CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
LỜI MỞ ĐẦU
Chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước nền kinh tế Việt nam đã có những tiến bộ
đáng kể sau hơn mười năm đổi mới.
Doanh nghiệp kinh doanh thương mại là những doanh nghiệp thực hiện
một hay nhiều hành vi thương mại sau: mua - bán - trao đổi hàng hóa, môi giới
xúc tiến thương mại. Nó có chức năng là tổ chức đưa hàng hóa từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu thụ. Đặc điểm kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp thương mại là
luân chuyển hàng hóa, bao gồm 3 khâu: thu mua, dự trữ, tiêu thụ. Như vậy tiêu
thụ giữ một vai trò quan trọng trong quá trình lưu thông hàng hóa của các
doanh nghiệp kinh doanh thương mại.
Hiện nay, nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia
dẫn đến cạnh tranh quyết liệt. Trong cơ chế này các doanh nghiệp luôn phải
đương đầu với những khó khăn trở ngại nhưng mặt khác cơ chế này cũng tạo ra
những cơ hội cho các doanh nghiệp năng động nhạy bén theo kịp với tốc độ
phát triển nhanh chóng đó, họ tìm tòi, mở rộng các loại hình tiêu thụ, mở rộng
các hình thức dịch vụ trong quá trình tiêu thụ.
Giống như các doanh nghiệp khác doanh nghiệp thương mại đặt mục đích
cuối cùng cho mình là lợi nhuận. Vì vậy mà ngoài việc phải tổ chức tốt việc
thu mua hàng hóa, dự trữ hàng hóa, đầy đủ phù hợp với nhu cầu thị trường, thì
doanh nghiệp còn phải đẩy nhanh tốc độc tiêu thụ hàng hóa để tăng nhanh tốc
độ chu chuyển vốn.
Để tổ chức tốt quá trình lưu chuyển và xác định kết quả kinh doanh cần
phải hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Vì
vậy công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả
kinh doanh nói riêng cần phải không ngừng hoàn thiện, củng cố để làm tròn
nhiệm vụ của mình là cung cấp những số liệu phục vụ công tác quản trị trên cơ
sở đó doanh nghiệp có những quyết định xử lý kịp thời tạo chỗ đứng vững chắc
trong thị trường hiện nay.
CHUYỂN HÀNG HÓA VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH
HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I. ĐẶC ĐIỂM LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG ĐƠN VỊ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm, đặc điểm chức năng của hoạt động kinh doanh thương mại:
Nền kinh tế nước ta là một tổng thể thống nhất bao gồm nhiều ngành
nghề và mỗi ngành thực hiện một chức năng nhất định. Trong đó thương mại
cũng là một ngành kinh tế quốc dân rất quan trọng.
Thương mại thực chất là quá trình trao đổi hàng hóa thông qua mua bán
trên thị trường. Theo nghĩa rộng thương mại là quá trình kinh doanh, là khâu
tất yếu của quá trình tái sản xuất và được coi là mạch máu của quá trình vận
động nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Thương mại ra đời xuất phát từ hai
nguyên nhân: Phân công lao động xã hội và lợi thế so sánh giữa các vùng, các
doanh nghiệp và các quốc gia. Do vậy, hoạt động thương mại bao gồm cả hoạt
động phân phối và lưu thông hàng hóa trên thị trường mua bán của từng quốc
gia riêng biệt hoặc các quốc gia với nhau.
