Lời nói đầu
Ngày nay chất lợng có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Nó là một
nhân tố quyết định tới sự thành bại của bất cứ doanh nghiệp nào, quốc gia nào khi tham gia vào
phân công lao động quốc tế.
Để có thể phát triển kinh tế và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới đối với nớc ta, là một quốc
gia có nền kinh tế chậm phát triển chất lợng sản phẩm cha cao và không ổn định thì việc đảm
bảo và nâng cao chất lợng là một yêu cầu hết sức cần thiết.
Muốn đảm bảo và nâng cao chất lợng, đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn và phơng pháp
quản lý khoa học. Thực tế xét về bề mặt khách quan mà nói thì chất lợng sản phẩm hàng hoá nói
chung là nh thế. Nhng khi đã đi sâu vào tìm hiểu vấn đề chất lợng hàng hoá nông sản thực phẩm
thì mới thấy đợc nhiều vấn đề đặt ra trong công tác quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong
lĩnh vực này.
Để hình thành lên một cơ cấu quản lý cũng nh sự điều tiết của nhà nớc trong lĩnh vực này
thực sự là cả một quá trình hình thành và phát triển của luật pháp quốc gia. Để tìm hiểu về thực
trạng công tác quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực phẩm ra
sao? Cũng nh có thể đề xuất một số biện pháp góp phần thúc đẩy công tác quản lý chất lợng
trong lĩnh vực này em đã lựa chọn đề tài:
"Tăng cờng quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực
phẩm".
Bài viết của em gồm 3 phần:
Phần I
. Lý luận chung về quản lý nhà nớc trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá chất lợng nông
sản thực phẩm.
Phần II.
Thực trạng công tác quản lý nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản -
Thực phẩm
Phần III
. Những kiến nghị đề xuất về tăng cờng quản lý nhà nớc trong lĩnh vực tiêu chuẩn
hoá chất lợng Nông sản - Thực phẩm
Trớc khi đi vào từng nội dung cụ thể em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn chỉ bảo của
thầy giáo: Nguyễn Đình Phan, sự giúp đỡ của các cô, các bác ở trung tâm tiêu chuẩn chất lợng
trọng đối với ngời sản xuất và tiêu dùng. Mà đặc biệt đối với Việt Nam là nớc có nền nông
nghiệp phát triển, đang dần chuyển mình sang nền kinh tế thị trờng vì vậy rất cần có sự quan
tâm của nhà nớc tới lĩnh vực này. Trớc hết là để bảo vệ ngời tiêu dùng sau đó cũng có thể coi
công tác tiêu chuẩn hoá dới sự quản lý của nhà nớc là một biện pháp khuyến khích các doanh
nghiệp nâng cao chất lợng sản phẩm hàng hoá nông sản - thực phẩm tăng khả năng cạnh tranh
không những chỉ có thị trờng trong nớc mà cả trên thị trờng quốc tế.
* Các khái niệm cơ bản:
Để hiểu đợc các vấn đề có liên quan đến nông sản - thực phẩm chúng ta phải xem xét các
khái niệm chung của nông sản - thực phẩm. Không phải dễ dàng có thể tách biệt đợc 2 khái
niệm này bởi lẽ giữa nông sản và thực phẩm có quan hệ mật thiết với nhau.
- Nông sản là kết quả của quá trình lao động nông nghiệp, sản phẩm đợc sản xuất ra chủ
2
yếu nhằm mục đích phục vụ cho quá trình chế biến thực phẩm.
- Thực phẩm là kết quả của hàng loạt các thao tác quy trình chế biến từ nông sản mà có đợc.
Mục đích cuối cùng là đáp ứng nhu cầu ăn uống sinh sống của con ngời. Hơn nữa muốn xem
xét nghiên cứu quá trình thực hiện công tác quản lý của nhà nớc ra sao chúng ta cần phải thấy đ
ợc vai trò của nông sản - thực phẩm đối với nền kinh tế và đối với con ngời.
Từ đó sẽ xem xét công tác quản lý của nhà nớc trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá nông sản -
thực phẩm.
2. Vai trò và ý nghĩa của nông sản - thực phẩm
a) Vai trò.
