TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA Ở
HUYỆN TIỂU CẦN – TỈNH TRÀ VINH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TRẦN ÁI KẾT
Tháng 05/2009
NGUYỄN THỊ THÚY
HẰNG
Mã số SV : 0454093
Lớp: KTNN 1 K31
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 1 SVTH: N.T.T.Hằng
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, tuy công nghiệp và dịch vụ đã phát triển và dần dần chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế nhưng ngành nông nghiệp vẫn là ngành chủ
đạo. Nhất là ngành trồng lúa đã đem lại nguồn thu nhập cao cho nông dân, mặt
khác cây lúa cũng đã làm cho Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng
hàng thứ hai trên thế giới. Đặc biệt là huyện Tiểu Cần - tỉnh Trà Vinh phần lớn
đất đai của huyện là đất nông nghiệp, và thu nhập chính của nông dân huyện là
nghề trồng lúa. Cây lúa không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong
huyện, mà còn đem về cho đất nước nguồn ngoại tệ đáng kể từ việc xuất khẩu,
đồng thời nâng cao thu nhập, góp phần khắc phục sự phân hóa giàu nghèo ngày
càng diễn ra trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Như vậy,
cây lúa giữ vai trò then chốt và là cơ sở cho sự phát triển đời sống, xã hội của
nhân dân huyện Tiểu Cần nói riêng và của nhân dân cả nước nói chung. Thế
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa, và lợi nhuận.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa
của nông hộ nhằm để giải quyết những vấn đề còn tồn tại ở huyện.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất lúa của các nông hộ ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
1.3.2. Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tập trung ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
1.3.3. Phạm vi thời gian
Đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 29/ 12/ 2008 đến 30/ 04/
2009, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích và so sánh các dữ liệu trong thời
gian 1 năm gần nhất (năm 2008).
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 3 SVTH: N.T.T.Hằng
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1. Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là một quá trình kết hợp các nguồn lực ( resources) hoặc là các
yếu tố đầu vào của sản xuất (inputs) được sử dụng để tạo ra sản phẩm (products)
hoặc dịch vụ (services) mà người tiêu dùng có thể dùng được.
2.1.2. Lý thuyết sản xuất nông nghiệp.
Lý thuyết sản xuất nông nghiệp hay còn gọi lý thuyết về hành vi của
người sản xuất là một lĩnh vực ứng dụng của khoa học kinh tế vào sản xuất nông
nghiệp. Lý thuyết sản xuất cung cấp những nguyên lý để hướng dẫn các đơn vị
sản xuất nông nghiệp (nông trại, nông hộ) trong việc sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Một cách cơ bản, lý thuyết sản xuất nông
nghiệp nghiên cứu bản chất mối liên hệ nhân quả giữa các yếu tố đầu vào và kết
quả về sản phẩm thu được. Mối liên hệ này thường được diễn tả thông qua hàm
sản phẩm của ngành đó.
Đối với nhà nông: Mục tiêu sản xuất của họ là sản xuất một cách có hiệu
quả và mang lại lợi nhuận cao.
Đối với nhà khoa học: Họ mong muốn mô hình sản xuất được áp dụng
khoa học kỹ thuật.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu.
Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ sản xuất lúa, các hộ
này thường sống không tập trung theo từng xã. Có nhiều phương pháp chọn mẫu:
chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chọn mẫu cụm,
chọn mẫu hai giai đoạn…. Để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, em chọn
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Trong huyện, em chọn 3 xã, mỗi xã em sẽ
chọn 3 ấp và mỗi ấp sẽ chọn từ 5 đến 10 mẫu. Tổng số mẫu điều tra là 60 mẫu.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Được thu thập chủ yếu trên internet, sách, báo và các tài
liệu có liên quan.
Số liệu sơ cấp: Được phỏng vấn trực tiếp người nông dân qua bảng câu
hỏi được thiết lập sẵn.
2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích
Phương pháp xử lý số liệu như sau: Số liệu sau khi được thu thập xong sẽ
được mã hóa và nhập trên phần mềm Excel, được xử lý bằng phần mềm SPSS.