Trong nền kinh tế quốc dân, thương mại không chỉ “Vừa là tiền tệ, vừa là
điều kiện, vừa là kết quả sản xuất” mà nó còn là khâu trung gian nối liền giữa
sản xuất và tiêu dùng. Hoạt động kinh doanh thương mại thực hiện chức năng
chủ yếu là mua, bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa cung cấp các dịch vụ nhằm
phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của mình, doanh nghiệp
thương mại phải tiến hành nhiều các hoạt động khác nhau như tạo nguồn, mua
hàng, nghiên cứu thị trường, quản lý dự trữ, bán hàng… Trong đó bán hàng là
khâu quan trọng và mấu chốt. Quá trình bán hàng hay tiêu thụ hàng hóa là thực
hiện giá trị và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, kết thúc quá trình này
người mua nhận được hàng, người bán nhận được tiền (hoặc được quyền đòi
tiền của người mua). Chỉ có bán được hàng, công ty mới thu hồi được vốn kinh
3
4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
+ Lợi nhuận của công ty là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí kinh
doanh, thuế, các khoản khác hoặc giữa thu nhập và chi phí lưu thông.
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên thì mỗi doanh nghiệp thương mại
cần lựa chọn, tổ chức công tác hạch toán kế toán theo phương pháp thích hợp,
lưạ chọn phương thức giao dịch tiêu thụ, thanh toán sao cho đem lại hiệu qủa
cùng lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và cho toàn xã hội.
2. Đặc điểm tính giá hàng hoá trong kinh doanh thương mại:
Hàng hoá nhập, xuất kho trong kinh doanh thương mại theo quy định
được tính theo giá thực tế. Giá thực tế của hàng hoá mua vào tuỳ thuộc vào
từng nguồn khác nhau cũng như tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế giá trị
gia tăng mà doanh nghiệp áp dụng. Đói với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia
tăng theo phương pháp khấu trừ, trong giá mua không bao gồm htuế giá trị gia
tăng đầu vào, còn đối với các doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp trực tiếp, tronggiá mua bao gồm cả thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Giá thực tế
hàng hoá
thu mua
trong nước
=
Giá mua
ghi trên
hoá đơn
+
Chi phí sơ
chế, hoàn
thiện
+
Giá mua hàng hoá
xuất gia công
X
Chi phí liên quan
đến việc gia công
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
Như vậy, giá thực tế hàng hoá bao gồm hai bộ phận: Trị giá mua (kể cả
thuế phải nộp) và chi phí thu mua. Khi xuất kho, để tính giá thực tế của hàng
hoá, kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá xuất kho giống
như vật liệu (giá đơn vị bình quân, giá nhập trước xuất trước, giá nhập sau xuất
sau, giá hạch toán…). Đói với chi phí thu mua, do liên quan đến cả lượng hàng
tiêu thụ trong kỳ và tồn kho cuối kỳ nên cần được phân bổ cho cả hàng tiêu thụ
và chưa tiêu thụ.
II. TỔ CHỨC LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG ĐƠN VỊ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI:
* Tổ chức quá trình mua hàng.
Mua hàng là giai doạn đầu tiên trong các hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp thương mại. Hàng hoá được coi là mua vào khi thông qua quá
trình mua bán và doanh nghiệp thương mại phải nắm được quyền sở hữu về
hàng hoá (đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ).
Mục đích mua hàng hoá là để bán (cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và
mua để xuất khẩu ra nước ngoài). Ngoài ra, hàng hoá trong các doanh nghiệp
thương mại còn có thể sử dụng để góp vốn liên doanh, để trả lương, thưởng, để
quảng cáo, chào hàng để đổi hàng hoá khác.
* Tài khoản sử dụng.
Tài khoản 156 – Hàng hoá: Tài khoản này dùng để phản ánh gía trị hiện
có và tình hình biến động của các loại hàng hoá trong doanh nghiệp, bao gồm
hàng hoá tại các kho hàng, quầy hàng.
TK 1561 – Giá mua hàng hoá.
TK 1562 – Chi phí thu mua hàng hoá.
Tài khoản 151 – Hàng mua đang đi trên đường: Tài khoản này dùng để
phản ánh trị giá của các loại hàng hoá, vật tư (nguyên liệu, vật liệu…) mua
ngoài đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng chưa về nhập kho của
doanh nghiệp còn đang trên đường vận chuyển ở bến cảng, bến bãi hoặc đã về
đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho.
