Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng - một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Không chỉ đóng vai trò là nơi thu hút tiền từ mọi thành phần, tổ chức kinh tế để đầu
tư, cho vay đối với các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài ngước, nó còn đóng vai
trò là công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ nhằm điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với đó, đầu năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của tổ chức thương mại thế giới WTO.Với việc ra nhập WTO bên cạnh những cơ
hội, các NH Việt Nam cũng chịu không ít những thách thức mới. Các ngân hàng
nước ngoài sẽ được phép mở rộng mạng lưới hoạt động tại Việt Nam. Với những thế
mạnh về vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật…các ngân hàng nước ngoài sẽ là những đối thủ
cạnh tranh lớn của các NHTM Việt Nam. Đứng trước những cơ hội và thách thức đan
xen, các NHTM của Việt Nam đã đưa ra những chiến lược gì để tăng cường năng lực
cạnh tranh của đơn vị mình trên cả thị truờng trong và ngoài nước.
Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế và những vấn đề “nóng” mà NH đang
phải đương đầu chính là lý do khiến tôi quyết định lựa chọn NH là nơi thực tập của
mình. Và NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi
nhánh Đông Đô chính là nơi tôi quyết định thực tập.
Trong quá trình thực tập tại Ngân hàng, được tiếp xúc và làm việc trực tiếp với
các anh chị cán bộ NH, nhất là trong thời gian làm việc tại phòng phục vụ khách hàng
cá nhân, tôi đã nắm rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh và nhận
thức được sự cần thiết phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại đây. Nhằm vận
dụng những kiến thức đã tìm hiểu được trong thời gian qua và góp một vài ý kiến
trong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh Đông Đô, tôi đã
lựa chọn đề tài: “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng VPBank chi
nhánh Đông Đô. Thực trạng và giải pháp”.
Vấn đề nâng cao NLCT là vấn đề phức tạp, trong chuyên đề này chỉ tập trung
nghiên cứu thực trạng đầu tư nâng cao NLCT và các vấn đề còn tồn tại. Từ đó đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao NLCT của chi nhánh Đông Đô hơn nữa.
Nội dung của chuyên đề thực tập tốt nghiệp bao gồm 2 chương:
Bảng 1.1: Danh sách các NHTM mới thành lập tại Việt Nam
trong giai đoạn 2007-2008
STT Tên NH Năm thành lập
1 NHTMCP Liên Việt 2007
2 NHTMCP Bảo Việt 2007
3 NHTMCP FPT 2007
4 NH Ngoại Thương Châu Á 2008
5 NH Việt Nam Thường tín (VietBank) 2008
(Nguồn tổng hợp trên mạng)
Sự cạnh tranh với các đối thủ uy tín đã tồn tại lâu năm: Đây là mối lo thường
trực của các NH trong kinh doanh. Sự cạnh tranh này không kém phần gay gắt so với
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
2
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
sự cạnh tranh với các NHTM mới gia nhập, thậm trí còn khốc liệt hơn. Nếu như các
NHTM mới thành lập có lợi thế về sức trẻ và sự nhạy bén thì các NH hoạt động lâu
năm lại có lợi thế về kinh nghiệm, uy tín và thương hiệu. NH VPBank tuy đã hoạt
động được hơn 15 năm nhưng so với các NHTM lớn khác thì vẫn còn là non trẻ. Đặc
biệt, với chi nhánh Đông Đô là chi nhánh mới đi vào hoạt động được gần 2 năm,
nhưng là một trong những chi nhánh trụ cột của NHTMCP VPBank, tất yếu sẽ
chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các chi nhánh cùng cấp với nó. Với lợi thế địa
điểm đặt tại 362 phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội, đây là ngã ba giao cắt với
đường Đại Cồ Việt và Trần Khát Chân – một vị trí rất thuận tiện để quảng bá các
sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng tới khách hàng. Chính vì thế mà tại khu vực này
có rất nhiều chi nhánh của các NH lớn, thậm chí cả trụ sở chính của các NH.
Dưới đây là danh sách các NH và chi nhánh của các NH lớn đang cạnh tranh
với chi nhánh Đông Đô.
Bảng 1.2: Danh sách các chi nhánh của các NH lớn nằm trong khu vực cùng
cạnh tranh về địa bàn.