Kết quả sau khi xử lý sẽ kết luận được những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất, lợi nhuận lúa của các nông hộ ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Bên
cạnh đó kết hợp phương pháp so sánh để phân tích số liệu thứ cấp sẽ đánh giá
hiệu quả sản xuất của các nông hộ. Các phương pháp cụ thể cho từng mục tiêu
như sau:
+ Mục tiêu (1): Thống kê mô tả.
+ Mục tiêu (2): Hàm hồi quy.
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 5 SVTH: N.T.T.Hằng
5
+ α
6
X
6
+ α
7
X
7
+ + α
n
X
n
+
lnπ = β
0
+ β
1
lnX
1
+ β
2
lnX
2
+ β
3
lnX
3
+ + β
n
Dựa trên cơ sở lý thuyết để đưa các biến dự báo dưới đây vào mô hình
năng suất như sau:
Năng suất = α
0
+ α
1
(dien tich) + α
2
(san luong) + α
3
(tong chi phi) +
α
4
(lao dong) + α
5
(ap dung KHKT) + α
6
(kinh nghiem) + .
X
1
: Diện tích (công)
X
2
: Sản lượng (kg)
X
3
: Tổng chi phí (1000 đồng)
X
4
: Lao động (ngày công)
: Cp giống (1000 đồng)
X
2
: Cp phân (1000 đồng)
X
3
: Số ngày công lao động sản xuất (ngày công)
X
4
: Giá bán (1000 đồng)
X
5
: Năng suất (kg/công)
X
6
: Chi phí cày xới, gieo sạ (1000 đồng)
X
7
: Cp thuốc trừ sâu,diệt cỏ (1000 đồng)
Ý nghĩa của các tham số:
- Hệ số xác định R
2
(R – Square): Tỷ lệ % biến động của Y được giải
thích bởi các biến X
i
.
- Độ tự do F có Sig. mô hình hồi quy là phù hợp và có ý nghĩa.
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 7 SVTH: N.T.T.Hằng
PHẦN NỘI DUNG
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 8 SVTH: N.T.T.Hằng
khác.
Chủ yếu chia làm 02 nhóm gồm đất giồng cát có 387,7 ha, chiếm 1,85 %
diện tích đất tự nhiên; đất phù sa có 17.799,30 ha, chiếm 83,85 % diện tích đất tự
nhiên; đất phù sa chưa phát triển 286,5 ha, chiếm 1,45 % diện tích đất tự nhiên.
3.1.2. Thực trạng sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần – Trà Vinh.
Kết quả sản xuất lúa của huyện năm 2008 như sau:
Tổng diện tích kế hoạch lúa cả năm: 37.600 ha.
Tổng diện tích thực hiện được: 38.233 ha, đạt 101,68 % so với kế hoạch
và đạt 99,46 % so với cùng kỳ năm trước cụ thể chia từng vụ như sau:
Vụ Đông Xuân 2007-2008:
Diện tích kế hoạch: 12.300 ha.
Kết quả thực hiện: 12.657 ha, đạt 102,9 % so với kế hoạch, và đạt 101,27
% so cùng kỳ năm trước.
Thu hoạch: 12.657 ha, đạt 100 % diện tích gieo trồng, năng suất bình
quân 5,7 tấn/ha, tổng sản lượng thu hoạch 72.144,9 tấn. So với năm trước năng
suất tăng 1,4 tấn/ha.
Vụ Hè Thu 2008:
Diện tích kế hoạch: 12.500 ha.
Kết quả thực hiện: 12.757 ha, đạt 102,056 % so với kế hoạch, và đạt 97,6
% so với cùng kỳ năm trước.
Thu hoạch: Diện tích thu hoạch 12.757 ha, đạt 100 % diện tích gieo trồng,
năng suất bình quân khoảng 4,5 tấn/ha, sản lượng 66336,4 tấn.
Vụ Thu Đông:
Diện tích kế hoạch: 12.800 ha.
Diện tích gieo trồng: 12.819 ha, đạt 100,14 % so với kế hoạch và đạt 99,6
so với cùng kỳ năm trước.
Thu hoạch: tổng số 12.819 ha, đạt 100 % diện tích gieo trồng, năng suất
bình quân khoảng 4,5 tấn/ha, sản lượng đạt 57.685,5 tấn.
