Luận văn: Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng VPBank – Chi nhánh Đông Đô - Pdf 12

Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48 Luận văn
Chế độ pháp lý về bảo đảm
tiền vay và thực tiễn áp dụng
tại ngân hàng VPBank – Chi
nhánh Đông Đô
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển kinh tế, Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực cũng
như trên trường quốc tế. Góp phần không nhỏ vào việc đưa Việt Nam đạt được những
thành tựu đáng kể đó là sự nỗ lực hết mình của các cá nhân, doanh nghiệp trong việc
xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại giữ
một vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển chung của nền kinh tế
Việt Nam.
Nói đến hoạt động ngân hàng, phải nói đến một hoạt động chủ yếu, mang lại lợi
nhuận rất cao là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, đây cũng chính là hoạt động chứa đựng
nhiều rủi ro nhất. Một trong những nguyên nhân chính làm tăng rủi ro tín dụng chính là
việc thực hiện chưa tốt công tác bảo đảm tiền vay. Vấn đề này được đề cập rất nhiều
trong các văn bản quy định pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, ngay trong bản thân
những văn bản này vẫn còn tồn tại nhiều quy định chồng chéo, gây lung túng trong
việc áp dụng pháp luật cho các chủ thể.

nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm tiền vay tại ngân hàng trong giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp nghiên
cứu tài liệu, khảo sát và điều tra thực tế
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mục lục, danh mục viết tắt, danh mục sơ đồ, bảng biểu, phần mở
đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề được chia làm ba chương:
Chương 1: Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng VPBank
– Chi nhánh Đông Đô.
Chương 3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm tiền vay tại Ngân
hàng VPBank
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
CHƯƠNG I
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
1. Khái niệm và vai trò của hoạt động tín dụng
1.1. Khái niệm hoạt động tín dụng
Trên thực tế, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng
phổ biến nhất là chỉ quan hệ vay mượn, chuyển giao tài sản giữa bên cho vay và bên đi
vay.
Trong đời sống xã hội, tín dụng do nhiều loại chủ thể thực hiện. Tuỳ thuộc vào
chủ thể cung ứng tín dụng mà tín dụng có thể chia thành các loại như: tín dụng nhà
nước, tín dụng quốc tế,, tín dụng hợp tác, tín dụng ngân hàng…
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân,

 Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó
giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất.
Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn
lớn, tạo điều kiện cho các chủ thể đi vay huy động được vốn lớn để thực hiện đầu tư,
mở rộng sản xuất, rút ngắn thời gian tích lũy vốn. Như vậy, tín dụng đóng vai trò tích
cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thông qua tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ
sung rất lớn. Từ đó các doanh nghiệp có thể tăng quy mô sản xuất, đổi mới thiết bị, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh.
Điều này giúp các doanh nghiệp lớn có điều kiện phát triển tốt hơn nhưng cũng có thể
khiến một số doanh nghiệp nhỏ phải lâm vào tình trạng phá sản. Muốn tồn tại, các
doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau để tăng khả năng cạnh tranh. Như vậy, tín
dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
 Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hòa nguồn vốn góp phần ổn định thị
trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi
thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở những nơi
thiếu vốn, làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng
hóa và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.
Việc điều hòa nguồn vốn, đồng thời thông qua điều chỉnh khung lãi suất phù
hợp giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hòa lưu thông tiền
tệ góp phần ổn định tiền tệ và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.
Bên cạnh đó, thông qua hoạt động tín dụng, Chính phủ có những chính sách ưu
tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc
đưa ra các ưu đãi tín dụng… Do vậy đã kích thích, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư

các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải
hoàn trả bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả
lãi, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Tuy nhiên, Trong hợp đồng tín
dụng luôn có sự tồn tại của một TCTD đóng vai trò là một bên trong giao kết. Do vậy,
hợp đồng tín dụng không phải là một hợp đồng vay tài sản đơn thuần hợp đồng tín
dụng được giao kết theo những nguyên tắc riêng so với hợp đồng vay tài sản thông
thường.
Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) và các quy định
trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam về tín dụng ngân hàng không đưa ra khái niệm
pháp lý về hợp đồng tín dụng (HĐTD). Điều 51 Luật các TCTD 1997 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2004) quy định: “HĐTD phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử
dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá
trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả
thuận”.

