Tăng cường quản lý của nhà nước về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực - Pdf 12

Lời nói đầu
Ngày nay chất lợng có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế -
xã hội. Nó là một nhân tố quyết định tới sự thành bại của bất cứ doanh nghiệp
nào, quốc gia nào khi tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Để có thể phát triển kinh tế và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới đối với n-
ớc ta, là một quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển chất lợng sản phẩm cha
cao và không ổn định thì việc đảm bảo và nâng cao chất lợng là một yêu cầu hết
sức cần thiết.
Muốn đảm bảo và nâng cao chất lợng, đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn
và phơng pháp quản lý khoa học. Thực tế xét về bề mặt khách quan mà nói thì
chất lợng sản phẩm hàng hoá nói chung là nh thế. Nhng khi đã đi sâu vào tìm
hiểu vấn đề chất lợng hàng hoá nông sản thực phẩm thì mới thấy đợc nhiều vấn
đề đặt ra trong công tác quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực
này.
Để hình thành lên một cơ cấu quản lý cũng nh sự điều tiết của nhà nớc
trong lĩnh vực này thực sự là cả một quá trình hình thành và phát triển của luật
pháp quốc gia. Để tìm hiểu về thực trạng công tác quản lý của nhà nớc về tiêu
chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực phẩm ra sao? Cũng nh có thể đề xuất
một số biện pháp góp phần thúc đẩy công tác quản lý chất lợng trong lĩnh vực
này em đã lựa chọn đề tài:
"Tăng cờng quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực
Nông sản - Thực phẩm".
Bài viết của em gồm 3 phần:
Phần I. Lý luận chung về quản lý nhà nớc trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá
chất lợng nông sản thực phẩm.
Phần II. Thực trạng công tác quản lý nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh
vực Nông sản - Thực phẩm
Phần III. Những kiến nghị đề xuất về tăng cờng quản lý nhà nớc trong
lĩnh vực tiêu chuẩn hoá chất lợng Nông sản - Thực phẩm
Trớc khi đi vào từng nội dung cụ thể em xin chân thành cảm ơn sự hớng
1

Nh đã trình bày ở trên Việt Nam là nớc nông nghiệp thuộc khối các nớc
đang phát triển. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trờng với xu hớng tạo động lực
cho các doanh nghiệp trong nớc phát triển thì rất cần có sự hỗ trợ, quản lý của
nhà nớc mà cụ thể phải nói đến ở đây là công tác quản lý của nhà nớc tỏng các
lĩnh vực kinh tế nói chung và công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản
thực phẩm nói riêng. Vì đặc tính của hàng hoá Nông sản - Thực phẩm là rất
quan trọng đối với ngời sản xuất và tiêu dùng. Mà đặc biệt đối với Việt Nam là
nớc có nền nông nghiệp phát triển, đang dần chuyển mình sang nền kinh tế thị
trờng vì vậy rất cần có sự quan tâm của nhà nớc tới lĩnh vực này. Trớc hết là để
3
bảo vệ ngời tiêu dùng sau đó cũng có thể coi công tác tiêu chuẩn hoá dới sự
quản lý của nhà nớc là một biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao
chất lợng sản phẩm hàng hoá nông sản - thực phẩm tăng khả năng cạnh tranh
không những chỉ có thị trờng trong nớc mà cả trên thị trờng quốc tế.
* Các khái niệm cơ bản:
Để hiểu đợc các vấn đề có liên quan đến nông sản - thực phẩm chúng ta
phải xem xét các khái niệm chung của nông sản - thực phẩm. Không phải dễ
dàng có thể tách biệt đợc 2 khái niệm này bởi lẽ giữa nông sản và thực phẩm có
quan hệ mật thiết với nhau.
- Nông sản là kết quả của quá trình lao động nông nghiệp, sản phẩm đợc
sản xuất ra chủ yếu nhằm mục đích phục vụ cho quá trình chế biến thực phẩm.