STT
7 Chi nhánh Vietcombank 32 Đại Cồ Việt, Hai Bà
Trưng, Hà Nội
NHTMCP Ngoại thương
Việt Nam
(Vietcombank)
(Nguồn tự tổng hợp từ thực tế)
Trên đây chính là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với VPBank Đông Đô.
Trước lợi thế về kinh nghiệm và uy tín của những NH này càng đòi hỏi VPBank
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đông Đô phải quan tâm đến các hoạt động đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh
hơn nữa nếu muốn tồn tại và đứng vững trên thương trường.
Thứ hai, vì mục tiêu lợi nhuận: Đây có thể nói là động lực lớn nhất thúc đẩy
các NHTM ngày càng tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh. Cũng giống
như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc
biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Vì mục đích này,
các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng
cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên
cạnh là sự đảm bảo về sự nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và đảm bảo độ an toàn cao
nhằm thu hút khách hàng, qua đó mở rộng thị phần để đạt được lợi nhuận cao nhất
cho ngân hàng. Do vậy, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong các NHTM nói
chung và VPBank Đông Đô nói riêng là việc làm hết sức cần thiết.
Thứ ba, sức ép từ phía khách hàng: Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời
sống con người ngày càng được nâng cao. Chính vì vậy, những yêu cầu, đòi hỏi của
họ đối với các ngân hàng cũng ngày càng khắt khe hơn về chất lượng dịch vụ cung
cấp, uy tín của ngân hàng hay thái độ phục vụ của NH... Những NH đáp ứng được
những yêu cầu đa dạng của khách hàng với thái độ phục vụ chu đáo sẽ tạo được niềm
tin cho khách hàng. Đây chính là cơ sở cho sự phát triển bền vững của NH trong
tương lai. Nhưng để có đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu trên cũng như để có thể
với các NHNN, NHTM của Việt Nam có đủ sức cạnh tranh với các NH nước ngoài.
Từ những luận điểm trên có thể khẳng định rằng đầu tư nâng cao năng lực cạnh
tranh tại chi nhánh Đông Đô là một nhu cầu cần thiết, là một tất yếu khách quan.
1.1.2 Tình hình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh
Đông Đô
1.1.2.1 Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư cho nâng cao năng lực cạnh tranh
Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
Tất cả các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng, muốn triển khai thực
hiện được các hoạt động đầu tư tại đơn vị mình thì trước tiên phải huy động được
vốn. Ngay từ đầu Chi nhánh Đông Đô đã xác định nguồn vốn có ý nghĩa quyết định
đến việc kinh doanh. Quán triệt quan điểm này, trong hơn hai năm qua, chi nhánh đã
nỗ lực xây dựng và thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp nhằm tăng cường khả năng
huy động vốn hơn nữa cho chi nhánh. Cụ thể:
Chi nhánh đã quán triệt, xây dựng quy chế khoán huy động vốn tới từng cán
bộ, từng phòng giao dịch trực thuộc chủ động tiếp cận khách hàng là dân cư, các tổ
chức kinh tế. Kết hợp với việc thường xuyên phát động phong trào thi đua huy động
vốn với các tiêu chí cụ thể, khen thưởng kịp thời đến từng phòng nghiệp vụ, phòng
giao dịch và trực tiếp đến từng cán bộ giúp tăng trưởng được nguồn vốn đáng kể.
Đồng thời, chi nhánh cũng tăng cường đầu tư mở rộng mạng lưới tại những
khu đô thị mới có dân cư đông đúc, mở rộng các hình thức thanh toán như chuyển
tiền điện tử, kết nối với khách hàng..., đẩy mạnh hoạt động phát hành thẻ và đặt thêm
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
nhiều máy ATM thông qua việc phát hành miễn phí và mở rộng mạng lưới chấp nhận
thẻ, nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ đáp ứng kịp thời các nhu cầu đa dạng của khách
hàng.
Điểm đáng chú ý là chi nhánh thường xuyên bám sát tình hình thị trường, tích
cực theo dõi biến động lãi suất huy động trên thị trường để có hướng điều chỉnh lãi suất
kịp thời. Chính vì vậy mà NH VPBank nói chung và chi nhánh Đông Đô nói riêng luôn
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
nhất là 0.7%/năm. Sau điều chỉnh này, lãi suất huy động tiết kiệm rút gốc linh hoạt
tại VPBank bình quân thấp nhất đạt 7.60%/năm (kỳ hạn 1 tháng) và cao nhất đạt
9.30%/năm (kỳ hạn 36 tháng).