1
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân, H.2005, tr133.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
So với các loại hợp đồng khác, HĐTD có các dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, trong HĐTD, TCTD với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ
đóng vai trò là bên cho vay. Khi tham gia quan hệ HĐTD, TCTD được tổ chức theo
hình thức luật định, thực hiện hành vi cho vay mang tính chuyên nghiệp. Đây cũng là
dấu hiệu để phân biệt HĐTD với hợp đồng vay tài sản trong các giao dịch dân sự thông
thường. Đó là, một bên tham gia HĐTD bao giờ cũng là TCTD có đủ các điều kiện do
luật định, với tư cách là bên cho vay còn bên kia có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn
những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
Thứ hai, quan hệ HĐTD là loại quan hệ kéo dài về mặt thời gian, bên cho vay

đại diện tại Việt Nam.
3. TCTD nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của TCTD hoạt động tại Việt Nam
theo quy định của Chính phủ.”
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, các loại ngân hàng sau đây có thể là người
cho vay trong các quan hệ tín dụng Ngân hàng:
- Ngân hàng Nhà nước: Là người cho vay trong quan hệ với các tổ chức tín dụng và
kho bạc nhà nước.
- Ngân hàng Thương mại: Là người cho vay trong quan hệ với các pháp nhân kinh tế
và thể nhân kinh doanh.
b. Bên đi vay
Như đã nói ở trên, chủ thể đi vay cần phải đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn
theo quy định của pháp luật. Theo khoản 2 Điều 2 Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN
ban hành ngày 25/08/2000 về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
thì chủ thể đi vay bao gồm:
- Các pháp nhân: Bao gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty TNHH, công ty
cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nưứoc ngoàivà các tổ chức khác có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 94 của Bộ luật Dân sự ;
- Cá nhân;
- Hộ gia đình;
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
- Tổ hợp tác
- Doanh nghiệp tư nhân
- Công ty hợp danh
Ngoài ra, tại Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 quy định chủ thể đi vay vốn, ngoài quy định giống như Khoản 2 Điều 2
Quyết định 284/2000/QĐ-NHNN1 còn bao gồm cả cá nhân và pháp nhân nước ngoài
Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước

2.2.2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ
tư cách chủ thể tham gia cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng phù hợp với
pháp luật. Theo quy định tại điều 51 Luật Các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung năm 2004:
“Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình
thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm,
phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”
Như vậy, nội dung của HĐTD phải bao gồm các điều khoản cụ thể như sau:
- Điều khoản về đối tượng trong hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải
thoả thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi HĐTD đáo hạn.
Trong hợp đồng tín dụng luôn có một tỷ lệ phần trăm (%) tiền lãi nhất định. Số tiền lãi
này bao gồm: lãi suất vay trong hạn (đúng kỳ hạn mà hai bên thoả thuận, tỷ lệ % tiền
lãi vay trong hạn thường thấp hơn tỷ lệ % tiền lãi vay quá hạn) và lãi suất vay quá hạn.
Tỷ lệ % tiền lãi được tính theo mức lãi suất tương đương mức lãi suất trần do Ngân
hàng nhà nước quy định đối với từng loại vay tương ứng.
- Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các bên cần
ghi rõ trong HĐTD những điều kiện cụ thể mà bên vay phải thoả mãn thì HĐTD mới
có hiệu lực. Chẳng hạn, bên vay phải có năng lực chủ thể; có khả năng tài chính bảo
đảm hoàn trả nợ vay đúng thời hạn; có phương án sử dụng vốn vay khả thi và hiệu quả,
các biện pháp bảo đảm tín dụng được áp dụng…
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là một điều khoản rất
quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế, các bên
phải thoả thuận rõ số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng hay là trả toàn bộ một
lần khi hợp đồng vay đáo hạn.
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: Các bên phải ghi rõ trong HĐTD về
ngày tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng. Nếu có