- Thực phẩm là kết quả của hàng loạt các thao tác quy trình chế biến từ
nông sản mà có đợc. Mục đích cuối cùng là đáp ứng nhu cầu ăn uống sinh sống
của con ngời. Hơn nữa muốn xem xét nghiên cứu quá trình thực hiện công tác
quản lý của nhà nớc ra sao chúng ta cần phải thấy đợc vai trò của nông sản -
thực phẩm đối với nền kinh tế và đối với con ngời.
Từ đó sẽ xem xét công tác quản lý của nhà nớc trong lĩnh vực tiêu chuẩn
hoá nông sản - thực phẩm.
2. Vai trò và ý nghĩa của nông sản - thực phẩm
a) Vai trò.

Qua việc nghiên cứu thì thấy rằng công tác quản lý của nhà nớc mà thực
hiện tốt, tránh đợc mọi sai sót sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội.
- Thứ nhất: Tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản - thực phẩm
trong nớc, nâng cao chất lợng sản phẩm.
- Thứ hai: Bảo đảm sức khoẻ cho ngời tiêu dùng và đảm bảo tin tởng xác
đáng trong việc lu thông lơng thực.
- Thứ 3: Kiện toàn tốt hơn nữa bộ máy quản lý của nhà nớc bằng việc phân
ngành quản lý trong từng lĩnh vực cụ thể. Tạo ra sự liên kết giữa các ngành, các
bộ với nhau.
Tóm lại qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ cho chúng ta thấy đợc ý nghĩa
của hàng hoá nông sản thực phẩm rất lớn trong nền kinh tế đất nớc. Mà đặc biệt
hơn nữa là phục vụ cho cuộc sống của con ngời ngày một nâng cao đáp ứng tốt
hơn công tác quản lý của nhà nớc trong lĩnh vực này tạo đà phát triển kinh tế -
văn hoá - xã hội.
5
Vì thế ngời ta ít quan tâm tới việc tiêu chuẩn hoá thực phẩm nh là một yếu
tố quan trọng nhằm tạo nên nông sản hàng hoá và việc giáo dục tiêu chuẩn hoá
trong xã hội cũng không cần đợc đặt ra.
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu chúng ta từng bớc tiến lên công nghiệp
hoá. Nông nghiệp chuyển dần từ ngành sản xuất nông sản tự cấp, tự túc sang
nông sản thực phẩm hàng hoá. Đây là một bớc tiến quan trọng trong nền sản
xuất nông nghiệp của nớc ta.
Hiện nay nông sản - thực phẩm làm ra không chỉ lu thông trên thị trờng
của một địa phơng mà đã mở rộng ra nhiều nơi khác xa hơn.
Nhiều nông sản thực phẩm đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng
của đất nớc nh: chè, cà phê, hạt điều, hạt tiêu rau quả, thuỷ sản, đặc biệt là gạo.
Từ một nớc luôn luôn thiếu lơng thực chúng ta đã trở thành một quốc gia xuất
khẩu gạo điều đó đã tạo nên một khuôn mặt Việt Nam mới trên thị trờng ngũ
cốc thế giới.

chuẩn về vệ sinh, kiểm dịch, tiêu chuẩn môi trờng, tiêu chuẩn kỹ thuật, mẫu mã
sản phẩm và bao gói sản phẩm đều thuộc khái niệm "chất lợng sản xuất". Nhiều
khi các hoạt động cải tiến chất lợng sản phẩm chỉ mới chủ yếu đợc tập trung
vào việc nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá hoặc cải tiến mẫu mã, bao bì
chứ cha đợc tập trung đúng mức vào các khía cạnh kỹ thuật hay tiêu chuẩn kỹ
thuật vệ sinh kiểm dịch (SPS) và môi trờng.
Tất cả các doanh nghiệp đều nhận thức đợc rằng, chất lợng sản phẩm là
một trong những yếu tố quyết định, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của họ
trên thị trờng quốc tế, nên họ đã rất chú trọng đến việc nâng cao chất lợng sản
phẩm. Tuy nhiên cho đến nay các doanh nghiệp vẫn mới chỉ nhìn nhận cách tốt
nhất để nâng cao chất lợng sản phẩm là áp dụng công nghệ tiên tiến và các hệ
thống quản lý chất lợng hiện đại nh Bộ tiêu chuẩn ISO 9000, chứ cha nhận thấy
vai trò to lớn của hệ thống quản lý môi trờng ISO 14000. Các doanh nghiệp hầu
nh không có thông tin về các hiệp định môi trờng đa phơng hoặc các quy định
của WTO liên quan đến môi trờng.