Kể từ ngày 11/9/2009, VPBank chính thức áp dụng trên toàn hệ thống biểu lãi
suất huy động vốn bằng USD mới. Đợt điều chỉnh này, VPBank tăng lãi suất USD ở
tất cả các kỳ hạn huy động hiện có với mức tăng thấp nhất là 0.3%/năm (loại Không
kỳ hạn) và cao nhất lên tới 1.1%/năm (loại kỳ hạn 12 tháng). Sau khi điều chỉnh, lãi
suất huy động USD thấp nhất là 0.50%/năm (Không kỳ hạn) và cao nhất là
2.80%/năm (kỳ hạn 36 tháng).
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Biểu 1.3: Lãi suất huy động USD của VPBank sau khi được điều chỉnh
Loại kỳ hạn
Lãi suất áp dụng từ
11/9/2009 (%/năm)
Mức tăng so với biểu lãi
suất cũ (%/năm)
Không kỳ hạn 0.50 0.3
KH 01 tháng 1.30 0.4
KH 02 tháng 1.50 0.4
KH 03 tháng lãi cuối kỳ 1.70 0.5
KH 04 tháng lãi cuối kỳ 1.70 0.5
KH 06 tháng lãi cuối kỳ 2.20 0.9
KH 07 tháng lãi cuối kỳ 2.20 0.9
KH 09 tháng lãi cuối kỳ 2.25 0.85
KH 12 tháng lãi cuối kỳ 2.60 1.1
KH 13 tháng lãi cuối kỳ 2.70 1.05
KH 24 tháng lãi cuối kỳ 2.70 0.95
kể. Chi nhánh cũng thường xuyên đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng cũ, tiếp
thị các doanh nghiệp mới để nâng cao số dư tiền gửi tại ngân hàng trên cơ sở duy trì
một lượng lớn khách hàng gắn bó.
Thông qua việc thực hiện hàng loạt các chính sách, biện pháp như vừa đề cập
ở trên, cùng với sự nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ, nhân viên chi nhánh Đông
Đô nhằm thu hút vốn, kết quả tổng nguồn vốn huy động của Đông Đô đã gia tăng
đáng kể trong hơn 2 năm hoạt động. Cụ thể, tình hình huy động vốn của Chi nhánh
đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực. Được thành lập từ 15/12/2007 với mức
huy động vốn tại thời điểm 31/12/2007 là 442,383 tỷ đồng. Sau 1 năm hoạt động đến
cuối năm 2008 chi nhánh đã huy động được 924,104 tỷ đồng tăng 481,721 tỷ đồng so
với cuối năm 2007( tương đương tăng 108,9%) và đạt 102.7% so với kế hoạch đề ra.
Đến cuối tháng 06/2009 tổng nguồn vốn huy động đạt được là 1258,390 tỷ đồng tăng
334,286 tỷ đồng so với cuối năm 2008 và tăng 4,9 % so với kế hoạch tháng 6 năm
2009 đặt ra. Dưới đây là bảng thể hiện tình hình huy động vốn của chi nhánh qua các
năm.