Trinh Phụ
Phú Thọ 2
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 10 SVTH: N.T.T.Hằng
Bieu do (%) cac nong ho san xuat
lua o cac ap trong huyen
21%
15%
10%
7%
7%
7%
8%
20%
5%
Cau Tre 1
Cau Tre
Phu Tan
Trinh Phu
Dai Mong
O Et
Tan Trung Giong A
Phu Tho 1
Phu Tho 2
Biểu đồ 1: Biểu đồ các hộ gia đình được phỏng vấn ở các ấp của
huyện
Ấp Cầu Tre 1 chiếm 21% trong tổng số nông hộ được phỏng vấn, đa số
nông hộ ở ấp này đều nằm trong khu kênh bêtông nên hầu hết nông dân được sự
hướng dẫn của kỹ sư về kỹ thuật, và hệ thống tưới tiêu cũng được đầu tư tốt hơn.
Vì thế, nông dân sản xuất lúa ở ấp này đều làm lúa rất hiệu quả, đạt năng suất cao
Lao động của các nông hộ sản xuất lúa ở huyện chủ yếu là lao động gia
đình, vì sản xuất lúa dịch bệnh gây hại nhiều nên năng suất chưa cao, đồng thời
giá lúa không ổn định vẫn còn rất thấp, nên bà con lấy công làm lời, ít mướn
thêm lao động thuê ngoài, chỉ thuê lao động khi giáp vụ đến lúc thu hoạch. Trong
thời kì hội nhập nên ngành công nghiệp phát triển mạnh, phần lớn lao động trẻ ở
nông thôn đều lên Thành Phố làm việc. Vì vậy, nông dân ở huyện hiện đang gặp
khó khăn về tình trạng thiếu nhân công lao động. Vì thế nông dân rất cần nhà
nước hỗ trợ về máy móc cho bà con để sớm tiến hành cơ giới hóa vào đồng
ruộng, nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong sản xuất.
3.2.1.3. Về thời gian sống và số năm trong nghề của người sản xuất.
Thời gian sống của các nông hộ sản xuất lúa được phỏng vấn ở huyện
bình quân là 37 năm, một thời gian khá lâu để thích nghi với điều kiện tự nhiên ở
đây, đa số các hộ đều sống gắn bó với huyện từ nhỏ. Kinh nghiệm sản xuất lúa
của nông dân huyện bình quân là 24 năm, cùng với kinh nghiệm sản xuất của
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 12 SVTH: N.T.T.Hằng
mình và sự hỗ trợ về kỹ thuật từ phòng Nông Nghiệp huyện – công ty BVTV An
Giang với tính cần cù chịu khó, nông dân huyện Tiểu Cần ngày càng sản xuất có
hiệu quả, gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu nhiều hơn.
3.2.1.4. Trình độ học vấn của người sản xuất.
Đa số nông dân ở huyện Tiểu Cần đều có trình độ học vấn rất thấp, nên
thu nhập chính của họ là từ nghề lúa, và bà con sản xuất lúa từ đời này sang đời
khác. Vì vậy, tuy trình độ học vấn của nông hộ rất thấp nhưng nông dân ở huyện
rất có kinh nghiệm trong sản xuất và rất cần cù sáng tạo. Tình hình về trình độ
học vấn của các nông hộ được phỏng vấn ở huyện như sau:
Bảng 2: Tình hình về trình độ học vấn của các nông hộ.
