho du khách khi lựa
chọn các loại dịch vụ ấy”. A-Popliman cho rằng:
“Doanh nghiệp lữ hành là một người hoặc một tổ chức có đủ tư cách pháp
nhân, được quản lý và tổ chức hoạt động với mục đích sinh lợi nhuận thương mại
thông qua việc tổ chức tiêu thụ trực tiếp hoặc gián tiếp các loại dịch vụ, hàng hóa
du lịch hoặc bán các hành trình du lịch hưởng hoa hồng cũng như bán các loại
dịch vụ khác có liên quan đến hành trình du lịch đó”.
F. Gunter W. Eric đưa ra định nghĩa sau: Trang 13
“ Du lịch là một ngành tổng hợp của các lĩnh vực: lữ hành, khách sạn, vận
chuyển và các yếu tố cấu thành khác, kể cả việc xúc tiến, quảng bá… nhằm phục
vụ các nhu cầu và những mong muốn đặc biệt của du khách ”.
Vậy du lịch là một hoạt động của con người, ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình để đến một nơi nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một thời gian nhất định.
Hay nói như Mill và Morrison:
“Du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt khỏi biên giới của một
quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ … để nhằm mục đích giải trí và lưu trú tại đó ít
nhất 24 giờ nhưng không quá một năm”.
Có thể nói, du lịch bắt nguồn từ nhu cầu muốn khám phá, giao tiếp và học
hỏi thế giới xung quanh vốn phong phú, đa dạng và chứa nhiều tiềm ẩn. Du lịch
xuất hiện và trở thành một hiện tượng đặc biệt trong đời sống con người.
Trước đây, du lịch được xem là đặc quyền của giới thượng lưu, tầng lớp
giàu có. Nhưng ngày nay nó đã, đang và sẽ trở thành một nhu cầu phổ biến, đáp
ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của nhiều tầng lớp trong xã hội. Du
lịch góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người.
Vì thế, đặc tính của du lịch có thể khái quát qua 03 yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là sự di chuyển đến một nơi mang tính tạm thời và trở về sau thời
gian một vài này, vài tuần hoặc lâu hơn.
- Du lịch là hành trình tới điểm đến, lưu trú lại đó và bao gồm các hoạt động ở
điểm đến. Hoạt động ở các điểm đến của người đi du lịch làm phát sinh các hoạt
động, khác với những hoạt động của người dân địa phương.
- Chuyến đi có thể có nhiều mục đích nhưng không vì mục đích định cư và
tiềm kiếm việc làm tại điểm đến.
1.2.4. Khái niệm khách du lịch Trang 15
mới lạ, lý thú, những giá trị về văn hóa và thiên nhiên ở điểm đến khác với mục
đích nghiên cứu, học tập và kinh doanh.
Từ các định nghĩa trên còn có thể hiểu:
“Khách du lịch là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một
vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các
mục đích như nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham gia hội nghị, tôn
giáo, thể thao”.
1.2.4.1. Khái niệm khách du lịch quốc tế đến(inbound)
“Khách du lịch quốc tế đến là khách nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam
định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch”
1.2.4.2. Khái niệm khách quốc tế đi (outbound)
“Khách du lịch quốc tế đi là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
1.2.4.3. Khái niệm khách du lịch nội địa
“ Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể
quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong
quốc gia đó, ở một thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm, với các mục
đích giải trí, công vụ, hội hop,… ngoài những hoạt động để lãnh lương ở nơi
đến”.
Pháp lệnh du lịch Việt Nam còn quy định:
“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”
1.2.5. Khái niệm nhu cầu:
“Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận
được” ( Thuật ngữ Marketing – Marketing du lịch)
Trang 18
1.2.7.2. Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Du lịch nghỉ dưỡng: thu hút những du khách có nhu cầu cải thiện và chăm
sóc sức khỏe. Các khu nghỉ mát, an dưỡng ở các vùng núi cao, ở những khu ven
biển hay các khu suối nước khoáng, nước nóng (Khu DL suối nước nóng Bình
Châu ở Đồng Nai, khu Thanh Tâm ở Huế, Trung tâm khoáng bùn, khoáng nóng
Ponagar ở Nha Trang…) là những địa chỉ thu hút đối tượng khách này.