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 1.4: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh 2007-2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
31/12/2007 31/12/ 2008 Tháng 06/2009
TH KH TH
% so
KH
% so
năm 2007
KH TH
% so
KH
(%)
Giá trị
(tỷ đồng)
Tỉ
trọng
(%)
Tổng huy động vốn
442,383
100
924,104
100
1.258,390
100
1
Phân theo thời gian
huy động
Ngắn hạn 227,153 51,35 478,389 51,76 635,624 50,51
Trung hạn 123,782 27,98 302,143 32,69 298,188 23,69
Dài hạn 91,448 20,67 143,572 15,55 324,578 25,80
2
Phân theo dòng tiền
huy động
Nguồn nội tệ 298,451 67,47 644,934 69,79 754,78 59,98
Nguồn ngoại tệ 143,932 32,53 279,17 30,21 503,61 40,02
3
Phân theo thành
phần kinh tế
Từ các TCKT 178,212 40,28 298,465 32,29 322,997 25,67
Từ dân cư 213,345 48,22 527,789 57,11 803,130 63,82
Từ thành phần khác 50,826 11,50 97,850 10,60 132,263 10,51
trọng. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng của nguồn vốn này lại không đều qua các năm. Năm
2008 nguồn vốn này mới chỉ tăng trưởng 20.13%. Đến tháng 06/2009 nguồn vốn này
đã tăng lên 51,40%. Nguyên nhân của việc tăng đột biến này hoàn toàn có thể lí giải
được, đó là do năm 2008 là năm chi nhánh mới đi vào hoạt động được một thời gian
ngắn nên vấn đề đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh còn chưa có kinh nghiệm cũng
như sự quan tâm đúng mức, vì vậy mà sự thực hiện đầu tư có sự chậm trễ. Cùng với
đó năm 2008 cũng là năm đánh dấu sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu. Sự sụt
giảm này có ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn huy động vốn cho hoạt động động kinh
doanh cũng như đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Trong bối cảnh
đó, VPBank Đông Đô vẫn đảm bảo được tổng nguồn vốn cho đầu tư nâng cao năng
lực cạnh tranh tuy rằng có sự tăng trưởng chậm nhưng có thể nói đó là một sự cố
gắng rất lớn của VPBank Đông Đô. Sang năm 2009 nhất là những tháng gần đây khi
nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi, NH đã có tốc độ gia tăng nguồn vốn này khá cao,
tăng 51, 40 % so với năm 2008. Với sự phân tích nói trên đã cho thấy sự quan tâm
đặc biệt của VPBank nói chung và chi nhánh Đông Đô nói riêng trong việc đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh của NH trong những năm tiếp theo. Vì vậy nên, nguồn
vốn này có thể khẳng định nó sẽ có xu hướng gia tăng mạnh mẽ trong những năm sắp
tới.
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn của chi nhánh Đông Đô được huy động chủ yếu từ hai nguồn
chính là vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Quy mô các nguồn vốn của chi nhánh Đông Đô được thể hiện theo bảng dưới
đây:
Bảng 1.8: Quy mô các nguồn vốn đầu tư tại chi nhánh NH Đông Đô
STT Năm/Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 06/2009
1 Tổng Vốn Đầu Tư Tỷ đồng
442,383 924,104 1.258,390
(Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của chi nhánh Đông Đô)
Biểu đồ 1.10: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo nguồn hình thành vốn của
chi nhánh Đông Đô giai đoạn 2007-2009
(Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của chi nhánh Đông Đô)
- Vốn chủ sở hữu:
Nguồn vốn chủ sở hữu giai đoạn 2007-2009 của chi nhánh chủ yếu hình thành
từ lợi nhuận để lại. Nhìn vào bảng ta thấy tỷ trọng vốn chủ sở hữu của chi nhánh có
sự gia tăng qua các năm, nhưng nhìn chung so với tổng nguồn vốn thì nguồn vốn này
vẫn chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ. Điều này cũng dễ hiểu vì chi nhánh Đông Đô là
chi nhánh của NHTMCP mới hoạt động, so với các NH lớn khác thì mức vốn chủ sở
hữu còn khiêm tốn Điều này đã gây ra không ít những khó khăn cho NH trong việc
huy động vốn đầu tư và sử dụng vốn, các hoạt động đầu tư vào cơ sở vật chất và đổi
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
mới công nghệ; phát triển nguồn nhân lực; hoạt động marketing, phát triển thương
hiệu…nhằm nâng cao năng lực canh tranh vì thế mà cũng bị ảnh hưởng.
Nguồn vốn chủ sở hữu của chi nhánh hình thành chủ yếu từ lợi nhuận để lại.
Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 1.11: Lợi nhuận trước thuế của NH VPBank Đông Đô
giai đoạn 2007-2009
Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 06/2009
Lợi nhuận sau thuế Tỷ đồng 7,457 12,298 8,124
TĐPT liên hoàn của LN % - 64,92 -33,94
ơ
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của chi nhánh Đông Đô giai đoạn 2007-2009)
Nhìn vào bảng trên ta thấy lợi nhuận sau thuế của Đông Đô tăng trưởng nhanh
thì cần phải có sự so sánh với các NH khác. Dưới đây là số liệu phản ánh tình hình
huy động vốn và vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của một số NH.