Lơng thực - thực phẩm là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con ngời. Nó đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của nền kinh tế cũng nh mọi mặt của hoạt động văn hoá - xã hội. Chính vì vậy
Đảng và Nhà nớc ta rất chú trọng tới sự phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đồng thời
cũng rất quan tâm tới việc phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm tạo nên nhiều
thực phẩm hàng hoá đảm bảo an ninh lơng thực và tạo nên những sản phẩm thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu làm cơ sở vững chắc cho nền kinh tế quốc dân tiến lên công
nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển sản xuất để tăng cờng số lợng chúng ta cũng đặc biệt
Tóm lại qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ cho chúng ta thấy đợc ý nghĩa của hàng hoá
nông sản thực phẩm rất lớn trong nền kinh tế đất nớc. Mà đặc biệt hơn nữa là phục vụ cho cuộc
sống của con ngời ngày một nâng cao đáp ứng tốt hơn công tác quản lý của nhà nớc trong lĩnh
vực này tạo đà phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội.
Vì thế ngời ta ít quan tâm tới việc tiêu chuẩn hoá thực phẩm nh là một yếu tố quan trọng
nhằm tạo nên nông sản hàng hoá và việc giáo dục tiêu chuẩn hoá trong xã hội cũng không cần đ
ợc đặt ra.
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu chúng ta từng bớc tiến lên công nghiệp hoá. Nông nghiệp
chuyển dần từ ngành sản xuất nông sản tự cấp, tự túc sang nông sản thực phẩm hàng hoá. Đây
là một bớc tiến quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp của nớc ta.
Hiện nay nông sản - thực phẩm làm ra không chỉ lu thông trên thị trờng của một địa phơng
mà đã mở rộng ra nhiều nơi khác xa hơn.
Nhiều nông sản thực phẩm đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng của đất nớc nh:
chè, cà phê, hạt điều, hạt tiêu rau quả, thuỷ sản, đặc biệt là gạo. Từ một nớc luôn luôn thiếu lơng
thực chúng ta đã trở thành một quốc gia xuất khẩu gạo điều đó đã tạo nên một khuôn mặt Việt
Nam mới trên thị trờng ngũ cốc thế giới.
Qua tìm hiểu các đặc trng của hàng hoá nông sản - thực phẩm chúng ta thấy đợc vai trò của
nó đối với đời sống kinh tế - xã hội hết sức to lớn. Không những nó chiếm tỷ trọng tơng đối lớn
trong nền kinh tế của đất nớc mà còn là một thứ "nguyên liệu" sống cho ngời dân. Hơn nữa
trong thời đại ngày nay bất kỳ một sản phẩm nào muốn trở thành hàng hoá có chất lợng, có thị
trờng ổn định và có hiệu quả kinh tế cao đều phải quan tâm tới tiêu chuẩn hoá. Khi công tác
quản lý của nhà nớc đã đẩy nhanh việc nâng cao chất lợng hàng hoá nông sản thực phẩm cũng
có nghĩa là tiến thêm một bớc trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3. Sản xuất, tiêu dùng của thế giới - Việt Nam
Trong môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các nớc đang có những nỗ lực
nhằm tìm kiếm giải pháp để tăng cờng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Xuất khẩu là mục tiêu h
ớng tới của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng đang cố gắng mở rộng thị trờng xuất
khẩu của mình thông qua việc đề ra và thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu thơng
4
mại của nớc nhập khẩu.
đã hạn chế khả năng mở rộng thị trờng của các doanh nghiệp hoặc do hệ thống sản xuất của họ
không đủ linh hoạt để đáp ứng với tất cả các loại yêu cầu đặc thù của các nớc bạn hàng, hoặc do
họ không có khả năng đầu t để đáp ứng các tiêu chuẩn đợc đặt ra. Nhiều nớc quy định tiêu
chuẩn chất lợng và môi trờng hết sức cao nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh và sức khoẻ cho ngời
tiêu dùng. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm của mình sang các
nớc đó gặp rất nhiều khó khăn. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, một khi hầu hết cơ sở hạ
5
tầng và các trang thiết bị còn lạc hậu thì vấn đề môi trờng vẫn sẽ còn là một thách thức lớn cho
việc mở rộng thị trờng và tăng cờng xuất khẩu. Các doanh nghiệp cho rằng, việc hài hoà tiêu
chuẩn với tiêu chuẩn của các nớc nhập khẩu là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho thơng mại phát triển.
c) Tác động của tiêu chuẩn chất lợng và môi trờng đến hàng nông sản xuất khẩu:
* Các vấn đề về thủ tục đánh giá phù hợp tiêu chuẩn các nớc nhập khẩu.
Đối với các
doanh nghiệp Việt Nam, đa số các Tổng công ty nhà nớc xuất khẩu nông sản đều có bộ phận
kiểm tra và quản lý chất lợng riêng.