Vấn đề môi trờng mới chỉ đợc các doanh nghiệp đề cập đến đợc góc độ
bảo vệ môi trờng trong quá trình sản xuất. Ví dụ nh vấn đề xử lý chất thải, an
toàn vệ sinh nơi làm việc...
b) Yêu cầu về tiêu chuẩn môi trờng của các nớc nhập khẩu
Yêu cầu của các nớc nhập khẩu đối với một sản phẩm nào đó thì rất khác
nhau... Mỗi nớc có một hệ thống tiêu chuẩn riêng và các doanh nghiệp Việt
7
Nam phải tuân thủ để đáp ứng yêu cầu của mỗi loại tiêu chuẩn, trong đó có tiêu
chuẩn về môi trờng. Điều này trên thực tế nhiều khi đã hạn chế khả năng mở
rộng thị trờng của các doanh nghiệp hoặc do hệ thống sản xuất của họ không đủ
linh hoạt để đáp ứng với tất cả các loại yêu cầu đặc thù của các nớc bạn hàng,
hoặc do họ không có khả năng đầu t để đáp ứng các tiêu chuẩn đợc đặt ra.
Nhiều nớc quy định tiêu chuẩn chất lợng và môi trờng hết sức cao nhằm bảo
đảm an toàn vệ sinh và sức khoẻ cho ngời tiêu dùng. Điều này đã làm cho các
doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm của mình sang các nớc đó gặp rất

chứng nhận chất lợng" do các cơ quan khác nhau cấp.
Một số nhà nhập khẩu nớc ngoài khi nhập khẩu nông sản từ Việt Nam phải
hoàn thành rất nhiều thủ tục nhập khẩu và kiểm tra chất lợng phức tạp ở nớc họ.
Ví dụ có nhà nhập khẩu phải xin giấy giới thiệu của Bộ trởng Nông nghiệp
hoặc hiệp hội nông nghiệp khi nhập một mặt hàng nông sản nào đó. Những thủ
tục phiền hà này tại nớc nhập khẩu đôi khi cũng làm nản chí một số nhà nhập
khẩu muốn làm ăn với Việt Nam.
Cũng có nhiều nớc đặt ra tiêu chuẩn chất lợng cao đối với hàng nông sản
nhập khẩu, đặc biệt là mặt hàng rau quả (nh tiêu chuẩn về hàm lợng chất bảo vệ
thực vật, chất phụ gia, độc tố, kim loại nặng, độ ẩm, nấm mốc v.v...
Các tiêu chuẩn này thậm chí còn cao hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế. Một
số nớc nhập khẩu lại quy định việc nhập khẩu nông sản phải tuân thủ những
luật lệ và quy định nhất định; ví dụ luật bảo vệ cây trồng, luật an toàn vệ sinh
thực phẩm, các quy định về chất phụ gia thực phẩm v.v... Tuy nhiên những quy
định này không phải lúc nào cũng minh bạch, nhất quán và đợc công bố rộng
rãi để các nhà sản xuất nớc ngoài biết.
* Chi phí để đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trờng.
Tất cả các doanh nghiệp đều rất chú trọng đến việc cải tiến chất lợng sản phẩm
của mình. Cách tốt nhất theo họ nghĩ để làm đợc điều này là áp dụng hệ thống
quản lý chất lợng ISO 9000.
Tuy nhiên chi phí cụ thể cho việc đầu t này không đợc các doanh nghiệp
đề cập tới. Nhiều doanh nghiệp cho rằng các yêu cầu của nớc nhập khẩu đối với
hàng nông sản rất cao. Muốn đáp ứng các yêu cầu này thì phải mất nhiều thời
gian và tiền của. Ví dụ: (Phạt do giao hàng chậm, phụ trội chi phí kinh doanh,
phí giám định hàng hoá v.v...).
