định hướng phát triển & các biện pháp thúc đẩy TTSP & tăng doanh thu tiêu thụ tại Cty Vật tư –Vận tải – Xi măng - Pdf 12

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN
THIẾT CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM TRÊN THỊ
TRƯỜNG NHẬT BẢN
1.1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và phân loại
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
“Cạnh tranh” là một khái niệm được nhắc đến nhiều nhất trong nền
kinh tế thị trường. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có nền
kinh tế thị trường, vì vậy mà khái niệm về cạnh tranh không còn gì xa lạ nữa.
Tuy nhiên vẫn có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Theo quan điểm của các học giả trường phái tư sản cổ điển thì “ cạnh
tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra
cho mỗi thành viên trong thị trường một khả năng hoạt động nhất định và
mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng với khả năng của mình”.
Khi đề cập đến vấn đề cạnh tranh thì từ điển bách khoa Việt Nam có
định nghĩa: “ Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những
người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung- cầu, nhằm giành các điều kiện
sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”.
Mỗi trường phái, mỗi giai đoạn lịch sử lại có quan niệm khác nhau về
cạnh tranh nhưng chung lại thì cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế
của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo
tiêu thụ có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong cạnh
1
tranh là tối đa hóa lợi nhuận đối với người sản xuất và kinh doanh, tối đa hóa
lợi ích đối với người tiêu dùng. Quá trình cạnh tranh diễn ra vô cùng gay gắt,
chỉ có những chủ thể nào thích nghi nhanh chóng với môi trường cạnh tranh
mới có thể tồn tại và phát triển được.

Thứ ba, cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế do cạnh tranh chỉ giữ
lại những chủ thể có sức cạnh tranh cao, thích nghi nhanh chóng với sự thay
đổi của thị trường. Cạnh tranh mang lại lợi ích cho người sản xuất, người tiêu
dùng và cho toàn xã hội.
Ngoài những mặt tích cực trên thì cạnh tranh cũng để lại những hệ quả
không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội, tạo sự
phân hóa giàu nghèo mạnh mẽ, cạnh tranh không lành mạnh với những hành
vi vi phạm đạo đức và pháp luật, gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Do vậy
cần có sự quản lý, điều tiết của nhà nước.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh
tranh của sản phẩm
1.1.3.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có sự tham gia của rất nhiều
doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp lại mang những đặc trưng riêng của mình.
Do đó mà mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng không giống nhau, phụ
thuộc vào năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất nhu
cầu của khách hàng nhằm chiếm lĩnh thị phần lớn, thu lợi nhuận cao và phát
triển bền vững. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể
3
dựa trên các chỉ tiêu: thị phần, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, nhân
lực, tổ chức quản trị trong doanh nghiệp, đóng góp cho xã hội…
Khái niệm nêu ra ở trên là năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp
còn xét về cấp độ sản phẩm thì năng lực cạnh tranh là sự thể hiện tính ưu việt
hay tính hơn hẳn của sản phẩm cả về định tính và định lượng với các chỉ tiêu
như: chất lượng sản phẩm, mẫu mã, mức độ vệ sinh công nghiệp, giá cả, uy
tín của sản phẩm trên thị trường…Biểu hiện tổng quát cuối cùng về năng lực
cạnh tranh của sản phẩm là sự phản ứng của người tiêu dùng thể hiện qua việc
mua hay không mua sản phẩm đó.

