Luận văn
Dự án sản xuất và kinh doanh
sản phẩm thạch nước rau câu
Seaveg
LỜI MỞ ĐẦU
Luật khuyến khích đầu tư trong nước (được Quốc Hội khoá X kỳ họp
thứ 3 từ 21/4 đến 20/5 năm 1998) thông qua đã mở ra một giai đoạn mới
trong sự nghiệp đầu tư phát triển kinh tế để huy động và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước
nhằm phát triển kinh tế – xã hội, vì sự nghiệp dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh.
Cùng với Luật doanh nghiệp đã được Quốc Hội thông qua trước đó.
Nhà nước bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi
cho các tổ chức, cá nhân, thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh
vực kinh tế – xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo luật pháp Việt Nam.
“ Đầu tư trong nước ” là sử dụng vốn để sản xuất kinh doanh tại Việt
Nam của các tổ chức cá nhân đầu tư thành lập, xây dựng cơ sở sản xuất,
kinh doanh và các hoạt động khác thuộc các thành phần kinh tế theo quy
định của pháp luật.
Sau một thời gian chuẩn bị, tác giả luận văn này(và là chủ dự án) đã
chọn đề tài “ Dự án sản xuất và kinh doanh sản phẩm thạch nước rau câu
Seaveg” (sau đây gọi tắt là dự án) làm luận văn tốt nghiệp đại học Quản Lý
và Kinh Doanh Hà Nội.
Kết cấu luận văn này, ngoài lời mở đầu và kết luận, chia thành 3
chương
Chương I: Đại cương về cơ sở lý luận và khoa học của dự án
1.2.1. Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường nhằm làm rõ những vấn đề sản xuất kinh doanh cái
gì, bao nhiêu, bán cho ai…? Thị trường là một trong những nhân tố quyết
định trong việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự án đầu tư.
Nội dung chủ yếu của nghiên cứu thị trường:
- Tình hình cung cầu hiện tại trên từng thị trường đã xác định :
Nghiên cứu cầu hiện tại về sản phẩm của dự án. Ai là khách hàng chính?
Mức tiêu thụ?
Cung cầu hiện tại được đáp ứng ra sao? (Số lượng nhà cung ứng, đáp ứng
bao nhiêu nhu cầu của thị trường…).
- Dự báo tình hình cung cầu trong tương lai:
Nghiên cứu động thái tiêu dùng, xu hướng động thái thay đổi(ước lượng
mức gia tăng về nhu cầu về sản phẩm)
Ước tính giá bán và chất lượng sản phẩm, của dự án, dự kiến về kiểu dáng
bao bì…
Dự báo lượng cung và nguồn cung trong tương lai.
1.2.2. Nghiên cứu cạnh tranh:
Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh chính (Số lượng đối thủ hiện có và
trong tương lai, tình hình và triển vọng hoạt động của cơ sở này, lợi thế so
sánh của đối thủ so với sản phẩm mà dự án dự định sản xuất trên các mặt chi
phí sản xuất , kiểu dáng, chất lượng…)
- Lựa chọn các giải pháp tiếp thị và tiếp cận thị trường cho dự án:
Chiến lược và chính sách bán hàng, hình thành mạng lưới phân phối , đại
lý…
Chiến lược và chính sách giá cả: Giá thành, định giá bán, sử dụng lợi
nhuận…
Chiến lược quảng cáo và xúc tiến bán hàng…
1.2.3. Nghiên cứu kỹ thuật:
Phân tích kỹ thuật nhằm lựa chọn dự án khả thi về mặt kỹ thuật. Điều này
Số lượng có thể cung cấp, thời gian cung cấp, địa điểm cung cấp…
1.2.5. Nghiên cứu lao động và tiền lương:
Tính nhu cầu số lượng lao động cần thiết từ lãnh đạo cao nhất đến các đội
tổ…
Nêu những yêu cầu cụ thể về trình độ lao động ứng với từng yêu cầu công
việc
Áp dụng hình thức trả lương nào, căn cứ vào hình thức trả lương được áp
dụng, số lao động cần thiết từng loại, các chi phí có liên quan để từ đó tính
ra quỹ lương hàng năm của toàn bộ dự án.