Một số bạn hàng nhập khẩu (với những lô hàng cụ thể) công nhận các bộ phận kiểm tra
chất lợng này và cho phép họ giám định và chứng nhận chất lợng hàng hoá xuất khẩu. Tỏng tr-
ờng hợp khác doanh nghiệp xuất khẩu phải xin giấy chứng nhận bảo đảm chất lợng tại một cơ
quan đợc chỉ định, ví dụ nh Vina Control hoặc một cơ quan giám định hàng hoá nớc ngoài.
Một số nớc nhập khẩu lại yêu cầu hàng hoá nhập khẩu vào nớc họ phải có giấy chứng nhận
chất lợng của một cơ quan đợc chỉ định tại nớc họ. Thủ tục này thờng mất rất nhiều thời gian và
tốn kém. Cũng có trờng hợp nớc nhập khẩu cho phép một cơ quan giám định của nớc xuất khẩu
cấp giấy chứng nhận chất lợng nhng thủ tục giám định phải tuân thủ nghiêm ngặt các hớng dẫn
và chỉ thị của họ. Các thủ tục này thờng rất tốn kém và dẫn đến sự chậm chễ trong việc giao
hàng.
* Các vấn đề về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh kiểm dịch.
Yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh kiểm dịch thờng đợc quy định trong hợp đồng
giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu, tuỳ theo từng trờng hợp cụ thể mà các quy định có thể
khác nhau. Trong đa số các trờng hợp nông sản xuất khẩu khác phải tuân thủ các yêu cầu chất l
ợng môi trờng và SPS của mình.
Trong nhiều trờng hợp Việt Nam không đợc nằm trong danh sách u đãi và vì vậy mà một
số sản phẩm của Việt Nam không đợc nhập khẩu trong khi sản phẩm tơng tự của một số nớc
khác vẫn đợc phép nhập khẩu.
d) Tình hình thơng mại trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá nông sản - thực phẩm:
Thơng mại Việt Nam
26-6-1999 - Trang 4.
- 5 tháng đầu năm 1999 cả nớc đã xuất khẩu 1,94 triệu tấn gạo trị giá 457 triệu USD.
- Tính đến hết tháng 10 năm 1999 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc đạt 769 triệu USD.
Trong đó xuất khẩu sang thị trờng châu
á
chiếm 70%, châu Âu 10%, châu Mỹ 15%.
7
Xuất khẩu T11 và 11 tháng năm 1999
Đơn vị tính: Nghìn tấn và triệu USD
Chính thức
T10/1999
Ước tính
T11/1999
Cộng dồn 11
tháng 1999
11 tháng 1999 so
cùng kỳ năm trớc
(%)
Mặt hàng chủ
yếu
Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị
Lạc nhân 4,5 2,4 4 2,5 54 32 65,6 81,0
Cao su 29 14 35 17 215 117 126,9 102,1
Cà phê 39 38,9 55 56 383 481 114,6 92,1
- Sản lợng lơng thực hàng hoá đạt 70 - 75 triệu tấn, chiếm 47,5% tổng sản lợng (bình quân
mỗi năm đạt 14 triệu tấn).
- Sản lợng lơng thực hàng hoá đa vào tiêu dùng sẽ đạt khoảng 25-30 triệu tấn, chiếm 14%
tổng sản lợng.
- Lợng gạo để xuất khẩu dự kiến đạt 14-16 triệu tấn (khoảng 28-33 triệu tấn thóc) bình
quân xuất khẩu 3,5 - 4,2 triệu tấn gạo mỗi năm.
* Dự báo về các mặt hàng xuất khẩu chính năm 2001.
- Cà phê:
+ Tổng sản lợng 91 triệu bao (mỗi bao 60 kg) tăng 1,6% so với vụ trớc.
+ Tổng nhu cầu 76,9 triệu bao.
+ Dự trữ 69 triệu bao.
+ Các thị trờng tiêu thụ chính: Canada, Mỹ, các nớc Đông Âu, Mỹ Latinh, Bắc Phi, Viễn
Đông, Nga.
- Thuỷ sản: Thị trờng thuỷ sản sẽ sôi động hơn vì 2 bạn hàng đứng đầu nhập khẩu thuỷ sản
của Việt Nam là Nhật Bản và Hàn Quốc đang trên đà tăng trởng kinh tế nên nhu cầu nhập thuỷ
sản có thể tăng. Bên cạnh đó Mỹ là thị trờng nhiều triển vọng. Có thể năm tới giá tôm sẽ tăng.