* Sự phân biệt đối xử của nớc nhập khẩu đối với các nớc xuất khẩu.
Theo kết quả khảo sát của vụ chính sách kinh tế Đa biên (Bộ thơng mại)
thì sự phân biệt cơ bản nhất là phân biệt đối xử về thuế quan. Nhiều nớc nhập
9
khẩu không cho Việt Nam hởng thuế suất theo quy chế. Do đó hàng xuất khẩu

Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị
Lạc nhân 4,5 2,4 4 2,5 54 32 65,6 81,0
Cao su 29 14 35 17 215 117 126,9 102,1
Cà phê 39 38,9 55 56 383 481 114,6 92,1
Chè 3,6 3,5 5 6,6 30 38 97,1 79,9
Gạo 240 41 220 43,6 4246 964 120,4 100,3
Hạt điều 1,7 9,5 1,2 7 14 83 58,8 77,6
Hạt tiêu 1,4 6,0 9 4 34 136 258,7 235,3
Rau quả 7,8 5 68 130,3
Hải sản 97 105 893
Xuất khẩu năm 2000
Đơn vị tính: Nghìn tấn, triệu USD
Thực hiện 11
tháng năm 2000
Ước tính
T12/2000
Ước tính cả năm
2000
Ước tính cả năm
2000 so với 1999
Mặt hàng Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị
Hải sản 1325 150 1475 151,9
Gạo 3212 616 288 52 3500 668 77,6 65,2
Cà phê 614 449 80 36 694 485 144,0 82,9
Rau quả 185 20 205 195,2
Cao su 245 150 35 20 280 170 105,7 115,8
Hạt tiêu 35,7 141 0,5 1 36,2 142 104 103,6
Hạt điều 23,3 116 3,1 14 26,4 130 143,4 118,2
Chè 40,7 47 4,0 7 44,7 53,4 122,8 118,7
Lạc 74,2 40 4,0 2 78,2 42 140,9 128,7

Cà phê (1000 tấn) 239 337 389 491 382 584 482 585 694 485
Cao su (1000 tấn) 111 150 195 191 191 128 265 147 280 170
4. Sự cần thiết phải có công tác quản lý của nhà nớc
Nh chúng ta đã biết thực phẩm là kết quả của các quy trình chế biến nông
sản mà có đợc. Vì vậy muốn thấy đợc sự cần thiết phải có công tác quản lý của
nhà nớc thì phải đi sâu tìm hiểu tình hình quản lý an toàn nông sản ở nớc ta
trong những năm qua ra sao?
Theo thống kê cha đầy đủ của Bộ y tế năm 1997 có 558 vụ ngộ độc thức
ăn với 6421 ngời mắc và 46 ngời chết. Có những vụ ngộ độc đã làm cho hàng
ngàn ca phải vào bệnh viện nh vụ ngộ độc tại một xí nghiệp giầy da ở Bình D-
ơng. Nếu theo cách tính của WHO thì trong năm 1997 đã có hàng triệu ngời bị
ngộ độc thực phẩm. Ngay từ đầu năm 1998 cũng đã xảy ra hàng loạt vụ ngộ độc
thức ăn mà điển hình là vụ ngộ độc thức ăn ở trờng mầm non 11A thành phố Hồ
Chí Minh với hàng trăm cháu bị bệnh. Nguyên nhân chủ yếu của các vụ ngộ
độc là do phơng thức bảo quản và chế biến thức ăn không hợp vệ sinh làm cho
thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Các vụ ngộ độc có thể gây thiệt hại
rất lớn cho sức khoẻ và kinh tế của một quốc gia. Ngay cả ở một nớc phát triển
nh Hoa Kỳ thì hàng năm có hàng chục triệu lợt ngời bị ốm và 10.000 ngời chết
do vi sinh vật gây bệnh có trong thực phẩm, con số thiệt hại do ngộ độc thực
phẩm cũng lên tới hàng chục tỷ đô la.
Tại Việt Nam thiệt hại của nhân dân và nhà nớc trong năm 1997 do yếu
kém trong công tác vệ sinh thực phẩm với ớc tính sơ bộ cũng đã tới hàng ngàn
tỷ đồng.