Cấp/Bậc
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
3.2.1.5. Về diện tích trồng lúa của nông hộ.
Diện tích trung bình của các nông hộ sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần là 14
công/hộ, với số lượng diện tích này cũng đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của nông
dân, và mang lại thu nhập khá ổn định cho bà con. Đa số nông dân ở huyện nghề
sản xuất lúa là nghề chính, nên diện tích lúa luôn đứng vị trí hàng đầu trong tổng
số diện tích đất của các nông hộ, trong đó tổng diện tích đất của nông hộ đều tập
trung tất cả cho việc sản xuất lúa chiếm 62 % trong tổng số 60 nông hộ được
phỏng vấn ở huyện. Bởi vì đất ở huyện chỉ thích hợp cho việc sản xuất lúa, nên
dù có khó khăn vất vả nhưng các hộ nông dân vẫn gắn bó với nghề làm lúa. Tỉ lệ
diện tích lúa trong tổng diện tích đất của các nông hộ được biểu hiện qua sơ đồ
sau:
0
10
20
30
40
50
60
Tong dien tich
1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 39 41 43 45 47 49 51 53 55 57 59
Dien tich lua
Tinh hinh dien tich trong lua trong tong dien tich dat cua nong ho
dientichlua
dientich
Biểu đồ 3: Biểu đồ về tình hình diện tích sản xuất lúa trong tổng diện
tích đất của các nông hộ.
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 14 SVTH: N.T.T.Hằng
Năm 2008 diện tích đất sản xuất lúa của các nông hộ ở huyện Tiểu Cần
ngày càng tăng, nguyên nhân là do nông dân sản xuất lúa mang lại lợi nhuận
Bảng 3: Tình hình sử dụng giống của các nông hộ sản xuất lúa ở các
xã.
Xã
Phú Cần
Long Thới
Hiếu Trung
Giống lúa
OM 4900
OM 5930
IR 50404
VNĐ 95-20
Ham Trau
OM 3536
VND - 20
OM 2395
OM 4900
IR 50404
MTL 503
OM 5930
IR 6073
Lua thom
Jamin 85
OM 576
OM 4498
IR 50404
OM 1940
OMCS 2000
OM 2395
VNĐ 95 – 20
OM 3536
thuốc phun trừ rầy nâu, nhưng do nhiều diện tích lúa bị nhiễm rầy quá nặng (từ
1000-2000 con/m
2
), bà con phun thuốc chưa đúng kỹ thuật hoặc không đủ vốn
mà chưa tự giác phun tiêu huỷ những trà lúa nhiễm bệnh nặng, dẫn tới dịch rầy
nâu bùng phát, lan rộng ra khắp cánh đồng chỉ trong một thời gian ngắn.
Rầy nâu mang mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết.
Cây lúa càng non càng dễ bị nhiễm bệnh, về sau có thể không trổ bông được,
năng suất giảm nghiêm trọng hoặc mất trắng. Cây lúa già bị nhiễm bệnh thì năng
suất bị giảm ít hơn.
Đối với những diện tích bị nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa dưới
10%, bà con nên nhổ bỏ những cây lúa bị nhiễm bệnh, sau đó cấy dặm lại, đồng
thời dùng bình bơm có vòi ngắn để phun thuốc xuống tận gốc lúa; đối với những
trà lúa có tỷ lệ mắc bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá từ 10% trở lên thì bà con nên phun
tiêu huỷ triệt để nhằm hạn chế bệnh lây lan sang các đồng lúa lân cận.
Cách phòng trừ rầy nâu truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa
- Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm thời gian cách ly giữa hai
vụ lúa ít nhất 20-30 ngày. Theo sự phân vùng của ngành nông nghiệp, thời vụ
trong cùng một vùng phải tập trung, không được gieo sạ kéo dài.
- Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày, trục kỹ trước khi gieo sạ, dọn sạch
cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước.
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 17 SVTH: N.T.T.Hằng
- Sử dụng giống lúa kháng rầy, lúa giống có chất lượng tốt, không lấy lúa
thịt làm lúa giống, nếu có điều kiện có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý
hạt giống.
- Không gieo sạ quá dày trên 120 kg giống/ ha.
- Gieo sạ lúa vào thời gian có thể né rầy: thường mỗi tháng có một đợt rầy
vào đèn rộ kéo dài từ 5 - 7 ngày; để né rầy thì gieo sạ ngay sau đỉnh cao rầy vào
đèn. Như vậy, khi lúa non sẽ tránh được rầy trưởng thành truyền bệnh.
- Điều kiện khô hạn:
Điều kiện khô hạn làm cây lúa thiếu nước, quá trình trao đổi chất kém,
khả năng hấp thu dinh dưỡng yếu, nên khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa
còn thấp.