3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;
4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy
định của pháp luật;
5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
Theo Điều 14 Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 và Quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN khi khách hàng muốn vay vốn của tổ chức tín dụng thì khách
hàng phải lập một bộ hồ sơ vay vốn với đầy đủ các yêu cầu về: Giấy đề nghị vay vốn,
Các tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn.
 Bước 2: Thẩm định hồ sơ tín dụng
Thẩm định hồ sơ tín dụng là việc TCTD tiến hành xác minh các điều kiện vay
vốn đối với bên vay. Đây là một quy trình mang tính nghiệp vụ, gồm nhiều khâu được
thực hiện theo trình tự chặt chẽ, quyết định đến chất lượng của tín dụng.
Điều 53.2. Luật các TCTD quy định: “TCTD phải tổ chức việc xét duyệt cho vay
theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa các khâu thẩm định và quyết định cho
vay”. Nội dung thẩm định bao gồm việc xác định các điều kiện về chủ thể vay vốn,
thẩm định dự án đề nghị vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay, phương án sản xuất kinh
doanh và tính khả thi của phương án, các biện pháp đảm bảo hợp đồng (Điều 15.2 QĐ
1627/2001/QĐ-NHNN).
* Thẩm định điều kiện chủ thể vay vốn của chủ thể
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Thẩm định điều kiện chủ thể vay vốn hay thẩm định tư cách pháp lý của chủ thể
là việc xem năng lực pháp luật và năng lực hành vi của họ. Mục đích và nội dung của
của việc thẩm định này nhằm khẳng định xem khách hàng có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự trước pháp luật không. Đây là
một khâu rất quan trọng trong công tác tín dụng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu

quyết định cho vay, cán bộ tín dụng cần xem xét và đưa ra quyết định hình thức cho
vay, thời hạn vay vốn, mức cho vay, lãi xuất vay.
* Hình thức cho vay
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn của từng khoản vốn vay của khách hàng và
kiểm tra giám sát việc khách hàng sử dụng vốn của tổ chức tín dụng , tổ chức tín dụng
thoả thuận với khách hàng vay vốn về việc lựa chọn phương án cho vay theo một trong
các phương thức cho vay sau đây:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ
tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều
ký hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết bảo đảm
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức
tín dụng thoả thuận với khách hàng về thời hạn, hiệu lực của hạn mức tín dụng dự
phòng, mức chi trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục
vụ đời sống.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn
xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay vốn được quy định theo
Quyết định 284, 1627 và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc

hạn nhưng về mặt thời gian từ 60 tháng trở lên và không được quá thời hạn còn lại theo
quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân, không quá 15 năm
đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
* Mức cho vay
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, quy định của
Chính phủ tại Nghị định số 178 về mức cho vay với giá trị tài sản bảo đảm, khả năng
hoàn trả nợ của khách hàng vay vốn và khả năng nguồn vốn của mình để quyết định
mức cho vay.
Tổng dư nợ cho vay của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có
của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản vay từ nguồn vốn uỷ thác
của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp vay là các tổ chức tín dụng.
Đối với các đối tượng hạn chế cho vay thì tổng dư nợ cho vay không được vượt quá
5% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
 Bước 4: Đàm phán các điều khoản của HĐTD và ký kết HĐ
Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giao kết HĐTD. Trong giai đoạn
này, các bên trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận các điều khoản của HĐTD. Trên cơ sở
xem xét đánh giá kỹ lưỡng hồ sơ vay vốn và thẩm định các yếu tố cần thiết, cán bộ tín
dụng sẽ xét duyệt cho vay và hình thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có
đầy đủ nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền
vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả
nợ và các cam kết khác được các bên thoả thuận. Giai đoạn này kết thúc bằng việc các
bên cùng chính thức ký tên vào bản hợp đồng.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Sau khi HĐTD được ký kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Đây là
quá trình làm cho cam kết trong HĐTD trở thành hiện thực thông qua hành vi của các
bên. Sau khi đã cho khách hàng vay vốn, TCTD thường xuyên kiểm tra, giám sát quá
trình sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng.

Trước khi Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam phân chia
hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế thành hai chế định hoàn toàn độc lập. Theo đó,
pháp luật về giao dịch bảo đảm cũng có sự phân chia tương ứng. Hệ quả là các giao
dịch bảo đảm trong lĩnh vực dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự năm 1995 và
các văn bản hướng dẫn thi hành. Còn các giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực kinh tế thì
chịu sự điều chỉnh trước hết của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và các văn bản
hướng dẫn thi hành.
Bảng so sánh các giao dịch bảo đảm trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm
1989 và Bộ luật dân sự năm 1995 dưới đây cho thấy sự khác biệt trước hết về số lượng
các giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực dân sự và kinh tế, cụ thể như sau:
Bảng 1.1. So sánh gữa các giao dịch bảo đảm trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1989 và Bộ luật dân sự 1995