Năm 1999 với con số thống kê cha đầy đủ về ngộ độc thực phẩm của 44
tỉnh, thành phố tính đến ngày 20/12/1999 đã xảy ra 224 vụ ngộ độc thực phẩm
13
với 5489 ngời mắc, trong đó có 59 trờng hợp tử vong.
Ngoài những tác hại do thực phẩm không an toàn còn có những nguy hại
tiềm ẩn khác: D lợng thuốc trừ sâu, phân hoá học trong rau quả, d lợng thuốc
tăng trọng trong thịt... Các vấn đề mang tính chất xã hội nh buôn lậu thuốc bảo

cấp cha cao, sự thiếu trách nhiệm của các cơ sở sản xuất thực phẩm đối với sức
khoẻ ngời tiêu dùng, thực phẩm không đảm bảo chất lợng, vệ sinh an toàn thực
phẩm đã trở thành nỗi lo lắng thờng xuyên của ngời dân.
Cụ thể:
Đối với nhiều nạn nhân các bệnh do thực phẩm chỉ biểu hiện ở mức hơi
khó chịu hay phải nghỉ việc đối với một số khác đặc biệt là các trờng mẫu giáo,
vờn trẻ,... thì ngộ độc thực phẩm càng nặng nề và nguy hiểm cho tính mạng.
Đặc biệt d luận càng lo lắng khi ngộ độc thuốc trừ sâu do ăn rau quả tơi ngày
càng nhiều, hàm lợng thuốc trừ sâu trong thực phẩm vợt quá mức cho phép
nhiều lần. Nhiều loại hoá chất bị cấm sử dụng ở nớc ngoài đang tìm cách tràn
vào Việt Nam.
Năm 1999 với con số thống kê cha đầy đủ về ngộ độc thực phẩm ở 44 tỉnh,
thành phố đã xảy ra 224 vụ ngộ độc thực phẩm với 5489 ngời mắc trong đó có
59 trờng hợp tử vong xảy ra tại các bữa ăn gia đình, bếp ăn tập thể, cơ quan, xí
nghiệp,... Nguyên nhân 50,8% số vụ do thực phẩm bị ô nhiễm vi sinh vật; 8,3%
số vụ do thực phẩm có d lợng thuốc bảo vệ thực vật quá giới hạn cho phép.
5,9% số vụ do thực phẩm có chứa chất độc tự nhiên nh nấm mốc, sắn độc, ...
15
Trong năm 1999 đã xảy ra 23 vụ ngộ độc do ăn phải nấm độc với tổng số 136
ngời mắc, 16 ngời tử vong. Còn lại 35% số vụ ngộ độc thực phẩm mà y tế địa
phơng cha xác định đợc nguyên nhân.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, do nghiên cứu vụ ngộ độc thực phẩm
xảy ra ngay trong chiến lợc thực hiện tháng hành động cũng nh trong thời gian
vừa qua số ngời mắc trong một vụ tơng đối đông cho thấy tính chất hết sức phức
tạp của công tác quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra còn có
tình trạng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục đợc phép sử dụng.
Riêng lực lợng quản lý thị trờng trong tháng 9/1999 đã kiểm tra, thu dữ 10 vạn
ống và 2 vạn gói thuốc diệt chuột, trên 15 vạn ống thuốc trừ sâu và trên 15 tấn
các loại thuốc bảo vệ thực vật khác có nguồn gốc từ nớc ngoài nhập lậu vào. Đó
là cha kể các lực lợng khác bắt giữ cũng nh số tồn kho cha có điều kiện tiêu

phẩm không ngừng đợc đẩy mạnh bởi lẽ đây là con đờng hiệu quả nhất giúp
chúng ta từng bớc nâng cao chất lợng hàng hoá nông sản và xuất khẩu. Hàng
loạt tiêu chuẩn ISO đã đợc sử dụng để xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam - TCVN
nh các tiêu chuẩn trong lĩnh vực chè và cà phê...