Bảng 1.12: Tình hình huy động vốn và VĐT dành cho nâng cao NLCT
của một số NH cạnh tranh với VPBank Đông Đô
Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 06/2009 Tổng
1. VPBank Đông Đô
Tồng vốn huy động Tỷ đồng
442,383 924,104 1.258,390
2.624,777
VĐT nâng cao NLCT Tỷ đồng 40,220 48,315 73,150 161,685
Tốc độ phát triển liên hoàn của VĐT
nâng cao NLCT
% - 20,13 51,40 -
2. NH NN& PTNN chi nhánh Thủ
Đô
Tồng vốn huy động Tỷ đồng 294,908 989,179 1.393,240 2.677,327
VĐT nâng cao NLCT Tỷ đồng 50,130 68,783 116,339 235,252
Tốc độ phát triển liên hoàn của VĐT
nâng cao NLCT
%
- 37,21 69,14 -
3. NHTMCP Á Châu (ACB) chi
nhánh Hà Nội
Tồng vốn huy động Tỷ đồng 655,467 1.172,365 1.343,982 3.171,814
VĐT nâng cao NLCT Tỷ đồng 74,230 94,368 149,280 317,878
Tốc độ phát triển liên hoàn của VĐT
nâng cao NLCT
%
- 27,13 58,19 -
4. MaritimeBank Hai Bà Trưng
trước những sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, cơ sở vật chất và công nghệ hiện
đại chính là một thứ vũ khí lợi hại trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân
hàng. Nó cũng chính là một yếu tố giúp ngân hàng vươn lên tạo được uy tín, thương
hiệu và vị thế so với các đối thủ cạnh tranh khác nếu như những yếu tố này được sử
dụng một cách hiệu quả. Có thể nhấn mạnh rằng, một khi ngân hàng tạo dựng được
một hệ thống cơ sở vật chất khang trang và ứng dụng những thành tựu công nghệ
hiện đại, nhất là công nghệ thông tin trong ngân hàng, thì đây chính là cơ sở để các
NHTM có điều kiện triển khai và mở rộng mạng lưới giao dịch, từ đó cho phép mở
rộng đối tượng và phạm vi khách hàng, đồng thời triển khai thêm được các loại hình
dịch vụ mới.
Cùng với việc mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ thì vấn đề chất lượng
cung cấp dịch vụ cũng cần phải quan tâm. Một khi mạng lưới được mở rộng thì việc
quản lý chúng sẽ trở nên khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều. Trong khi dịch vụ mà các
ngân hàng cung cấp lại luôn phải hướng tới các yêu cầu như nhanh chóng, chính xác,
thuận tiện, bảo mật và đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao. Điều này đòi hỏi các
ngân hàng phải có cơ sở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại để có thể xử
lý kịp thời và hiệu quả. Hơn nữa, số lượng thông tin, dữ liệu của khách hàng là cực
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
kỳ lớn nên yêu cầu NHTM phải có hệ thống lưu trữ, quản lý toàn bộ các thông tin
này một cách đầy đủ mà vẫn có khả năng truy xuất một cách dễ dàng.
Không chỉ là vấn đề đảm bảo chất lượng dịch vụ, hệ thống cơ sở vật chất và
công nghệ hiện đại còn cho phép tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả hai phía ngân
hàng và khách hàng. Các NH sử dụng công nghệ thông tin để cung ứng và quản lý
các dịch vụ. Các Website của ngân hàng được ví như trung tâm thông tin, các chi
nhánh phân phối ở mọi lúc, mọi nơi. Khách hàng có thể truy cập để tìm hiểu, lấy
thông tin về các dịch vụ cung cấp, phía NH từ đó cũng có thể tiếp cận với khách hàng
nhanh chóng và có hiệu quả. Công nghệ thông tin cho phép các NH nắm bắt, cập nhật
nhanh chóng, dễ dàng và đầy đủ các thông tin từ phía khách hàng, cho phép giảm
+ Thuê thêm 01 phòng giao dịch: 4,897 tỷ đồng
+ Thuê trang thiết bị( máy chiếu, máy quay, máy scan...): 0,309 tỷ
đồng
- Chi các vật liệu khác: 2,374 tỷ đồng
Trong tổng mức vốn đầu tư vào tài sản của chi nhánh, vốn đầu tư dành cho
mua sắm công cụ, máy móc thiết bị luôn chiếm tỷ trọng lớn. Điển hình chỉ trong sáu
tháng đầu năm 2009 vốn đầu tư cho mua sắm công cụ lao động nhằm nâng cao năng
lực máy móc, thiết bị của chi nhánh đã chiếm trên 50% tổng nguồn vốn đầu tư vào tài
sản. Các khoản chi cho việc thuê tài sản cũng chiếm tỷ trọng tương đối 31,15% tổng
VĐT vào tài sản. Trong sáu tháng năm 2009 chi nhánh đã liên tiếp kí phê duyệt cho
việc thuê các tài sản có giá trị lớn như: thuê thêm 01 phòng giao dịch đặt tại đường
Trần Đại Nghĩa, chi thuê trang thiết bị máy chiếu, máy quay...