1.2.7.3. Du lịch hội nghị, hội thảo(Mice)
Mice viết tắt của Meeting(hội họp), incentive(khen thưởng), convention
(hay conference: hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm).
Mice là loại hình du lịch tiềm năng của Việt Nam, và nếu được phát triển, nó sẽ
mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho ngành du lịch mà còn cho cả ngành thương
mại
1.2.7.4. Du lịch giải trí
Du lịch giải trí: là loại hình du lịch phục vụ cho du khách có nhu cầu nghỉ
ngơi, thư giãn, giải trí … để phục hồi thể thể chất và tinh thần hay tái sản xuất sức
lao động. Mục đích của họ là hưởng thụ và tận hưởng những kỳ nghỉ trọn vẹn của
mình nên những nơi có các bờ biển và bãi tắm đẹp, chan hòa ánh nắng mặt trời,
có thể tham gia các hoạt động cắm trại, thể thao… Hawaii, Haitti, Phan Thiết,
Ninh Thuận, Nha Trang, Đà Nẵng, Hội An, Lăng Cô, Phú Quốc, Vũng Tàu, Long
Hải … là những nơi thích hợp và lý tưởng để phát triển loại hình du lịch này.
1.2.7.5. Du lịch thể thao
Du lịch thể thao :hấp dẫn những du khách say mê các hoạt động thể thao
nhằm nâng cao sức khỏe và thể chất.
Du lịch thể thao thường gắn liền với những địa phương có biển, có núi …
Ở Việt Nam loại hình du lịch này chưa phát triển. Thời gian gần đây một số địa
phương đưa một số loại hình du lịch thể thao nhằm phục vụ khách du lịch như
Trang 20
dân nhất nước, là quỹ dự trữ sinh quyển thế giới), vườn quốc gia Nam Cát Tiên
(Đồng Nai, quỹ dự trữ sinh quyển thế giới), là nơi lý tưởng để xây dựng các sản
phẩm du lịch sinh thái hấp dẫn.
1.2.7.8. Du lịch sinh thái cộng đồng
Trong một số loại hình du lịch bắt buộc có cộng đồng tham gia mới hình
thành phát triển như du lịch sinh thái, du lịch bền vững… là những nơi có nhiều
tài nguyên hoang dã, còn nguyên trạng đã thu hút được nhiều khách du lịch đến
tham quan, nhưng tại các khu vực này thường các điều kiện giao thông không
thuận lợi nên rất khó khăn cho các hoạt động cung cấp dịch vụ của các công ty du
lịch. Vì vậy khách du lịch và các nhà kinh doanh thường dựa vào cộng đồng dân
cư tại các làng, bản, thôn… Hơn nữa các cộng đồng nơi đây cũng có các phong
tục tập quán, lễ hội, lối sống, kiến trúc nhà ở… trở thành tài nguyên du lịch cung
cấp cho khách du lịch tìm hiểu thưởng thức. Bên cạnh đó, cộng đồng dân cư tại
đây có nhiều khó khăn trong đời sống, ít công ăn việc làm, thu nhập thấp, trình độ
dân trí và văn hóa bao giờ cũng thấp hơn các khu vực khác.
Nếu du lịch phát triển đem lại những cơ hội việc làm cho người dân của các
cộng đồng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động du lịch, hệ thống cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được cải thiện rõ rệt hơn: hệ thống đường
giao thông, hệ thống nước sạch, hệ thống truyền thông điện, trạm bưu điện, việc
làm và thu nhập được cải thiện theo sự gia tăng của mức độ và lưu lượng du
khách, một số cộng đồng nhân cơ hội này phá được thế biệt lập, sử dụng các
nguồn lực hiện có của mình về cảnh quan, nước, rừng, biển, động thực vật… vốn
trước đây bị quên lãng, nay thành tiềm năng phát triển.