Do đặc tính quan trọng của hàng hoá nông sản mà tổ chức lơng thực thế
giới FAO và tổ chức y tế thế giới WHO đã phối hợp hành động trong chơng
trình phối hợp hỗn hợp FAO/WHO về công tác tiêu chuẩn hoá. Hai tổ chức này
đã thành lập ra uỷ ban tiêu chuẩn hoá quốc tế thực phẩm về CAC vào năm
m1962 nhằm bảo vệ sức khoẻ cho ngời tiêu dùng và an toàn, tin tởng trong lu
thông thực phẩm.
Nhận thức đợc điều này Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lờng chất lợng đã phối
hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu và kiến nghị tham gia CAC.
Tháng 8 năm 1989 Hội đồng Bộ trởng đã nhất trí cử Tổng cục - Tiêu chuẩn - Đo
lờng - Chất lợng đại diện cho Việt Nam tham gia hoạt động của CAC.
Đến 1994 Bộ Khoa học công nghệ và môi trờng mới thành lập Uỷ ban tiêu
chuẩn hoá thực phẩm Việt Nam (Quyết định số 570/QĐ-TC ngày 11 tháng 8
năm 1994) gọi tắt là Uỷ ban Codex Việt Nam với 21 thành viên bao gồm lãnh
đạo các nhà quản lý nghiên cứu của các Bộ Khoa học công nghệ môi trờng, Th-
ơng mại, Kế hoạch đầu t, Y tế, Thuỷ sản, Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Công nghiệp, Ngoại giao... và một số doanh nghiệp do ông Nguyễn Thiện Luân
- Thứ trởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm chủ tịch và ông
Nguyễn Văn Thởng - Thứ trởng Bộ Y tế làm phó chủ tịch.
2. Hoạt động chính của Uỷ ban Codex Việt Nam
2.1. Thành lập các đầu mối quan hệ giữa các Bộ và Uỷ ban Codex
17
Để tăng cờng vai trò t vấn của mình đồng thời để đảm bảo sự phối hợp
giữa các Bộ với nhau trong quản lý chất lợng thực phẩm cũng nh để đảm bảo sử
dụng kịp thời và rộng rãi những tài liệu mà các Ban Kỹ thuật Codex quốc tế
chuyển tới trên cơ sở đó kiến nghị và áp dụng vào Việt Nam. Uỷ ban Codex
Việt Nam đã đề nghị các Bộ có liên quan cử cơ quan đầu mối quan hệ. Sau đây

kiến nghị với nhà nớc các đối tợng thực phẩm cần tiêu chuẩn hoá, cần soát xét,
các tiêu chuẩn cần soát xét, các tiêu chuẩn cần thay thế, huỷ bỏ nhằm đảm bảo
cho các tiêu chuẩn đó luôn hoà nhập đợc với các nớc nhất là các nớc trong khu
vực đồng thời đáp ứng đợc yêu cầu của sản xuất và kinh doanh đảm bảo quyền
lợi của ngời tiêu dùng.
Trong nhiệm kỳ I các Ban kỹ thuật đã xây dựng đợc gần 70 TCVN góp ý
đợc trên 40 tiêu chuẩn quốc tế. Một số Ban kỹ thuật đã họp để góp ý về nội
dung cho các đoàn đại biểu Việt Nam đi dự các hội nghị Codex quốc tế liên
quan: Ban kỹ thuật sữa, Ban kỹ thuật đồ uống...
Có thể kể ra đây một số ban:
Ban kỹ thuật ngũ cốc và các hạt họ đậu TCVN/TC F1
Ban kỹ thuật dầu mỡ động thực vật TCVN/TC F2
Ban kỹ thuật rau quả tơi TCVN/TC F10
Ban kỹ thuật sữa và sản phẩm sữa TCVN/TC F12
Ban kỹ thuật cà phê và sản phẩm cà phê TCVN/TC F16
Tuy nhiên ở đây cũng có thể nêu lên một số khó khăn và tồn tại trong hoạt
động của các Ban kỹ thuật.
- Một số Ban kỹ thuật chỉ bó hẹp hoạt động trong phạm vi xây dựng tiêu
chuẩn vì vậy khi không có đề tài tiêu chuẩn thì không có nội dung hoạt động.
