BÁO CÁO KHOA HỌC " NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG GỢI Ý CHÍNH SÁCH " - Pdf 12



1
NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG GỢI Ý
CHÍNH SÁCH
ThS. Chu Khánh Lân
Học viện Ngân hàng
Giá cả hàng hóa thế giới đã tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008 trước khi giảm
mạnh do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đây là một trong những
yếu tố khiến cho lạm phát của Việt Nam duy trì ở mức thấp trong năm 2009. Tuy nhiên, kể
từ đầu năm 2010 trở lại đây, giá cả hàng hóa đã tăng cao đột biến cộng với việc mức độ
mở cửa cao của nền kinh tế Việt Nam (tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GDP lớn hơn 150%) đã
khiến chi phí nguyên vật liệu đầu vào của những ngành sản xuất sử dụng hàng nhập khẩu
tăng lên, tạo áp lực tăng giá trong nước. Bài viết nhằm phân tích nguyên nhân dẫn tới
lạm phát cao tại tại Việt Nam trong những năm gần đây và một số gợi ý chính sách.
1. NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI TÌNH TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
1.1. Chính sách kinh tế theo đuổi mức tăng trưởng cao
Do sự chậm lại trong quá trình cải cách kinh tế từ năm 1996 và tác động của cuộc
khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á năm 1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam cuối những năm 1990 đã chững lại đi kèm với hiện tượng thiểu phát trong giai
đoạn từ năm 1999 đến năm 2001. Nhằm khôi phục đà tăng trưởng kinh tế, Chính phủ
Việt Nam đã thực hiện liên tiếp chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ
(CSTT) theo hướng nới lỏng; chi Ngân sách Nhà nước (NSNN), tỷ lệ đầu tư trên GDP,
cung tiền (M2) tăng liên tục (xem Hình 1). Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
dân (GDP) đạt mức trên 7%; tuy nhiên, đi kèm với mức tăng trưởng này là lạm phát
tăng cao nhất từ năm 1996 trở lại, ở mức 9,5% vào năm 2004.
Hình 1. Tăng trưởng GDP và tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư trên GDP giai đoạn 1998-
2010

Nguồn: ADB statistics

3
Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách vừa mới đạt được chưa lâu thì những dư chấn từ
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lại tác động dữ dội đến kinh tế trong nước, cộng
với hậu quả của chính sách thắt chặt tiền tệ có phần quá mức trong giai đoạn trước đó
đã khiến cho nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát trong những tháng cuối năm
2008. Mặc dù chịu tác động bởi những khó khăn cộng hưởng như vậy, nhưng kết thúc
năm 2008 và 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn “cán đích an toàn” với tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế đạt mức tương ứng là 6,3% và 5,32% và lạm phát ở mức 19,90% và 6,52%. Để
tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng trong các năm tiếp theo, Chính phủ đã thực hiện
CSTK và CSTT nới lỏng thông qua các gói kích cầu; chi NSNN vượt ngưỡng 30%
GDP, chênh lệch giữa tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư được nới rộng ra gần 10% GDP, cung
tiền và tín dụng tăng trưởng mạnh. Hậu quả của CSTK mở rộng là sự gia tăng thâm
hụt ngân sách và tăng nợ công (xem Hình 4), tạo áp lực lớn lên nền kinh tế khi các
khoản nợ đến hạn trong tương lai.
Hình 3. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
giai đoạn 1998-2010