- Mật độ gieo trồng:
Mật độ gieo sạ cũng có liên quan đến khả năng phát triển của bệnh cháy
lá. Gieo sạ càng dày, tán lá lúa càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẫm độ
dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá phát
triển.
- Phân bón:
Ba lọai phân N-P-K đều có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh bệnh nếu
bón không cân đối. Thông thường bón dư thừa phân đạm sẽ làm tăng bệnh, dư
phân lân không thấy rõ ảnh hưởng lên bệnh. Tuy nhiên nếu bón thêm phân lân
trên vùng đất phèn sẽ hạn chế bệnh cháy lá rất rõ ràng. Phân kali có ảnh hưởng
rất phức tạp trên sự phát triển của bệnh cháy lá, bón dư thừa đạm và kali đều làm
tăng bệnh, bón đạm vừa phải kết hợp đủ lượng kali thì sẽ giãm bệnh rất rõ. Do
đó, trong giai đọan sau trổ nếu ruộng bị nhiễm bệnh cháy lá họặc thối cổ bông thì
không đuợc bón thêm phân bón lá có nitrat kali.
- Giống lúa:
Thông thường các giống lúa cao sản ngắn ngày khi được đưa vào sản xuất
đại trà thì đã được các nhà khoa học lai tạo, tuyển chọn để cây lúa có khả năng ít
nhiều mang gen có thể kháng hay chống chịu lại bệnh cháy lá. Trồng các giống
lúa nhiễm bệnh, khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho nầm bệnh, áp lực nguồn
bệnh trong khu vực cao thì cây lúa dễ bị cháy rụi nhanh rồi chết. Ngược lại, nếu
trồng giống lúa kháng bệnh kết hợp với việc áp dụng IPM thì cây lúa sẽ đứng
vững và tiếp tục cho năng suất. Khả năng kháng lại bệnh của giống lúa chỉ có thể
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 19 SVTH: N.T.T.Hằng
tồn tại trong một thời gian nhất định, do đó, bà con nên thay đổi giống mới sau
một thời gian canh tác.
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 20 SVTH: N.T.T.Hằng
Vì theo kinh nghiệm sản xuất lúa từ xưa đến nay họ cho rằng nếu đầu tư nhiều
vào chi phí thì sẽ đem lại năng suất cao, chứ không phải là các yếu tố quan trọng
khác như áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Chi phí bỏ ra cho một vụ lúa
của nông dân huyện Tiểu Cần thường là bao gồm chi phí sản xuất và chi phí lao
động thuê ngoài. Nhưng vì phần lớn người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp, sử dụng lao động gia đình là chính, nên họ chỉ bỏ ra chi phí lao động
thuê ngoài vào lúc thu hoạch mùa vụ. Còn phần lớn là chi phí sản xuất thông
thường là hơn 1 triệu/công. Cụ thể chi phí sản xuất trung bình của nông dân
huyện Tiểu Cần vụ Đông Xuân là 1.400.000 đồng/công. Cơ cấu của chi phí sản
xuất vụ Đông Xuân của nông dân huyện Tiểu Cần như sau:
Co cau chi phi trung binh(%) tinh tren mot cong vu Dong
Xuan
10%
28%
26%
4%
19%
5%
7%
1%
cp giong
cp phan
cp thuoc
cp cay,gieo sa
cp lai suat
cp van chuyen
cp thue dat
cp lao dong
chi phí sản xuất. Nông dân sản xuất lúa ở huyện chủ yếu mua giống từ người
quen để sản xuất, vì các nông hộ sản xuất giống chất lượng cao – đạt tiêu chuẩn
xuất khẩu theo khuyến cáo của nhà nước, nên có giá tương đối cao khoảng 9.000
đồng/kg, tuy giá giống lúa hơi cao, nhưng các hộ nông dân ở đây đa số áp dụng
kỹ thuật sạ hàng, vì thế chi phí giống không những không tăng mà còn giảm so
với sạ lan khi dùng giống cũ giá khoảng 5.000 đồng/kg. Các hộ nông dân không
có đủ điều kiện để đến trại giống cây trồng vật nuôi mua giống, mà đa số người
dân mua từ hộ nông dân nghèo được nhà nước hỗ trợ về giống, khi thấy nông hộ
nào sản xuất với giống đạt hiệu quả cao thì bà con lại mua về sản xuất trên đồng
ruộng của mình.