Dự tính nhu cầu về lao động có thể tuyển thêm…
1.2.6. Nghiên cứu tổ chức thực hiện:
Thông thường các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ có cơ cấu tổ chức
quản lý đơn giản, gọn nhẹ. Mọi việc nói chung phụ thuộc vào người chủ
doanh nghiệp, Thường chỉ cần một văn phòng, không có hoặc có rất ít
phòng ban. Mỗi nhân viên có thể kiêm nhiệm một vài chức năng quản lý,
trực tiếp thừa hành quyết định của chủ doanh nghiệp, điều này khiến chi phí
điều hành và quản lý thấp. Do đó họ thường chọn loại hình cơ cấu trực tuyến
chức năng.
Loại hình cơ cấu trực tuyến chức năng:
Nội dung cơ bản của cơ cấu trực tuyến chức năng được mô tả như một cái
thang gồm nhiều bậc, trong đó cấp bậc trên điều khiển cấp bậc dưới, cấp
dưới phục tùng cấp trên. Đó là mối quan hệ điều khiển phục tùng mang tính
chất bắt buộc.
1.2.7. Nghiên cứu hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án dưới góc độ nhà
đầu tư :
- Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước (các khoản nộp cho ngân sách nhà
nước như thuế doanh thu, thuế thu nhập, thuế môn bài…).
- Tạo được bao nhiêu công ăn việc làm cho người lao động.
n
t
t
t
n
t
t
t
R
IC
R
CF
NPV
00
)1()1(
Trong đó :
- NPV : Giá trị hiện tại thuần của khoản đầu tư
- CFt : Khoản tiền thu từ đầu tư ở năm thứ t
- ICt : Khoản chi về vốn đầu tư ở năm thứ t
- n : Vòng đời của khoản đầu tư
- R : Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hiện tại hóa
Như vậy, giá trị hiện tại thuần thể hiện giá trị tăng thêm của khoản đầu tư
trù tính của người đầu tư có tính đến giá trị thời gian của tiền.
n
t
t
t
n
t
t
t
IRR
IC
IRR
CF
00
)1()1(
Hay
n
t
t
t
n
Thông thường để thực hiện phép thử người ta cho i2>i1, i2-i1=5%
Nguyên tắc quyết định: Khi sử dụng doanh lợi nội bộ làm chỉ tiêu xem
xét chấp nhận hay loại bỏ dự án, thông thường người ta dựa trên cơ sở so
sánh tỷ suất doanh lợi nội bộ với tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hiện tại hóa giá trị
dự án .
Ưu điểm :
Là đại lượng cho phép đánh giá mức sinh lời của dự án có tính đến giá trị
của thời gian của tiền tệ.
Đây là mức tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận được mà
không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay và
do đó nợ vay(vốn gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn thu của dự án.
Nhược điểm :
Trong phương pháp này, thu nhập của dự án được giả định tái đầu tư với
lãi xuất bằng với tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án . Điều đó thật không phù
hợp với thực tế , nhất là đối với dự án có tỷ suất doanh lợi nội bộ cao.
Phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ không chú trọng đến quy mô vốn
đầu tư nên có thể dẫn đến trường hợp kết luận chưa thỏa đáng khi đánh giá
dự án .
2.4. Phương pháp chỉ số sinh lời:
Chỉ số sinh lời cũng là một thước đo khả năng sinh lời của một dự án đầu
tư, có tính đến giá trị thời gian của tiền tệ.
Chỉ số sinh lời được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị hiện tại các khoản thu
nhập do đầu tư mang lại và giá trị hiện tại của vốn đầu tư.