Nguồn: ADB statistics
Tóm lại, trong giai đoạn 10 năm trở lại đây, Chính phủ đã theo đuổi tăng trưởng
kinh tế ở mức cao, dường như vượt quá tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam. Mô hình
tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng đầu tư, đặc biệt thông qua tăng trưởng tín dụng và
chi tiêu của khu vực kinh tế Nhà nước đi kèm với thâm hụt NSNN, trong khi hiệu quả
đầu tư ngày càng giảm. Cơ cấu trong tăng trưởng kinh tế đã dịch chuyển từ khu vực
công nghiệp vốn là nền tảng cho sự phát triển kinh tế giai đoạn trước đây sang khu vực
dịch vụ (xem Hình 3) cho thấy tiềm năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam dựa trên
sản xuất công nghiệp đã bị chững lại. Cộng với những biến động bất lợi của nền kinh
tế thế giới như khủng hoảng tài chính, suy thoái kép và nợ công tăng cao, chính sách
theo đuổi tăng trưởng cao đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều hệ lụy, đặt ra

thông đã bị thu hẹp rồi mở rộng với tốc độ mạnh, khiến cho thị trường tiền tệ và thị
trường vốn rơi vào tình trạng căng thẳng, rối loạn. 5
Trong khi CSTT bị sử dụng quá mức để chống lạm phát và suy giảm kinh tế, thì
CSTK không có sự điều chỉnh linh hoạt tương ứng. Sự thiếu hiệu quả trong trao đổi
thông tin và thực hiện chính sách được đề cập đến như là một nguyên nhân của thực tế
này. Hơn nữa, việc Chính phủ phát hành trái phiếu để tăng chi tiêu công đã dẫn tới sự
phân bổ vốn không hiệu quả giữa các khu vực trong nền kinh tế; đặc biệt là việc sử
dụng vốn trái phiếu chính phủ thiếu hiệu quả tại các tập đoàn kinh tế Nhà nước- nơi
vốn dĩ không có sự linh hoạt trong môi trường kinh tế vĩ mô biến động như các doanh
nghiệp tư nhân, không thể hiện tốt vai trò là tấm đệm cho nền kinh tế khi nền kinh tế
gặp những cú sốc. Ngoài ra, việc tăng cường phát hành trái phiếu Chính phủ còn khiến
cho mặt bằng lãi suất của nền kinh tế tăng lên, gây khó khăn cho việc vay vốn duy trì
và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như làm giảm đi
lượng vốn huy động dùng để cho vay của hệ thống ngân hang, khiến hiệu quả điều
hành CSTT của NHNN bị hạn chế phần nào. Việc bội chi NSNN ở mức cao (xem hình
4) ngay cả trong thời kỳ có lạm phát cũng đã phần nào làm giảm hiệu quả của CSTK
lẫn CSTT khi Chính phủ cần thực hiện các chính sách kìm chế lạm phát.
Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998- 2010
Năm
Tăng GDP
% Tiết kiệm
% Đầu tư
Lạm phát
M2 growth
% Chi NSNN
1998
5.8%

4.00%
17.65%
24.16%
2003
7.3%
31.49%
35.44%
3.00%
24.94%
26.43%
2004
7.8%
33.46%
35.47%
9.50%
29.45%
26.19%
2005
8.4%
34.70%
35.57%
8.40%
29.74%
27.30%
2006
8.2%
35.11%
36.81%
6.60%
33.59%