Kết cấu nội dung:
Bên Nợ: + Giá trị hàng hoá vật tư đang đi trên đường.
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
+ Kết chuyển giá trị thực tế hàng hoá vật tư đang đi trên đường
cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho
theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Bên Có: + Giá trị hàng hoá, vật tư đang đi trên đường đã về nhập kho
hoặc đã chuyển thẳng cho khách hàng.
+ Kết chuyển giá trị thực tế của hàng hoá, vật tư đang đi trên
đường đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn
kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Số dư bên Nợ:
+ Giá trị hàng hóa vật tư đã mua nhưng còn đang đi trên đường.
Tài khoản 611 – Mua hàng: Tài khoản đùng để phản ánh giá trị nguyên
liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá mua vào trong kỳ (chỉ áp dụng đối
với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Kết cấu nội dung:
Bên Nợ: + Giá trị thực tế hàng hoá chưa tiêu thụ đầu kỳ và tăng thêm
trong kỳ do các nguyên nhân: Mua vào, nhận cấp phát…
Bên Có: + Chiết khấu, giảm giá hàng mua trả lại.
+ Trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ và còn lại chưa tiêu thụ
Có TK 331, 111, 112…: Các chi phí hoàn thiện.
+ Khi hoàn thiện hàng hoá nhập kho:
Nợ TK 156 (1561)
Có TK 154
- Các trường hợp hàng hoá thu mau thừa, thiếu, kém phẩm chất, hàng và
háo đơn không cùng về, hàng mua không nhập kho mà chuyển thẳng đi tiêu thụ
(Kể cả xuất khẩu): Hạch toán tương tự như các doanh nghiệp công nghiệp.
1.2 - Đối với DN áp dụng tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp.
- Khi mua hàng hoá nhập kho, căn cứ vào hoá đơn mua hàng ( hoặc bảng
kê thu mua hàng hoá ) và phiếu nhập kho, kế toán ghi:
Nợ TK156 (1561): Trị giá thanh toán của hàng hoá nhập kho.
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
Nợ TK 153 (1532): Trị giá bao bì tính riêng nhập kho (nếu có).
Có TK 331,311, 111, 112…: Số tiền phải rả, đã trả cho người bán
theo giá thanh toán.
+ Các khoản chi phí thu mua thực tế phát sinh:
Nợ TK 156 ( 1562): Tập hợp chi phí thu mua.
Có TK 331, 111, 112…
+ Các khoản giảm giá hàng mua, hàng mua bị trả lại:
Nợ TK 331, 111…: Tổng số giảm giá, hàng mua trả lại tính theo giá
thanh toán.
Có TK 156 (1561): Số gảim giá, trị giá mua của hàng trả lại ( Gồm
cả thuế VAT đầu vào).
2. Tổ chức hạch toán chi phí thu mua hàng hoá.
Khái niệm: Chi phí thu mua hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động vật hoá mà đơn vị bỏ ra có liên quan đến việc
thu mua hàng hoá.
Chi phí mua hàng hoá bao gồm: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền thuê
Như vậy, tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mại, tức là
thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu dùng. Ngày nay thì tiêu thụ còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn -
tiêu thụ là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu: từ việc nghiên cứu thị
trường, xác định nhu cầu của khách hàng, tổ chức mua hàng và xuất bán theo
nhu cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Tiêu thụ nói chung bao gồm:
+ Tiêu thụ ra ngoài đơn vị công ty: là việc bán hàng cho các đơn vị khác
hoặc các cá nhân trong và ngoài công ty.
+ Tiêu thụ nội bộ: là việc bán hàng cho các đơn vị trực thuộc trong cùng
công ty, tổng công ty… hạch toán toàn ngành
Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh, uy tín của công
ty trên thị trường. Sau tiêu thụ, công ty không những thu hồi được tổng chi phí
bỏ ra mà còn thực hiện được một phần giá trị thặng dư. Phần thặng dư này
chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước, mở rộng quy mô
kinh doanh, phát triển xã hội.