phẩm. Vì vậy chất lượng là chỉ tiêu quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh
tranh của sản phẩm. Các doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình đánh bại
được các sản phẩm khác thì phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản
phẩm.
1.1.4.2. Giá cả của sản phẩm
Một sản phẩm có giá cả thấp hơn những sản phẩm cùng loại sẽ có sức
cạnh tranh cao hơn. Cạnh tranh bằng giá được rất nhiều các doanh nghiệp áp
dụng, đặc biệt khi mà nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì đây là
hình thức cạnh tranh vô cùng hiệu quả. Các doanh nghiệp Trung Quốc là ví
dụ điển hình về việc hạ giá thành sản phẩm.
1.1.4.3. Thương hiệu của sản phẩm
Thương hiệu của sản phẩm gắn liền với quá trình phát triển của doanh
nghiệp, là một chỉ tiêu rất khó định lượng. Nó thể hiện sự tin tưởng của người
tiêu dùng đối với sản phẩm và không thể lẫn với bất kì một sản phẩm nào
5
khác. Hiện nay, các doanh nghiệp rất coi trọng đến việc phát triển thương
hiệu để tạo một chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
1.1.4.4. Hình thức thể hiện của sản phẩm
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về thẩm mỹ của con người lại càng
cao. Vì thế mà sản phẩm có kiểu dáng, mẫu mã càng đẹp thì càng được ưa
chuộng. Thay đổi kiểu dáng, mẫu mã một cách sáng tạo sẽ có tác động không
nhỏ đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
1.1.4.5. Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm
Thị phần là phần tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh trên
thị trường. Doanh nghiệp có thị phần càng lớn càng chứng tỏ hàng hóa tiêu
thụ được nhiều và có vị thế cao trên thị trường. Thị phần tăng nhanh giúp
doanh nghiệp tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất. Vì thế đây là mục tiêu quan
trọng của tất cả các doanh nghiệp.
1.2. Đặc điểm của thị trường Nhật Bản và sự cần thiết phải nâng cao
năng lực cạnh tranh hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị

cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, họ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến giá cả
hàng hóa và ưa thích dùng hàng giá rẻ. Nhiều người đang dần từ bỏ thói quen
tiêu dùng hàng xa xỉ để chuyển sang những mặt hàng thông thường, bình dân
hơn, tiêu biểu là giới trẻ ở Nhật. Những cửa hàng giá rẻ ngày càng xuất hiện
nhiều hơn trên đường phố thay cho những cửa hiệu lớn. Người Nhật đi mua
sắm bắt đầu mặc cả nhiều hơn và khi mặc cả được càng nhiều thì họ sẽ tiêu
dùng nhiều hơn. Không chỉ có giới trẻ, những bà nội trợ Nhật Bản cũng là
những người có rất nhiều thời gian mua sắm nên họ nắm bắt rất nhanh nhạy
về sự thay đổi của giá cả thị trường. Khi có biến động về kinh tế thì ngay lập
tức người Nhật sẽ cắt giảm chi tiêu và hàng TCMN là mục tiêu hàng đầu cho
7
cắt giảm để chi tiêu cho những nhu yếu phẩm cần thiết. Theo một cuộc điều
tra gần đây về vấn đề mà người tiêu dùng Nhật Bản quan tâm nhất hiện nay
khi đi mua sắm thì hầu hết nhận được câu trả lời liên quan đến giá cả hàng
hóa. Vì thế, trong giai đoạn khó khăn này các doanh nghiệp muốn tiếp tục
đứng vững trên thị trường Nhật Bản thì ngoài việc đa dạng hóa mẫu mã sản
phẩm còn phải chú trọng rất nhiều đến những biện pháp hạ giá thành sản
phẩm. Đây là lý do vì sao các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ của Trung
Quốc luôn chiếm thị phần lớn trên thị trường Nhật Bản.
1.2.1.2. Những rào cản kĩ thuật đối với hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên
thị trường Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản không có quy định hạn chế gì đặc biệt đối với hàng
thủ công mỹ nghệ như thị trường EU. Tuy nhiên đây là mặt hàng có nhiều
chủng loại khác nhau, sử dụng với nhiều mục đích khác nhau có thể làm đồ
dùng hoặc vật trang trí, được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau nên theo
nguyên tắc cơ bản sẽ áp dụng những Luật riêng tùy theo loại nguyên liệu và
mục đích sử dụng.
• Áp dụng theo loại nguyên liệu sử dụng
Với những mặt hàng làm từ nguyên liệu thực vật như mây, tre, gỗ, rơm
rạ…thì phải kiểm dịch thực phẩm trước khi cho phép nhập khẩu. Một trong