LOẠI BIỆN PHÁP
BẢO ĐẢM
BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP LỆNH HỢP ĐỒNG
KINH TẾ
Có/Kh
ông
Số
điều
Có/Không Số điều
Thế chấp Có 16 Có 1
Cầm cố Có 16 Có 1
Bảo lãnh Có 9 Có 1
Ký cược Có 1 Không
Đặt cọc Có 2 Không
Ký quỹ Có 1 Không
Tín chấp Có 1 Không
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48

Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
văn bản pháp luật chuyên ngành, ví dụ về đất đai, thương mại không có quy định thì áp
dụng các quy định tương ứng trong Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể hoá quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, đồng thời bãi bỏ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP
ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP.
Do vậy, một trong những kết quả quan trọng mà Việt Nam đạt được trong tiến
trình cải cách khuôn khổ pháp luật là điều chỉnh và áp dụng thống nhất các quy định
của pháp luật về giao dịch bảo đảm, không có sự phân biệt bên nhận bảo đảm là tổ
chức tín dụng hay tổ chức, cá nhân khác (loại bỏ những trách nhiệm hay đặc quyền chỉ
áp dụng riêng đối với tổ chức tín dụng). Ví dụ quy định về điều kiện, thủ tục nhận bảo
đảm bằng tài sản; xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay và hỗ trợ trong việc thu giữ
tài sản bảo đảm.
1.2. Hệ thống văn bản hiện hành
- Bộ luật Dân sự 2005.
- Luật các tổ chức tín dụng 1997, đã sửa đổi bổ xung năm 2004
- Luật Ngân hàng Nhà nước 1997, đã sửa đổi, bổ sung 2003.
- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày 31
tháng 12 năm 2001 ban hành quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng (đã được
sửa đổi bởi các quyết định số 127/2005 và quyết định số 783/2005 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước).
- Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 quy định về công chứng chứng thực.
- Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.
2. Khái niệm và vai trò của bảo đảm tiền vay
2.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay

Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Bên nhận bảo đảm ngay tình là bên nhận bảo đảm trong trường hợp không biết
và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự.

2.2. Vai trò của bảo đảm tiền vay
Những khía cạnh kinh tế, pháp lý của giao dịch bảo đảm tiền vay cho thấy chế
định này đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ nói riêng, các doanh nghiệp nói chung. Bảo đảm tiền vay góp phần hạn chế
rủi ro tín dụng, hạn chế các tranh chấp trong hoạt động tín dụng.
 Bảo đảm tiền vay góp phần bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay của các tổ
chức tín dụng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu rộng, những yêu cầu
mới của nền kinh tế toàn cầu hóa đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không
ngừng hoàn thiện về mọi mặt. Việt Nam đã và đang có các chính sách ưu đãi để phát
triển các doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy giữ vai trò
ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát
triển, nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về
vốn. Bảo đảm tiền vay chính là giải pháp cho việc doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tín
dụng ngân hàng. Mặt khác, việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản sẽ bảo đảm quyền ưu
tiên của tổ chức tín dụng trong việc thu hồi nợ trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn
gặp khó khăn trong thanh toán, nhất là khi doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản.
Khi cho khách hàng vay vốn, mục đích mà các TCTD hướng đến là lợi nhuận,
mà lợi nhuận ở đây chỉ có thể có được khi khách hàng hoàn trả vốn vay và lãi suất. Để
phòng ngừa mọi rủi ro có thể xảy ra, các TCTD buộc phải áp dụng các biện pháp bảo
đảm tiền vay để bảo toàn nguồn vốn cho vay. Trong trường hợp khách hàng không có
khả năng hoàn trả phần vốn vay do hoạt động sản xuất kinh doanh của họ gặp khó khăn

Trong Nghị định 163/2006/NĐ – CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006
có quy định về khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay. Theo đó, tài sản bảo đảm là tài sản
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm
(khoản 7, Điều 3 – Nghị định 163/2006 về giao dịch bảo đảm).
Theo Điều 4 Nghị định 163/2006 quy định tài sản bảo đảm gồm:
- Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc
thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện
có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch.
- Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau
thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình
thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao
dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của
bên bảo đảm.
- Doanh nghiệp nhà nước được sử dụng tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp và có giá trị pháp
lý đối với người thứ ba thì Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác không được
kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảo đảm, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
3.2. Các biện pháp bảo đảm
3.2.1. Biện pháp cầm cố
Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong hợp đồng
tín dụng thì việc cầm cố tài sản để bảo đảm thực hiện đúng các nghĩa vụ được thoả
thuận trong hợp đồng. Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản, bên nhận cầm cố tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status