Tuy nhiên, mục tiêu của công ty không chỉ là tiêu thụ được nhiều hàng
hóa mà từ những hoạt động này phải đem lại lợi nhuận cho công ty. Đây mới
là điều mà các doanh nghiệp thương mại thực sự quan tâm, kết quả của hoạt
động tiêu thụ có vị trí quyết định tới sự tồn tại, phát triển hay suy thoái của
công ty.
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
3.2 - Các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ và kết quả tiêu thụ .
- Doanh thu bán hàng: là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng
hóa, sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng. Tổng doanh thu bán
hàng là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ dịch
vụ. Thời điểm ghi nhận doanh thu sẽ tùy thuộc vào phương thức bán hàng
nhưng đều được xác định là khi có bằng chứng xác nhận doanh nghiệp có hàng
- Kết quả hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp: là số chênh lệch giữa
doanh thu thuần với giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp.
4. Các phương pháp xác định giá vốn của hàng tiêu thụ.
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp thương mại, để xác định
giá vốn đơn vị của hàng xuất bán, kế toán có thể áp dụng một trong các phương
pháp trình bầy dưới đây. Tuy nhiên trong một doanh nghiệp thương mại, việc
lựa chọn và sử dụng phương pháp tính giá vốn đơn vị hàng hóa phải nhất quán
không được thay đổi trong suốt thời kỳ hạch toán:
4.1 - Phương pháp tính giá theo đơn vị bình quân:
Theo phương pháp này, giá vốn của hàng hóa xuất kho được tính theo
các chỉ tiêu sau:
- Tính theo giá bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân gia quyền) khi xuất
kho, trị giá hàng hóa chưa được ghi sổ ngay. Cuối kỳ, căn cứ vào số tồn đầu
kỳ để tính giá hàng hóa xuất trong kỳ:
Giá đơn vị
thực tế hàng
hóa bình quân
=
Trị giá thực bình quân tồn
kho đầu kỳ
+
Trị giá mua thực tế
hàng hóa nhập trong kỳ
Số lượng hàng hóa tồn đầu
kỳ
+
Số lượng hàng hóa nhập
trong kỳ
Trị giá thực tế hàng hóa
Nếu có sự biến động lớn về giá cả giữa hai kỳ thì kết quả tính toán giá hàng
hóa là không chính xác.
- Tính giá theo đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: theo phương pháp
này, sau mỗi lần nhập kho giá thực tế hàng hóa được tính lại. Trị giá hàng xuất
kho tiêu thụ được tính trên cơ sở giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập theo
thời điểm tương ứng.
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
=
Giá thực tế hàng hóa tồn kho mỗi lần nhập
Lượng thực tế hàng hóa tồn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên,
vừa chính xác, vừa cập nhật. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp có số lần
nhập nhiều lần trong kỳ thì phương pháp này có nhược điểm là khối lượng tính
toán lớn, tốn nhiều công sức.
4.2 - Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số hàng hóa nào được nhập trước
thì xuất trước, xuất hết số hàng nhập vào trước rồi mới đến số hàng nhập sau
14
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
và theo giá thực tế của số hàng xuất. Nói cách khác cơ sở của phương pháp này
là giá thực tế của hàng hóa mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế
cho hàng xuất trước và do vậy giá hàng hóa tồn cuối kỳ là giá của hàng hóa
mua vào sau cùng. Phương pháp này đảm bảo việc tính trị giá vốn hàng mua
của hàng ra, kịp thời, chính xác, sát với thực tế vận động của hàng hóa và giá
cả, công việc của kế toán không bị dồn vào cuối tháng. Song phương pháp này
đòi hỏi tổ chức rất chặt chẽ, hạch toán chi tiết hàng hóa tồn kho, cả số lượng,
giá trị theo từng mặt hàng và từng lần mua hàng. Phương pháp này thích hợp
trong trường hợp giá cả ổn định có xu hướng giảm.