Để thấy rõ hơn sự biến động trong đầu tư vào cơ sở vật chất và thiết bị của chi
nhánh ta có bảng thể hiện tình hình đầu tư cụ thể qua các năm như dưới đây.
Bảng 1.13: Tình hình đầu tư vào tài sản của NH Đông Đô giai đoạn 2007-2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 06/2009
Tổng đầu tư vào tài sản 8,543 7,922 16,710
Mua sắm công cụ lao động 5,325 3,612 9,130
Chi thuê tài sản 2,074 2,989 5,206
Chi các vật liệu khác 1,144 1,321 2,374
(Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của chi nhánh Đông Đô trong các năm)
Qua bảng ta thấy, năm 2008 tổng vốn đầu tư vào tài sản có sự giảm sút so với
năm 2007. Có sự sụt giảm này là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trong năm
này, hoạt động kinh doanh của VPBank nói chung và Đông Đô nói riêng gặp nhiều
khó khăn nên giá trị đầu tư vào tài sản có phần giảm sút.Thêm vào đó là thiết bị cũng
đã được đầu tư từ những năm trước. Bước sang năm 2009 nền kinh tế có dấu hiệu
phục hồi, đây là lí do khiến Vbank Đông Đô tăng cường đẩy mạnh hoạt động đầu tư
này để nâng cao khả năng cạnh tranh.
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
tỏ VPBank Đông Đô đã có sự quan tâm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình. Nhưng so với tổng nguồn VĐT nâng cao lực cạnh tranh thì tỷ trọng
VĐT vào cơ sở vật chất và công nghệ còn tương đối thấp. Thể hiện, năm 2007,
VĐT nâng cao năng lực cơ sở vật chất và công nghệ chỉ chiếm 20,51% tổng VĐT
nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ năm 2008 tỷ trọng này có sự tăng lên nhưng
tăng chậm và còn thấp. Đặc biệt khi so sánh với các NH khác như NH NN&
PTNN chi nhánh Thủ Đô hay NH ACB chi nhánh Hà Nội thì sự đầu tư của Đông
Đô quả còn yếu thế. Trước tình hình này, đòi hỏi Đông Đô trong thời gian tới cần
có những biện pháp kích thích đầu tư hơn nữa vào nâng cao năng lực CSVC và
công nghệ.
Đầu tư vào đổi mới công nghệ
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới công nghệ, ban lãnh đạo chi
nhánh đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn để tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ.
Mục tiêu của đầu tư đổi mới công nghệ là nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao
chất lượng và tiến độ kinh doanh của đơn vị. Trong quá trình hoạt động, Chi nhánh
đã áp dụng hàng loạt các dự án công nghệ có tầm quan trọng. Điển hình là 2 Dự án:
Dự án VPBank Platinum và EMV MasterCard với hai hình thức là thẻ ghi nợ và thẻ
tín dụng. Hai dự án sản phẩm thẻ nói trên đều được chấp nhận thanh toán rộng rãi tại
24 triệu đơn vị chấp nhận thẻ, cũng như có thể sử dụng để rút tiền mặt tại hơn 1 triệu
máy ATM có biểu tượng MasterCard trên toàn cầu. Ngoài ra, còn có các dự án khác
như: Cung cấp dịch vụ SMS; Dự án tư vấn chiến lược phát triển công nghệ thông tin
và sản phẩm dịch vụ tới năm 2015, cung cấp nhiều sản phẩm ngân hàng hiện đại như
gửi tiền nhiều nơi, rút nhiều nơi, Telephone Banking, InternetBanking…
VBBank là NHTM đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ chíp theo tiêu chuẩn
EMV quốc tế, cho phép kết nối với các máy ATM của VPBank để có thể rút tiền và
chuyển tiền tự động và nhanh chóng.