Trong năm 2010, khi tình hình lạm phát có xu hướng giảm đi thì nhằm đạt được
mức tăng trưởng cao như mục tiêu đề ra là 6,5%, Chính phủ đã tiến hành nới lỏng
CSTK và CSTT; chi NSNN đạt 30,66% GDP; M2 tăng 33,3% (theo công bố của
ADB) và tăng 25,3% (theo công bố của NHNN), cao hơn mức chỉ tiêu đặt ra là 20%;
tương tự, dư nợ tín dụng tăng 29,81%, cao hơn mức chỉ tiêu đặt ra là 25%. Hệ quả của
việc theo đuổi tăng trưởng cao thông qua sử dụng hai chính sách mở rộng là lạm phát
tăng cao trở lại vào cuối năm 2010 cho tới giữa năm 2011; mặc dù vậy, chi NSNN 6
tháng đầu năm 2011 vẫn tăng 33,03% so với cùng kỳ năm trước, lại một lần nước tạo
áp lực lên việc điều hành CSTT. 6
Qua phân tích có thể nhận thấy, mức sản lượng thực tế của Việt Nam đã ở gần
mức sản lượng tiềm năng, trong khi năng suất lao động và đổi mới khoa học kỹ thuật
chưa có bước chuyển đổi mạnh mẽ, thì việc Chính phủ gia tăng chi tiêu không đem lại
nhiều hiệu quả. Khi mức sản lượng nhỏ hơn nhiều so với mức sản lượng tiềm năng thì
việc Chính phủ gia tăng chi tiêu sẽ làm tăng sản phẩm quốc dân; ngược lại, khi mức
sản lượng đã đạt gần mức tiềm năng thì việc cố gắng duy trì mức sản lượng cao hơn
mức sản lượng tiềm năng sẽ gây ra lạm phát trong nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam
không hấp thụ và sử dụng hiệu quả lượng vốn đầu tư lớn đã được thể hiện ở tốc độ
tăng trưởng GDP chậm lại và chỉ số ICOR tăng liên tiếp trong các năm trở lại đây (hệ
số ICOR của Việt Nam trong các năm 2008, 2009 và 2010 lần lượt là 6,58; 8,03 và
6,2, theo CIEM). Điều này cũng đồng nghĩa với sự mất cân đối giữa lượng tiền trong
nền kinh tế và sản lượng hàng hóa dịch vụ được tạo ra, lạm phát cao xảy ra liên tiếp là
điều không thể tránh khỏi, đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng đình trệ- stagflation (xem
Hộp 1).
Hộp 1. Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ tới sản lượng và lạm phát thông
qua mô hình AD- AS
CSTK và CSTT được thực hiện theo hướng nới lỏng liên tục trong giai đoạn năm 2008
tới 2010 nhằm phục hồi nền kinh tế vốn chịu hậu quả của suy thoái trong nước và

tổng cầu cắt đường tổng cung tại điểm cân bằng mới, tại đó mức giá là cao
hơn mức giá ban đầu và tại mức sản lượng thấp hơn mức sản lượng ban đầu .
1.3. Các nhân tố khác ảnh hưởng tới lạm phát của Việt Nam
Giá cả hàng hóa thế giới đã tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008 trước khi giảm
mạnh do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đây là một trong những
yếu tố khiến cho lạm phát của Việt Nam duy trì ở mức thấp trong năm 2009. Tuy nhiên,
kể từ đầu năm 2010 trở lại đây giá cả hàng hóa đã tăng cao đột biến (xem Hình 6) cộng
với việc mức độ mở cửa cao của nền kinh tế Việt Nam (tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GDP lớn
hơn 150%) đã khiến chi phí nguyên vật liệu đầu vào của những ngành sản xuất sử dụng
hàng nhập khẩu tăng lên, tạo áp lực tăng giá trong nước.
Hình 6. Diễn biến giá cả hàng hóa thế giới, giá lương thực và giá dầu thô
giai đoạn 2006- 2011 8

Nguồn: Indexmundi.com
Tỷ giá và chính sách ngoại thương cũng là những nhân tố có tác động nhất định tới
lạm phát. Trung bình hai năm 2009 và 2010, VND mất giá khoảng 10% mỗi năm so với
USD; tuy vậy, đồng nội tệ vẫn bị định giá thực cao so với ngoại tệ. Hình 7 cho thấy lạm
phát ở Việt Nam cao hơn nhiều so với CPI của Mỹ, trong khi tỷ giá danh nghĩa chỉ được
điều chỉnh tăng chậm khiến cho tỷ giá thực giảm xuống tới 0,7, làm xói mòn sức cạnh
tranh thương mại quốc tế của Việt Nam. Đầu năm 2011, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá
liên ngân hàng USD/VND từ mức 18.932 lên 20.693, tương đương tăng 9,3%; nhưng do
lạm phát tại thời điểm hiện nay vẫn ở mức cao nên tỷ giá thực vẫn ở mức thấp, chưa thúc
đẩy được hoạt động xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Ngoài ra, Việt Nam hiện nay vẫn
dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu. Thu nhập từ khu vực khai thác tài
nguyên tăng lên làm tăng tiêu dùng, là tác nhân khiến mặt bằng giá cả tăng, gây khó khăn
hơn nữa cho khu vực xuất khẩu dựa trên sản xuất để tạo ra giá trị gia tăng trong sản phẩm.
Trong khi đó, việc giảm giá nội tệ đã dẫn tới giá cả hàng hóa nhập khẩu quy đổi ra