hàng tồn đầu
kỳ
thực tế của
hàng nhập
trong kỳ
thực tế của
hàng tồn cuối
kỳ
Phương pháp này tính toán đơn giản, nhanh chóng nhưng độ chính xác
không cao vì nó không phản ánh được sự biến động của giá cả và không tính
đến trường hợp thiếu hụt, tổn thất và trường hợp trong kho còn hàng hóa nhưng
trên tài khoản tổng hợp hết giá trị và ngược lại… Do đó phương pháp này chỉ
được vận dụng trong điều kiện không tổ chức được kế toán chi tiết từng mặt
hàng.
4.6 - Phương pháp tính giá hạch toán:
Theo phương pháp này, toàn bộ hàng hóa biến động được tính theo giá
hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Giá hạch toán là
do doanh nghiệp tự quy định, có tính chất ổn định và nó chỉ dùng để ghi sổ
hàng ngày chứ không có ý nghĩa trong việc thanh toán hay tính giá. Giá hạch
toán phải được quy định thống nhất trong kỳ hạch toán.
Trị giá hạch toán của
hàng xuất kho
=
Số lượng hàng
hóa xuất kho
X Đơn giá hạch toán
Đến cuối kỳ hạch toán, kế toán mới tính toán để xác định giá thực tế của
hàng xuất ra trong kỳ. Việc hạch toán được thực hiện như sau:
Trước tiên phải xác định hệ số giữa giá mua và giá hạch toán của hàng
luân chuyển trong kỳ
số sản phẩm, hàng hóa, lao vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong
cùng một công ty, tổng công ty.
Kết cấu và nội dung của tài khoản 512 tương tự như tài khoản 511 cuối
kỳ không có số dư.
* Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại: Tài khoản này dùng để phản ánh
trị giá của số sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả
lại do vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế: hàng bị mất, kém phẩm
chất, không đúng quy cách chủng loại.
* Tài khoản 532 - Giảm giá hàng bán: Tài khoản này được sử dụng để
theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên giá bán đã
thoả thuận vì lý do chủ quan của doanh nghiệp.
17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
5.2 - Thủ tục chứng từ ban đầu của hạch toán quá trình tiêu thụ.
Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh vào các chứng từ
kinh tế. Các hoạt động nhập, xuất, tiêu thụ sản phẩm đều được lập chứng từ
đầy đủ. Chứng từ ban đầu của hạch toán quá trình tiêu thụ:
- Phiếu nhập kho hàng hoá.
- Hoá đơn kiêm phiếu vận chuyển nội bộ.
- Hoá đơn giá trị gia tăng.
- Phiếu xuất kho.
- Thẻ kho.
III. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ.
A. Tổ chức hạch toán giá vốn hàng bán.
* Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán: Tài khoản này được sử dụng để
phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịh vụ xuất bán trong
kỳ.
Kết cấu nội dung:
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán.
2. Theo ph ương pháp kiểm kê định kỳ:
- Cuối kỳ, xác định và kết chuyển trị giá hàng hoá đã xuất bán được xác định là
tiêu thụ ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn bán hàng.
Có TK 611 – Mua hàng.
- Cuối kỳ kết chuyển giá vốn hàng bán đã tiêu thụ để xác định kết quả kinh
doanh, kế toán ghi:
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh.
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán.
B. Tổ chức hạch toán chi phí bán hàng.
1. Khái niệm: Chi phí bán hàng là những khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ
ra có liên quan đến hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong kỳ như: chi phí nhân viên
bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo,…
2. Tài khoản sử dụng - Sơ đồ hạch toán.
* T ài khoản hạch toán.
Tài khoản 641 - Chi phí bán hàng.
19
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
Kết cấu nội dung.