Bảng 1.15: Danh mục đầu tư vào công nghệ của VBPank
72 điểm
ứng dụng
2,8 triệu
USD
81 điểm
ứng dụng
(Nguồn: Phòng đầu tư - Hội sở chính VPBank)
Trong khi đó, so với các đối thủ khác cũng đã đầu tư mạnh vào công nghệ làm
nền tảng cho sự phát triển các sản phẩm mới mang tính công nghệ cao. Cụ thể như
ngân hàng ACB đã bắt đầu trực tuyến hóa các giao dịch ngân hàng từ tháng 10/2001
thông qua hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ TCBS, có cơ sở dữ liệu tập trung
và xử lý giao dịch theo thời gian. ACB còn sử dụng dịch vụ tài chính của Reuteurs
dùng để cung cấp thông tin trực tuyến mua bán ngoại tệ…..
Dưới đây là bảng tổng hợp tham khảo chi phí mà các NHTMCP đã chi ra để
ứng dụng phần mềm ngân hàng lõi “core banking”.
Bảng 1.16: Chi phí các NHTM CP đã chi để ứng dụng phần mềm ‘’core banking’’
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tên NHTM Chi phí
Thời gian
triển khai
Đối tác thực hiện
ACB 2 triệu USD 2 năm Unisys
Sacombank 3,2 triệu USD 1 năm Temenos
Techcombank 2 triệu USD 2 năm Temenos
EAB 2,7 triệu USD 1 năm I-Flex
VIB 3 triệu USD 1 năm Oracle
(Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2007)
Bảng dữ liệu trên cho thấy các Ngân hàng rất xem trọng việc phát triển công nghệ,
chi nhánh Đông Đô
Năm Đơn vị 2007 2008 06/2009
Số lượng CBNV được đào
tạo và đào tạo lại Người
8 12 13
Chi phí cho đào tạo CBNV Triệu đồng 83 153 169
Chi phí cho đào tạo 1 CBNV Triệu đồng/ người 10,375 12,75 13
(Nguồn: Số liệu tự tổng hợp từ các năm)
Qua bảng số liệu ta thấy vốn đầu tư chi cho việc đào tạo và đào tạo lại một
nhân viên của chi nhánh đã có sự tăng lên qua các năm. Cụ thể, năm 2007 mới chỉ là
10,375 triệu đồng/ người, sang năm 2008 và sáu tháng 2009 con số này lần lượt là
12,75 triệu đồng/ người, 13 triệu đồng/ người.
Trong năm 2008 vừa qua, Chi nhánh đầu tư với tổng số vốn hơn 100 triệu
VNĐ để liên tiếp mở các khoá huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên,
trong năm đã hướng dẫn cụ thể cho cán bộ tín dụng về phân tích, đánh giá tài
chính doanh nghiệp, tổ chức học tập triển khai nội dung các văn bản mới của
VPbank Việt Nam.
Ngoài những hoạt động đầu tư trực tiếp cho nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trên, VPBank Đông Đô cũng thực hiện hàng loạt những công tác bổ trợ
khác nhằm kích thích và tăng hiệu quả hơn nữa cho công tác đầu tư vào nguồn
nhân lực này như:
Việc phân công, bố trí cán bộ một cách hợp lý giữa các phòng ban, các bộ
phận, vừa đảm bảo khối lượng công việc được giao, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán
bộ, bố trí cán bộ gắn chặt với công tác đào tạo, luân chuyển cán bộ.
Về công tác quản trị điều hành, bổ nhiệm các chức danh điều hành gồm các
Trưởng phòng, Phó phòng phù hợp với trình độ, nghiệp vụ, khả năng đáp ứng công
việc của từng người, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành thực hiện phân công,
phân nhiệm vụ rõ người rõ việc, đảm bảo sự đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ, xây
dựng được ý thức, phong cách làm việc mới đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, lao động có
Dưới đây là bảng thể hiện tình hình đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực của
chi nhánh Đông Đô qua các năm.
Bảng 1.18: Vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực của Đông Đô
giai đoạn 2007-2009
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm 2007 2008 06/2009
Tổng VĐT nâng cao NLCT 40,220 48,315 73,150
VĐT cho phát triển nhân lực 5,56 9,78 13,15
Tỉ trọng VĐT PT nhân lực/ Tổng VĐT nâng
cao NLCT(%)
13,82 20,24 17,98
NguyÔn ThÞ Hång Líp : Kinh tÕ ®Çu t 48B
25