đến thực phẩm như đồ dùng, đồ trang trí, đồ nội thất được kiểm dịch bình
thường theo nguyên liệu làm ra chúng.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh hàng thủ công mỹ
nghệ của Việt Nam trên thị trường Nhật Bản
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu hướng về những nét đẹp truyền
thống càng tăng. Chính vì điều này mà ngành hàng thủ công mỹ nghệ ngày
9
càng thể hiện rõ nét vai trò của mình đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc
biệt là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Mỗi năm, ngành
hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất
nước. Theo đánh giá của cục xúc tiến thương mại Việt Nam thì hàng thủ công
mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của nước ta. Kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này có sự tăng trưởng mạnh trong 10 năm gần đây, từ 274
triệu USD năm 2000 đến 880 triệu USD năm 2009, đóng góp một phần quan
trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Không chỉ có
vậy, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn có ý nghĩa lớn trong việc phát huy
những lợi thế so sánh của đất nước, giải quyết công ăn việc làm ở nông thôn
và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việt Nam là một thị trường có nguồn
lao động dồi dào, giá rẻ. Đặc biệt ở nông thôn, số lao động thất nghiệp nhiều
và chủ yếu là những lao động có trình độ thấp. Các làng nghề là nơi giải quyết
một số lượng lớn công ăn việc làm cho người dân nông thôn và góp phần
nâng cao đời sống của họ. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ tạo nguồn vốn nhập khẩu khoa học kĩ thuật từ các nước phát triển, thúc
đẩy sản xuất trong nước phát triển, tác động mạnh mẽ tới quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Hiện nay, hàng TCMN của Việt Nam được xuất khẩu sang hơn 100
quốc gia trên thế giới. Trong đó, Nhật Bản được đánh giá là một thị trường
nhập khẩu lớn, luôn chiếm từ 10- 29% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam từ năm 2000 đến nay. Tuy nhiên, việc xuất khẩu
mặt hàng này sang Nhật Bản trong thời gian vừa qua gặp rất nhiểu khó khăn,

Bên cạnh đó, chính phủ còn ban hành nhiều biện pháp hỗ trợ cho các
doanh nghiệp. Thứ nhất, khuyến khích các hoạt động liên kết giữa các doanh
11
nghiệp dưới các hình thức khác nhau và trong các công đoạn khác nhau của
quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó có việc thành lập các hiệp hội ngành
nghề. Thứ hai, quan tâm nhiều hơn tới việc đào tạo và bồi dưỡng kiến thức
tay nghề cho lực lượng lao động, coi tri thức là công cụ chính để cạnh tranh.
Thứ ba, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp
như vốn, vật tư, kĩ thuật, thông tin… Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp
cận với chúng để cải thiện lợi thế cạnh tranh cho mình. Thứ tư, tiến hành hiện
đại hóa phương thức quản lý doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế. Thứ năm, tăng
cường công tác nghiên cứu thị trường để hỗ trợ thông tin cho các doanh
nghiệp, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhờ có sự hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước mà hiện nay các doanh
nghiệp Trung Quốc có khả năng thích nghi rất cao đối với sự biến động của
thị trường.
1.3.2. Kinh nghiệm từ Philipines
Philippines là quốc gia được đánh giá cao trong các thiết kế mang tính
chuyên nghiệp của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Khác với Trung Quốc,
hàng thủ công mỹ nghệ của Philippines trên các thị trường được bán với giá
rất cao nhưng sức cạnh tranh vẫn không hề thua kém. Có được kết quả này là
nhờ sự nhanh nhạy của các doanh nghiệp và sự hỗ trợ to lớn từ phía chính
phủ.
Về phía các doanh nghiệp, họ đã biết khai thác thế mạnh về thiết kế của
mình tạo ra những sản phẩm độc đáo có sức cạnh tranh cao. Đa số các công ty
thủ công mỹ nghệ đều có thiết kế riêng, là những người am hiểu sâu sắc về
nguyên liệu của bản địa và cập nhật tốt nhất những thông tin về thị trường. Vì
thế mà các thiết kế có tính ứng dụng cao. Những nhà thiết kế được doanh
nghiệp cho hưởng đãi ngộ đặc biệt về lương, thưởng...
12

thích sự sáng tạo của các nghệ nhân có những thiết kế đẹp, độc đáo.
Những bài học kinh nghiệm trên đây đã tạo nên sự thành công to lớn
cho Trung Quốc và Philippines, và nó cũng sẽ mang lại thành công cho Việt
Nam nếu chúng ta áp dụng nó một cách phù hợp.
14

Trích đoạn Nguyên nhân Giải pháp từ các doanh nghiệp, làng nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status