Bên Nợ: + Tập hợp chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: + Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng.
+ Kết chuyển chi phí bán hàng.
Tài khoản 641 không có số dư và được chi tiết theo các tiểu khoản:
TK 6411 - Chi phí nhân viên.
TK 6412 - Chi phí vật liệu, bao bì.
TK 6413 - Chi phí dụng cụ đồ dùng.
TK 6414 - Chi phí khấu hao Tài sản cố định.
TK 6417 - Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Nợ TK 641 (6418).
Có TK 111, 112,…
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng.
Nợ TK 142 (1422).
Nợ TK 911.
Có TK 641 (chi tiết tiểu khoản).
* Ph ương pháp kết chuyển chi phí bán hàng:
SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG
TK 334, 338 TK 641 TK
111,152,138…
Chi phí tiền lương và
Trích theo lương Giá trị ghi giảm
chi phí bán hàng
TK 152, 153 TK 911
Trị giá VL, DC dùng cho tiêu thụ K/c Phần phù hợp DT
chi phí để XĐ kết quả KD
T K 214 TK 1422
Chi phí khấu hao TSCĐ ở K/c khi
21
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
Bộ phận bán hàng phù hợp DT
TK 335,1421
Chi phí tính theo dự toán tính
Vào chi phí bán hàng
TK 111,112,331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 133
Thuế GTGT được khấu trừ
TK 334, 338 TK 641 TK
111,152,138…
Chi phí tiền lương và
Trích theo lương cho NVBH Giá trị ghi giảm chi phí QLDN
TK 152, 153 TK 911
Trị giá VL, DC dùng cho tiêu thụ K/c Phần phù hợp DT
chi phí để XĐ kết quả KD
T K 214 TK 1422
Chi phí khấu hao TSCĐ ở K/c khi
Bộ phận bán hàng phù hợp DT
23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ THU HIỀN KT7-K34
TK 335,1421
Chi phí tính theo dự toán tính
Vào chi phí bán hàng
TK 111,112,331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi bằng tiền khác
TK 333
Thuế phải nộp
D. Tổ chức hạch toán doanh thu bán hàng.
* Khái niêm: Doanh thu bán hàng là số tiền thu được do bán hàng bao
gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Công thức:
Doanh
thu
thuần
mua hàng (sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ) trước thời hạn thanh toán đã
thoả thuận (ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết thanh toán việc
mua hàng) hay vì một lý do ưu đãi nào khác.
Chiết khấu bán hàng được theo dõi chi tiết cho từng khách hàng và
từng loại hàng bán.
* Tài khoản sử dụng.
Tài khoản 521 - Chiết khấu bán hàng.
Kết cấu và nội dung của tài khảon 531 như sau:
Bên Nợ: + Số tiền chiết khấu đã chấp nhận cho khách hàng.
Bên Có: + Kết chuyển số tiền chiết khấu bán hàng sang tài khoản
doanh thu.
Tài khoản 521 cuối kỳ không có số dư.
Tài khoản 521 được chi tiết thành các tiểu khoản:
TK 5211 - Chiết khấu bán hàng.
TK 5212 - Chiết khấu thành phẩm.
TK 5213 - Chiết khấu dịch vụ.
* Phương pháp hạch toán.
- Trong kỳ khi chấp nhận chiết khấu cho khách hàng:
Nợ TK 521 (Tổng số tiền chiết khấu).
Có TK 111,112 (Nếu trả bằng tiền).
Có TK 131 (Nếu trừ vào nợ phảI thu của khách hàng).
- Cuối kỳ kết chuyển chiết khấu bán hàng sang tài khoản doanh thu:
Nợ TK 511.
Có TK 521.
2. Hạch toán hàng bán bị trả lại.
* KháI niệm:
Hàng bán bị trả lại là số hàng bán đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại
do vi phạm cam kết trong hợp đồng như: hàng kém phẩm chất, không đúng
quy cách.