Chi phí cày xới, gieo sạ.
Sau khi thu hoạch vụ trước, người dân ở huyện Tiểu Cần thường cày đất,
phơi ải một thời gian để đất nghỉ ngơi. Chi phí trung bình của việc cày xới này là
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 22 SVTH: N.T.T.Hằng
102.000 đồng/công, chiếm 7% tổng chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, có 2% hộ gia
nông dân sử dụng máy nhà để cày xới.
Chi phí vận chuyển.
Nông dân ở đây phần lớn sống tập trung ở những tuyến đường giao thông
để tiện việc sinh hoạt đi lại, còn việc trồng lúa được tập trung ở những cánh đồng
riêng nên tất cả hộ nông dân ở đây đều phải bỏ ra chi phí vận chuyển. Trong mùa
vụ này, thời tiết khô ráo nên họ thường vận chuyển lúa mới thu hoạch về nhà
bằng xe. Chi phí trung bình của vận chuyển là 79.000 đồng/công chiếm 5% tổng
chi phí sản xuất.
Chi phí lãi suất.
Chỉ có 45% hộ nông dân có vay vốn ngân hàng, mặt khác họ vay ở các
quỹ tín dụng hoặc ngân hàng Nông Nghiệp & PTNT, và ngân hàng chính sách
với lãi suất ưu đãi nên chi phí dành cho khâu này rất thấp chỉ chiếm 1% tổng chi
phí. Bên cạnh đó, người nông dân sản xuất nông nghiệp đã được miễn giảm thuế
nông nghiệp từ nhiều năm nay nên họ cũng không phải trả thuế hay phí.
Biểu đồ 5: Cơ cấu chi phí trung bình (%) trên một công của vụ Hè
Thu.
Chi phí phân, thuốc.
Tất cả nông hộ đều phải bỏ ra chi phí phân thuốc trong mùa vụ này. Trung
bình chi phí phân là 450.000 đồng/công, chiếm 26% tổng chi phí sản xuất. Chi
phí thuốc trong vụ này gồm có thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu và thuốc trị bệnh bình
quân là 500.000 đồng/công, chiếm 29 % tổng chi phí sản xuất. Chi phí phân
thuốc trong vụ này rất cao do không thuận tiện thời tiết và một phần là do giá cả
các yếu tố đầu vào cũng tăng cao, nên các hộ nông dân ở huyện không đạt được
lợi nhuận cao.
Chi phí lao động.
Cơ cấu chi phí lao động của vụ Hè Thu cũng giống như cơ cấu chi phí lao
động của vụ Đông Xuân nhưng chiếm tỉ lệ nhiều hơn trong tổng chi phí vì
nguồn lao động ở nông thôn hiện nay thiếu rất nhiều nên tiền thuê mướn lao
động tăng lên đáng kể trung bình khoảng 350.000 chiếm 21% tổng chi phí
của vụ Hè Thu.
Chi phí giống.
Chi phí trung bình cho giống gieo trồng vụ hè thu là 150.000 đồng/công,
chiếm 9% tổng chi phí sản xuất. Trong vụ này các nông hộ cũng mua giống từ
Hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Ths.Trần Ái Kết Trang 24 SVTH: N.T.T.Hằng
người quen, và cũng có vài hộ kết hợp với viện nghiên cứu sản xuất lúa giống để
phục vụ cho bà con nông dân ở đây.
Chi phí cày xới, gieo sạ.
Vì vụ Hè Thu quá gần vụ Đông Xuân nên tất cả nông dân sản xuất lúa ở
đây tiến hành xới 2 lần, trục và xạ chứ không cày phơi ải. Chính điều này làm
cho chi phí cày xới của vụ mùa tăng cao. Chi phí cày xới trung bình là 112.000
đồng/ công, chiếm 7% tổng chi phí sản xuất.
Chi phí vận chuyển.
Chi phí vận chuyển trong vụ Hè Thu giảm so với vụ Đông Xuân vì có