- Đờng:
+ Tổng sản lợng: 131 triệu tấn giảm 5 triệu tấn so với năm 2000.
+ Tổng nhu cầu: 137-140 triệu tấn.
+ Dự báo giá đờng sẽ phục hồi trong năm tới.
9
Xuất khẩu gạo cà phê cao su 1996-2000
1996 1997 1998 1999 2000
SL G.trị SL G.trị SL G.trị SL G.trị SL G.trị
Gạo (triệu tấn) 3,0 855 3,5 870 3,7 1024 4,5 1025 3,5 668
Cà phê (1000 tấn) 239 337 389 491 382 584 482 585 694 485
Cao su (1000 tấn) 111 150 195 191 191 128 265 147 280 170
4. Sự cần thiết phải có công tác quản lý của nhà nớc
Nh chúng ta đã biết thực phẩm là kết quả của các quy trình chế biến nông sản mà có đợc.
Vì vậy muốn thấy đợc sự cần thiết phải có công tác quản lý của nhà nớc thì phải đi sâu tìm hiểu
Trên đây là một số ví dụ chung và tình hình quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm ở
nớc ta. Qua đó mới thấy rằng cần phải có một công tác quản lý mới của nhà nớc một cách toàn
diện và chặt chẽ.
11
Phần II:
Thực trạng công tác quản lý nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong
lĩnh vực nông sản - thực phẩm
II.1. Tình hình quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm ở nớc ta trong
những năm qua.
Nông sản là một loại hàng hoá dùng làm nguyên liệu chủ yếu để chế biến ra thực phẩm.
Vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam đang trở thành mối quan tâm to lớn của toàn thể nhân
dân. Báo chí liên tục đăng tải các vụ ngộ độc thực phẩm làm chết nhiều ngời gây xôn xao d
luận. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm còn phải đơng đầu với nhiều thách thức. Chúng ta
không thể yên lòng khi tình hình ngộ độc thực phẩm cấp tính xảy ra thờng xuyên đặc biệt có
những vụ hàng trăm ngời mắc phải đi cấp cứu bệnh viện cùng một lúc... chúng ta cha có giải
pháp khắc phục một cách toàn diện. Cùng với trình độ nhận thức ngời dân còn có hạn, trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nớc của chính quyền các cấp cha cao, sự thiếu trách nhiệm
của các cơ sở sản xuất thực phẩm đối với sức khoẻ ngời tiêu dùng, thực phẩm không đảm bảo
chất lợng, vệ sinh an toàn thực phẩm đã trở thành nỗi lo lắng thờng xuyên của ngời dân.
Cụ thể:
Đối với nhiều nạn nhân các bệnh do thực phẩm chỉ biểu hiện ở mức hơi khó chịu hay phải
nghỉ việc đối với một số khác đặc biệt là các trờng mẫu giáo, vờn trẻ,... thì ngộ độc thực phẩm
càng nặng nề và nguy hiểm cho tính mạng. Đặc biệt d luận càng lo lắng khi ngộ độc thuốc trừ
sâu do ăn rau quả tơi ngày càng nhiều, hàm lợng thuốc trừ sâu trong thực phẩm vợt quá mức cho
phép nhiều lần. Nhiều loại hoá chất bị cấm sử dụng ở nớc ngoài đang tìm cách tràn vào Việt
Nam.
Năm 1999 với con số thống kê cha đầy đủ về ngộ độc thực phẩm ở 44 tỉnh, thành phố đã
xảy ra 224 vụ ngộ độc thực phẩm với 5489 ngời mắc trong đó có 59 trờng hợp tử vong xảy ra
tại các bữa ăn gia đình, bếp ăn tập thể, cơ quan, xí nghiệp,... Nguyên nhân 50,8% số vụ do thực
phẩm bị ô nhiễm vi sinh vật; 8,3% số vụ do thực phẩm có d lợng thuốc bảo vệ thực vật quá giới
thực hiện đợc những xét nghiệm cơ bản thì ít nhất mỗi cơ sở tuyến tính phải đợc cấp khoảng 2
tỷ đồng để mua sắm thiết bị. Đấy là còn cha kể đến kinh phí cho huấn luyện và đào tạo cán bộ.