hiện kiểm định Kruskal-Wallis nhằm kiểm tra yếu tố mùa vụ tồn tại trong số liệu CPI từ
khoảng thời gian tháng 01/2004 đến tháng 09/2011 với kết quả Prob thu được của thống
kê Kruskal-Wallis bằng 0,0004. Như vậy, với mức tin cậy 99%, có thể khẳng định có yếu
tố mùa vụ trong chuỗi dữ liệu lạm phát của Việt Nam. Thực hiện phân tích bằng mô hình
cộng tính để tách yếu tố mùa vụ và phương pháp lọc Hodrick-Prescott để tách thành phần
chu kỳ và xu thế của số liệu CPI thu được kết quả trình bày trong Hình 8. Yếu tố mùa vụ
trong lạm phát tăng cao trong các giai đoạn từ tháng 12 cho đến tháng 2 và tháng 5, giảm
xuống từ tháng 6 cho đến tháng 11. Ngoài ra, Hình 8 còn cho thấy xu thế tăng của lạm
phát trong giai đoạn từ năm 2006 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đang ở trạng thái
tăng trưởng quá mức tiềm năng, dễ rơi vào tình trạng lạm phát. Thành phần chu kỳ có mối
quan hệ khá chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng M2 với độ trễ khoảng 2 quý, khi mà NSNN 10
liên tục rơi vào thâm hụt thì việc nới lỏng CSTT sẽ có tác động mạnh làm tăng lạm phát
(đặc biệt ở hai năm 2007 và 2008).
Hình 8. Yếu tố mùa vụ, chu kỳ và xu thế trong lạm phát của Việt Nam
giai đoạn 2004- 2011

Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của tác giả
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ tín dụng/GDP cao nhất so với những
nước đang phát triển ở Châu Á chỉ sau Trung Quốc. Tăng trưởng tín dụng cao không chỉ
đến từ sự mở rộng của khu vực tư nhân và khu vực nước ngoài mà còn đến từ việc mở
rộng CSTK và tăng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu dư nợ theo lĩnh vực, theo
báo cáo thường niên của NHNN, cho thấy tín dụng phi sản xuất đã tăng nhanh chóng từ
năm 2008, từ mức 7,63% lên lần lượt 13,2%, 20,05% vào các năm 2009 và 2010; thời
điểm cần phải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cải thiện tình hình kinh tế
đang suy thoái. Việc tín dụng phi sản xuất tăng cao vào thời điểm đó sẽ làm giảm hiệu quả
của đầu tư, làm chậm quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế Việt Nam đồng thời là một
nhân tố gây ra lạm phát trong tương lai.

giai đoạn 2009- 9/2011

Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của tác giả
Mô hình ước lượng với CPI là biến phụ thuộc có dạng như sau:

Nhằm loại bỏ các hồi quy giả mạo trong các phương trình, tác giả thực hiện kiểm
định tính dừng Augumented Dickey- Fuller với tất cả các biến trong mô hình, độ trễ trong
kiểm định được lựa chọn theo tiêu chuẩn Schwarz Information. Kết quả cho thấy các
chuỗi số liệu lạm phát, cung tiền, xây dựng cơ bản, lãi suất, tỷ giá là không dừng nhưng
khi lấy sai phân bậc nhất của tất cả các chuỗi dữ liệu thì đều là các chuỗi dừng với mức ý 12
nghĩa 1%, 5% và 10% (xem Phụ lục 2). Vì vậy, mô hình được điều chỉnh lại có dạng như
sau:

Phương pháp Bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) được áp dụng để ước
lượng các hệ số. Các kiểm định, như Kiểm định White Heteroskedaticity về hiện tượng
phương sai sai số thay đổi, kiểm định Jarque-Bera về phân phối của phần dư và kiểm định
Breusch-Godfrey về hiện tượng tự tương quan, được sử dụng để phát hiện các khuyết tật
trong mô hình.
2.2. Kết quả mô hình hồi quy
Tác giả hồi quy lạm phát trên các biến giải thích trong cùng kỳ và các biến trễ tới
một năm. Các biến không có ý nghĩa thống kê bị loại bỏ ra khỏi mô hình, các biến có ý
nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10% được giữ lại và trình bày tại bảng 2. R-squared và
R-squared điều chỉnh lần lượt là 89% và 84%; mô hình giải thích tốt những biến động của
lạm phát tại Việt Nam. Các phương pháp kiểm định khuyết tật cho thấy, mô hình không
có khuyết tật phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phần dư có phân phối chuẩn
(xem Bảng 3).
Dựa trên kết quả hồi quy, tác giả đưa ra một số kết luận về các tác nhân gây ra lạm

0,00000103
2,812106
**
D(TH(-1))
0,00000111
3,393761
***
D(LS)
0,73895700
2,567806
**
D(CPI(-1))
1,16198200
5,795737
***
D(CPI(-2))
-0,43007600
-2.49455
**
D(WP)
0,09182800
2,859495
** 13
Observations
27 after adjustments
F-statistic
18,34365

phát hành trái phiếu Chính phủ để tài trợ cho chi NSNN. Tăng chi NSNN khiến lãi suất thị
trường tăng lên, khiến đầu tư tư nhân bị ảnh hưởng thông qua hiệu ứng chèn lấn, tác động
tiêu cực đến sản xuất và làm tăng lạm phát.
Lạm phát ở Việt Nam có quán tính cao, lạm phát ở thời kỳ trước một quý có tác
động làm tăng lạm phát ở quý sau, đồng thời công chúng có xu hướng nhạy cảm với lạm
phát trong quá khứ khi dự báo về lạm phát trong tương lai. Chỉ sau hai quý thì tác động
này mới được giảm đi một phần. Điều này chỉ ra rằng lạm phát chỉ giảm xuống khi Chính
phủ thành công trong việc duy trì lạm phát ở mức thấp trong một thời gian dài ít nhất là
hai quý. Một khi lạm phát đã xuất hiện thì việc kìm chế thành công lạm phát đòi hỏi cần
có sự phối hợp đồng bộ và có giữa CSTK và CSTT nhằm giảm lạm phát liên tục trong
thời gian nhất định thì mới đạt được kết quả.
Bảng 3. Các kiểm định khuyết tật của mô hình
White Heteroskedasticity Test:
F-statistic
1,395345
Probability
0,301420
Obs*R-squared

0,504606
Probability
0,777009

Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test: F-statistic
0,206533
Probability
0,655248
Obs*R-squared

tăng trưởng cao trong trung và dài hạn thì trong ngắn hạn phải ổn định nền kinh tế, đầu tư
vào nâng cao trình độ lao động, đổi mới phương thức lao động, hiện đại hóa công nghệ; từ
đó hiệu quả đầu tư mới được nâng cao, tạo tiền đề cho tăng trưởng sau này. Một khi đã
xác định được các mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ thì Chính phủ cần thực hiện các
chính sách kinh tế vĩ mô một cách kiên định tránh rơi vào tình trạng theo đuổi các mục
tiêu ngắn hạn mà bỏ qua các mục tiêu trung dài hạn. Để ổn định kinh tế trước những cú
sốc tích cực, NHNN có thể thực hiện một trong hai biện pháp sau:
Hình 10. Cú sốc tích cực trong điều kiện duy trì lãi suất cố định 15