1.2.7.9. Du lịch vườn
Đây là loại hình du lịch đang phát triển tại các địa phương, phổ biến nhất là
các hộ gia đình có các ngành nghề truyền thống, điểm tham quan có kiến trúc về
1.2.8.1. Thị trường du lịch nội địa Trang 22
Thị trường du lịch nội địa: là thị trường mà ở đó có cung và cầu du lịch
đều nằm trong biên giới lãnh thổ của một quốc gia. Trên thị trường nội địa, mối
quan hệ nảy sinh do việc thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch là mối quan hệ kinh
tế trong một quốc gia. Vận động tiền – hàng chỉ di chuyển từ khu vực này đến
khu vực khác.
1.2.8.2. Thị trường du lịch quốc tế
Thị trường du lịch quốc tế: là thị trường mà ở đó cung thuộc một quốc gia,
còn cầu thuộc một quốc gia khác.
Trên thị trường du lịch quốc tế các doanh nghiệp du lịch của một quốc gia
kết hợp với một doanh nghiệp nước khác đáp ứng nhu cầu của các công dân nước
ngoài. Quan hệ tiền – hàng được hình thành và thực hiện ở ngoài biên giới quốc
gia.
1.2.9. Khái niệm đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa rất quan trọng đối với các
công ty do nhiều nguyên nhân. Các đối thủ cạnh tranh tranh nhau quyết định tính
chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào
các đối thủ cạnh tranh. Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác
giữa các yếu tố như số lượng công ty tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng
của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm. Sự hiện hữu
của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu, nguyện vọng của doanh nghiệp
muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình.
1.2.10. Các đơn vị cung cấp dịch vụ liên quan
Nhà cung ứng là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh cung cấp nguyên liệu
cần thiết cho sản xuất sản phẩm của công ty và đối thủ cạnh tranh. Để quy định
Xe buýt: Trang 24
Là loại ô tô khách đường bộ có sức chứa từ 12 người trở lên hoạt động ở
mọi cự ly trên các tuyến nội tỉnh, thành phố, liên tỉnh, liên thành phố.
Xe đạp, mô tô:
Loại hình du lịch này phát triển rất mạnh ở những nước có địa hình bằng
phẳng, thuận lợi và đặc biệt phù hợp với tiêu chí môi trường.
Xe chất lượng cao:
Là những loại xe được trang bị đầy đủ tiện nghi, đảm bảo an toàn vận
chuyển với chất lượng phục vụ chu đáo tận tình. Nhưng gái cao hơn các phương
tiện khác.
Xe lửa:
Xe lửa đã từng là trụ cột trong việc phát triển ngành du lịch. Xe lửa thay thế
cho xe ngựa, du lịch bộ hành. Nhưng với sự phát triển của xe hơi và đường xá tốt
hơn dịch vụ hỏa xa bị đánh giá kém. Dịch vụ hỏa xa không chỉ cạnh tranh với du
lịch ôtô, mà còn mô tô, xe khách cũng như ngành hàng không. Các phương tiện đường thủy:
Loại hình này có thuận lợi và chuyển tải được số lượng lớn du khách với
chi phí vận chuyển chi phí rẻ.
- Du lịch tàu biển: có 2 loại.
+ Tàu vận chuyển khách bình thường nơi này đến nơi khác. Hai là các tàu du
lịch, tương tự như các khách sạn nổi, đó là một kiều du lịch giải trí, đang trực tiếp
cạnh tranh với những khu nghỉ mát trên bờ biển. Du thuyền đem đến những kỳ
nghỉ hè thú vị, khách bồng bềnh trên biển thưởng thức ẩm thực các nước du
thuyền đi qua, biết được các điệu nhạc dân tộc, ghé tham quan các cảng nhiều
Là hoạt động kích thích việc mua sắm hay dùng thử của khách hàng bằng
cách dành cho khách hàng những lợi ích tăng thêm so với trường hợp khách hàng
không tham gia vào hoạt động đó.