II.2. Công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản - thực phẩm của Việt
Nam
1. Lịch sử
Nớc ta là thành viên của ISO từ 1977. Từ đó đến nay công tác tiêu chuẩn hoá quốc tế nói
chung và công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản thực phẩm không ngừng đợc đẩy
mạnh bởi lẽ đây là con đờng hiệu quả nhất giúp chúng ta từng bớc nâng cao chất lợng hàng hoá
nông sản và xuất khẩu. Hàng loạt tiêu chuẩn ISO đã đợc sử dụng để xây dựng tiêu chuẩn Việt
Nam - TCVN nh các tiêu chuẩn trong lĩnh vực chè và cà phê...
Do đặc tính quan trọng của hàng hoá nông sản mà tổ chức lơng thực thế giới FAO và tổ
chức y tế thế giới WHO đã phối hợp hành động trong chơng trình phối hợp hỗn hợp FAO/WHO
về công tác tiêu chuẩn hoá. Hai tổ chức này đã thành lập ra uỷ ban tiêu chuẩn hoá quốc tế thực
phẩm về CAC vào năm m1962 nhằm bảo vệ sức khoẻ cho ngời tiêu dùng và an toàn, tin tởng
trong lu thông thực phẩm.
Nhận thức đợc điều này Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lờng chất lợng đã phối hợp với các Bộ,
ngành có liên quan nghiên cứu và kiến nghị tham gia CAC. Tháng 8 năm 1989 Hội đồng Bộ tr
ởng đã nhất trí cử Tổng cục - Tiêu chuẩn - Đo lờng - Chất lợng đại diện cho Việt Nam tham gia
13
hoạt động của CAC.
Đến 1994 Bộ Khoa học công nghệ và môi trờng mới thành lập Uỷ ban tiêu chuẩn hoá thực
phẩm Việt Nam (Quyết định số 570/QĐ-TC ngày 11 tháng 8 năm 1994) gọi tắt là Uỷ ban
Codex Việt Nam với 21 thành viên bao gồm lãnh đạo các nhà quản lý nghiên cứu của các Bộ
Khoa học công nghệ môi trờng, Thơng mại, Kế hoạch đầu t, Y tế, Thuỷ sản, Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Công nghiệp, Ngoại giao... và một số doanh nghiệp do ông Nguyễn Thiện
Luân - Thứ trởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm chủ tịch và ông Nguyễn Văn Th
ởng - Thứ trởng Bộ Y tế làm phó chủ tịch.
2. Hoạt động chính của Uỷ ban Codex Việt Nam
2.1. Thành lập các đầu mối quan hệ giữa các Bộ và Uỷ ban Codex
Để tăng cờng vai trò t vấn của mình đồng thời để đảm bảo sự phối hợp giữa các Bộ với
ợng thực phẩm cần tiêu chuẩn hoá, cần soát xét, các tiêu chuẩn cần soát xét, các tiêu chuẩn cần
thay thế, huỷ bỏ nhằm đảm bảo cho các tiêu chuẩn đó luôn hoà nhập đợc với các nớc nhất là các
nớc trong khu vực đồng thời đáp ứng đợc yêu cầu của sản xuất và kinh doanh đảm bảo quyền
lợi của ngời tiêu dùng.
Trong nhiệm kỳ I các Ban kỹ thuật đã xây dựng đợc gần 70 TCVN góp ý đợc trên 40 tiêu
chuẩn quốc tế. Một số Ban kỹ thuật đã họp để góp ý về nội dung cho các đoàn đại biểu Việt
Nam đi dự các hội nghị Codex quốc tế liên quan: Ban kỹ thuật sữa, Ban kỹ thuật đồ uống...
Có thể kể ra đây một số ban:
Ban kỹ thuật ngũ cốc và các hạt họ đậu TCVN/TC F1
Ban kỹ thuật dầu mỡ động thực vật TCVN/TC F2
Ban kỹ thuật rau quả tơi TCVN/TC F10
Ban kỹ thuật sữa và sản phẩm sữa TCVN/TC F12
Ban kỹ thuật cà phê và sản phẩm cà phê TCVN/TC F16
Tuy nhiên ở đây cũng có thể nêu lên một số khó khăn và tồn tại trong hoạt động của các
Ban kỹ thuật.
- Một số Ban kỹ thuật chỉ bó hẹp hoạt động trong phạm vi xây dựng tiêu chuẩn vì vậy khi
không có đề tài tiêu chuẩn thì không có nội dung hoạt động. Do đó cha phát huy đợc vai trò t
vấn của mình trong lĩnh vực quản lý và sản xuất kinh doanh thực phẩm.