Do đó cha phát huy đợc vai trò t vấn của mình trong lĩnh vực quản lý và sản
xuất kinh doanh thực phẩm.
- Các Ban kỹ thuật cha gắn hoạt động của mình với hoạt động quản lý của
một số ngành có liên quan, nhất là trong vấn đề soạn thảo các văn bản pháp quy
về thực phẩm, do đó việc đóng góp ý kiến bị hạn chế và khó khăn cho việc áp
dụng khi đợc ban hành.
- Do khó khăn về kinh phí đi lại nên một số đại biểu phía Nam ít tham gia
sinh hoạt ở các Ban kỹ thuật vì hầu hết đầu mối và các cuộc họp các Ban kỹ
thuật đều ở phía Bắc.
- Tuy chúng ta đã làm việc với các ngành để cử các đoàn đi dự các hội
19

Hội thảo quốc gia về nớc khoáng thiên nhiên và nớc tinh lọc tháng 4/97.
Hội thảo về chất dinh dỡng trong thực phẩm.
Hội thảo về Premix Vitamin.
2.4. Hoạt động hợp tác quốc tế:
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế CAC đợc FAO và WHO đồng bảo trợ nên
các nớc thành viên không phải đóng lệ phí và Uỷ ban Codex Việt Nam cũng
nhận thức đợc rằng càng làm tốt công tác hợp tác quốc tế chúng ta càng tranh
thủ đợc sự giúp đỡ của 2 tổ chức này nhất là FAO và các Ban kỹ thuật codex
quốc tế.
2.4.1. Tham dự các hội nghị các Ban kỹ thuật Codex quốc tế:
Hàng năm Ban th ký của Uỷ ban codex quốc tế đều gửi trớc lịch họp của
các Ban kỹ thuật cho các nớc thành viên cử ngời đi dự. Chúng ta đã cố gắng rất
nhiều trong việc ngày càng cử nhiều đoàn đại biểu đi dự hội nghị các Ban kỹ
thuật codex. Do điều kiện kinh phí nên chúng ta không thể có đại biểu đi dự tất
cả các cuộc họp trên mà mỗi năm chúng ta cố gắng tham dự 4-5 hội nghị u tiên
cho những vấn đề mà chúng ta đang quan tâm nh: kiểm tra thực phẩm xuất nhập
khẩu, phụ gia thực phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm... Đồng thời lãnh đạo Uỷ
ban codex cũng đã cố gắng đi dự các hội nghị toàn thể các thành viên, hội nghị
khu vực... đợc tổ chức 2 năm 1 lần, các đoàn đi họp về đã có báo cáo kết quả
bằng văn bản để văn phòng codex kịp thời thông báo cho các nơi có liên quan
biết.
Có đợc kết quả trên là do Uỷ ban Codex Việt Nam đã tích cực vận động
các ngành có liên quan, giải quyết kinh phí đi họp cũng nh đề nghị một số
doanh nghiệp tài trợ.
Đồng thời do những cố gắng trên mà Uỷ ban Codex Việt Nam ngày càng
nâng cao uy tín và vai trò của mình đối với các Ban kỹ thuật
21
2.4.2. Tham dự các lớp đào tạo, đi khảo sát và dự các hội thảo quốc tế:
Đợc sự quan tâm của Tổng cục - Tiêu chuẩn - Đo lờng - chất lợng của
FAO và sự tài trợ của một số doanh nghiệp, bên cạnh việc tham dự các hội nghị

quý. Văn phòng đã lập danh sách các đơn vị và cá nhân làm đầu mối nhận tài
liệu. Mỗi khi nhận đợc tài liệu mới văn phòng đã phân loại và kịp thời thông
báo dành mục tiêu, chính vì vậy hàng năm theo yêu cầu của các nơi văn phòng
đã sao chụp hàng vạn bản. Tóm lại công tác tiếp nhận, giữ gìn bảo quản, phân
loại và sao chụp tài liệu văn phòng Codex càng ngày càng làm tốt hơn.