Hình 10 và 11 miêu tả tác động của hai loại CSTT tới sản lượng và giá cả khi nền
kinh tế đối mặt với cú sốc cầu tích cực. Ban đầu đường cầu dịch chuyển sang phải tới
, khiến đường cầu tiền dịch chuyển sang đường . Nếu CSTT được điều
hành theo hướng tăng cung tiền từ tới để duy trì lãi suất, đường tổng cầu sẽ
tiếp tục dịch sang phải tới . Nền kinh tế đạt mức sản lượng và giá cả cao hơn nhưng
phải đối mặt với mức biến động cao hơn.
Hình 11. Cú sốc tích cực được trung hòa bằng CSTT

Để ổn định nền kinh tế khi đối mặt với cú sốc cầu tích cực như chi tiêu Chính phủ
tăng, giảm thuế, tiêu dùng tự định và đầu tư tăng, xuất khẩu ròng tăng…, NHNN nên thực
hiện CSTT thắt chặt (đường cung tiền dịch chuyển tới ). Lãi suất cao sẽ có tác
động lấn át hoàn toàn mức tăng của tiêu dùng và đầu tư, ngăn đường tổng cầu dịch
chuyển sang phải; nền kinh tế duy trì mức sản lượng và giá cả ban đầu trước khi xảy ra cú
sốc. 16
Chính phủ cần phải khôi phục lại lòng tin của công chúng, đặc biệt là của các nhà

phát mà NHNN mới bắt đầu tiến hành CSTT thắt chặt thông qua giảm cung tiền thì sẽ
làm lãi suất tăng lên, dẫn đến tăng lạm phát. Giảm cung tiền cần thời gian dài hơn để
kiềm chế lạm phát so với việc gây ra áp lực làm tăng lạm phát do mức lãi suất cao.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2011), Nguồn gốc lạm phát ở Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2010: Phát hiện mới từ những bằng chứng mới, Những vấn đề Kinh 17
tế và Chính trị thế giới, số 4, tháng 4/2011.
- Trịnh Thị Ái Hoa (2011), Ảnh hưởng của những hạn chế trong chính sách và điều
hành chính sách tới ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian qua, Tạp chí
Nghiên cứu Kinh tế, số 395, tháng 4/2011.
- Khuất Duy Tuấn (2011), Bàn về sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách
tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, số 4, tháng
2/2011.
Phụ lục 1. Mô tả các biến sử dụng trong mô hình hồi quy

CPI
XDCB
TH
LS
WP
EX
M2
Mean
1,5113
24.608
16.028
0,0909

11.324
0,0310
0,1287
1.486
685.388
Skewness
0,4351
0,8395
1,5091
1,3113
-1,7332
1,5264
0,4025
Kurtosis
1,9813
3,0200
6,0736
3,7183
8,2482
4,1610
1,8214
Observations
30
30
30
30
30
30
30
Phụ lục 2. Kiểm định tính dừng các biến sử dụng trong mô hình hồi quy

Test
critical
values
1% level
-3,711
Test
critical
values
1% level
-3,711
5% level
-2,976
5% level
-2,981
5% level
-2,981
10% level
-2,627
10% level
-2,627
10% level
-2,627
Null Hypothesis: D(LS) has a unit root
Null Hypothesis: D(WP) has a unit root
Null Hypothesis: D(M2) has a unit root
Exogenous: Constant
Exogenous: Constant
Exogenous: Constant
Lag Length: 1 (Automatic based on
SIC, MAXLAG=7)

values

1% level
-3,711
5% level
-2,976
5% level
-2,976
5% level
-2,976
10% level
-2,627
10% level
-2,627
10% level
-2.627
***, **, *: có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5%, 10%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status