- Các Ban kỹ thuật cha gắn hoạt động của mình với hoạt động quản lý của một số ngành có
liên quan, nhất là trong vấn đề soạn thảo các văn bản pháp quy về thực phẩm, do đó việc đóng
góp ý kiến bị hạn chế và khó khăn cho việc áp dụng khi đợc ban hành.
- Do khó khăn về kinh phí đi lại nên một số đại biểu phía Nam ít tham gia sinh hoạt ở các
Ban kỹ thuật vì hầu hết đầu mối và các cuộc họp các Ban kỹ thuật đều ở phía Bắc.
- Tuy chúng ta đã làm việc với các ngành để cử các đoàn đi dự các hội nghị Codex quốc tế
nhng do điều kiện kinh phí nên nhiều khi thành phần đoàn thiếu vắng thành viên các Ban kỹ
thuật cũng nh thiếu các đại biểu doanh nghiệp có liên quan, do đó những ý kiến đóng góp của
Việt Nam tại các hội nghị này đôi khi bị hạn chế.
- Cũng do điều kiện thiếu kinh phí nên nhiều Ban kỹ thuật không tổ chức họp đợc thờng
kỳ. Trong hoạt động còn lúng túng vì nội dung hoạt động của các Ban kỹ thuật Việt Nam
không phải lúc nào cũng hoàn toàn tơng ứng với các Ban kỹ thuật codex quốc tế đó là do nhu
Hàng năm Ban th ký của Uỷ ban codex quốc tế đều gửi trớc lịch họp của các Ban kỹ thuật
cho các nớc thành viên cử ngời đi dự. Chúng ta đã cố gắng rất nhiều trong việc ngày càng cử
nhiều đoàn đại biểu đi dự hội nghị các Ban kỹ thuật codex. Do điều kiện kinh phí nên chúng ta
không thể có đại biểu đi dự tất cả các cuộc họp trên mà mỗi năm chúng ta cố gắng tham dự 4-5
hội nghị u tiên cho những vấn đề mà chúng ta đang quan tâm nh: kiểm tra thực phẩm xuất nhập
khẩu, phụ gia thực phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm... Đồng thời lãnh đạo Uỷ ban codex cũng
đã cố gắng đi dự các hội nghị toàn thể các thành viên, hội nghị khu vực... đợc tổ chức 2 năm 1
lần, các đoàn đi họp về đã có báo cáo kết quả bằng văn bản để văn phòng codex kịp thời thông
báo cho các nơi có liên quan biết.
Có đợc kết quả trên là do Uỷ ban Codex Việt Nam đã tích cực vận động các ngành có liên
quan, giải quyết kinh phí đi họp cũng nh đề nghị một số doanh nghiệp tài trợ.
Đồng thời do những cố gắng trên mà Uỷ ban Codex Việt Nam ngày càng nâng cao uy tín
và vai trò của mình đối với các Ban kỹ thuật
2.4.2. Tham dự các lớp đào tạo, đi khảo sát và dự các hội thảo quốc tế:
Đợc sự quan tâm của Tổng cục - Tiêu chuẩn - Đo lờng - chất lợng của FAO và sự tài trợ của
một số doanh nghiệp, bên cạnh việc tham dự các hội nghị của Ban kỹ thuật codex quốc tế, Uỷ
ban Codex Việt Nam cũng cử chuyên gia tham dự các khoá đào tạo do FAO tổ chức tại Thái Lan
về hoạt động của các Uỷ ban Codex quốc gia chiến lợc thực phẩm của các nớc trong khu vực về
an toàn thực phẩm, tham gia đoàn khảo sát về luật thực phẩm tại
ú
c và New Zealand, tổ chức 2
đoàn đi khảo sát lại Malaysia và Singapore về dầu ăn...
2.4.3. Tham gia dự án xây dựng Luật thực phẩm Việt Nam do cơ quan quản lý thực phẩm
ú
c và New Zealand (ANZFA) tài trợ:
17
Ngay từ đầu 1996 khi đoàn đại diện ANZFA sang công tác và khảo sát tại Việt Nam đoàn
đã có buổi làm việc với Chủ tịch Uỷ ban Codex Việt Nam, phía Việt Nam đã đề nghị ANZFA tài
trợ một dự án để xây dựng luật thực phẩm Việt Nam và đến nay dự án này đã đợc triển khai. Kết
quả của dự án này sẽ tạo nhiều thuận lợi cho việc tổ chức biên soạn pháp lệnh thực phẩm sắp tới.
bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
- Ngoài ra văn phòng còn có nhiều buổi tiếp xúc với các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý
18