2.5.3. Công tác hợp tác quốc tế:
Văn phòng Codex đã làm việc với nhiều đoàn chuyên gia của FAO, WHO,
UNIDO và một số doanh nghiệp nớc ngoài. Tổ chức cho họ đi thăm và làm việc
tại một số cơ sở sản xuất của Việt Nam đồng thời cũng mở rộng quan hệ thông
tin, tài liệu và t vấn với Văn phòng FAO Hà Nội, Văn phòng Nông nghiệp và
thơng vụ một số sứ quán Mỹ, Pháp, Brazil...
- Làm các thủ tục và kiến nghị các ngành cử đại biểu đi dự các hội nghị
Codex quốc tế.
2.5.4. Các công tác khác:
- Định kỳ báo cáo công tác về hoạt động của Uỷ ban Codex Việt Nam cho
lãnh đạo Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lờng - Chất lợng và lãnh đạo Uỷ ban Codex
Việt Nam và đầu mối của các ngành.
- Đã in trên 1000 quyển giới thiệu về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban
Codex Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
- Ngoài ra văn phòng còn có nhiều buổi tiếp xúc với các doanh nghiệp, các
cơ quan quản lý thực phẩm của Việt Nam để trao đổi những vấn đề liên quan
đến sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nớc trong lĩnh vực thực phẩm cần giải
quyết.
2.5.5. Văn phòng Codex còn chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức các hội
thảo và hội nghị nh đã nêu ở phần trên.
Đợc sự giúp đỡ của Tổng cục - Tiêu chuẩn - đo lờng - chất lợng, Văn
phòng Codex đã không ngừng nâng cao năng lực hoạt động cả về trang thiết bị
và chuyên môn nghiệp vụ.
II.3. Công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản -
thực phẩm của quốc tế

nguyên liệu.
Các nguyên liệu để chế biến thành thực phẩm cũng đợc đề cập ở mức cần
thiết nhất định nhằm đạt đợc những mục tiêu đã xác định của Codex.
Codex Alimentarius bao gồm các điều về vệ sinh thực phẩm, chất phụ gia
thực phẩm, chất thải hoá học, chất nhiễm bẩn ghi nhãn và cách trình bày, các
phơng pháp phân tích và lấy mẫu. Nó cũng gồm các điều khoản có tính chất t
vấn theo kiểu quy phạm kỹ thuật, tài liệu hớng dẫn và các biện pháp đề nghị
khác.
c) Bản chất của các tiêu chuẩn Codex:
Các tiêu chuẩn Codex chứa đựng các yêu cầu kỹ thuật về thực phẩm nhằm
bảo đảm cho ngời tiêu thụ có đợc các sản phẩm thực phẩm ngon lành, không
độc và không bị giả mạo, đợc ghi nhãn và trình bày đúng.
Một tiêu chuẩn Codex đối với một hay nhiều loại thực phẩm phải đợc xây
dựng theo kích thớc, khuôn khổ của một tiêu chuẩn hàng hoá Codex và chứa
đựng những chỉ tiêu thích hợp nêu trong đó.
d) Việc công nhận những tiêu chuẩn hàng hoá Codex:
Một tiêu chuẩn Codex có thể đợc một nớc công nhận phù hợp với những
thủ tục hành chính và pháp lý trong việc phân phối các sản phẩm có liên quan,
có thể là sản phẩm nhập ngoại hay sản xuất trong nớc tỏng phạm vi lãnh thổ
theo các cách sau:
- Công nhận toàn bộ.
- Công nhận có mục tiêu.
- Công nhận với một số thay đổi nhất định.
e) Những tiêu chuẩn với một ngoại lệ, có những thay đổi nêu ra cụ thể
khi tuyên bố công nhận, nh vậy có thể hiểu là một sản phẩm phù hợp với tiêu
chuẩn nhng có một số sai khác sẽ đợc phép phân phối tự do trong lãnh thổ của
nớc tơng ứng. Nớc đó sau này sẽ đa thêm vào tuyên bố công nhận của họ một
25

Trích đoạn Sự cần thiết phải hình thành hệ thống quản lý chất lợng thực phẩm của Việt Nam. Hệ thống quản lý chất lợng thực phẩm. Hệ thống tổ chức quản lý chất lợng thực phẩm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status