- Nếu IR<1Tức NPV < 0 : Dự án bị loại
- Nếu IR=1 Việc chấp nhận hay loại bỏ dự án tùy thuộc vào nhà đầu tư
Phương pháp này cho thấy mối quan hệ giữa các khoản thu nhập do đầu tư
đem lại với số vốn đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án . Phương pháp này
thường cũng giả định tỷ lệ tái đầu tư bằng với chi phí sử dụng vốn, điều này
tương tự như phương pháp NPV, nó phù hợp hơn phương pháp tỷ suất
doanh lợi nội bộ.
Tuy vậy phương pháp này cũng giống như phương pháp tỷ suất doanh lợi
nội bộ ở chỗ : không phản ánh khối lượng lợi nhuận ròng của dự án .
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NƯỚC GIẢI KHÁT RAU CÂU
SEAVEG™ :
1. Một số quy định về tiêu chuẩn sản xuất:
Phương pháp lấy mẫu ( Theo TCVN 4067-85)
Phương pháp xác định khối lượng tịnh, các chỉ tiêu cảm quan (TCVN
4068-85)
Phương pháp xác định hàm lượng đường tổng số(TCVN 4074-85)
Chỉ tiêu vệ sinh ( Theo TCVN 5908-1995)
BẢNG CHỈ TIÊU CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM THẠCH NƯỚC RAU CÂU SEAVEG™
STT Tên chỉ tiêu Quy định Phương pháp thử
1
Vi khu
ẩn gây bệnh(KL/g) Không được có TCVN 4991-89
2
Ecoli(KL/g)
Không được có TCVN 5155-90
3
Clferingens(KL/g)
- Khối lượng sản phẩm được sản xuất : Để dự đoán sản xuất đủ khối lượng
cần có những yếu tố hỗ trợ khác như các thông tin tổng hợp từ thị trường,
kết hợp với khả năng sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng và thỏa mãn thị
trường tối đa.
- Tính liên tục về chất lượng sản phẩm: Có liên hệ chặt chẽ với hai yếu tố
trên nhằm tạo hiệu ứng “dòng chảy” liên tục để thu hút người bán và người
vận chuyển.
- Yếu tố cuối cùng là giá cả : Tính ổn định , liên tục của chất lượng sản
phẩm sẽ được thể hiện qua giá cả của hàng hóa của người sản xuất đến đâu
với chỗ đứng của sản phẩm trên thị trường.
Khi nhà sản xuất đã thỏa mãn được 3 yếu tố đầu tiên mà thị trường đòi hỏi
thì chắc chắn sẽ thu được giá trị cao hơn so với giá trị trung bình về khối
lượng và chất lượng. CHƯƠNG II
DỰ ÁN SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH THẠCH NƯỚC RAU
CÂU SEAVEG ™.
I.TÓM TẮT CHÍNH YẾU:
- Sản phẩm được doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với thương hiệu là
Thạch nước rau câu Seaveg™.
- Địa điểm sản xuất : Nhà xưởng sản xuất của công ty được đặt tại KCN
Bình Hàn, phần đất thuê trong khu quy hoạch công nghiệp vừa và nhỏ của
thành phố Hải Dương, cách Hà Nội 60 km. Diện tích khoảng 5000 m2.
- Thời điểm hoạt động được bắt đầu từ ngày 1/1/2004. Thời gian hoạt động
của dự án là 5 năm.
- Thị trường: Do điều kiện khí hậu Việt Nam nằm trong khu vực nóng ẩm
(ở miền Bắc có một mùa nóng khoảng 4- 5 tháng , các tỉnh khu vực phía
rau câu năm 2003 là 18500 tấn và năm 2004 là 21500 tấn. Trong khi đó khả
năng cung cấp của các cơ sở trong nước và ngoàI nước và nhập khẩu mới
chỉ đạt 17824 tấn trong năm 2003 và 18320 tấn trong năm 2004. Từ sự
phân tích và đánh giá của phòng kinh doanh thì việc ra đời 1 công ty sản
xuất thạch nước giảI khát là hợp lý và đúng thời cơ.
2. Khách hàng và nhu cầu của khách hàng:
- Khách hàng của doanh nghiệp:
Qua số liệu điều tra của phòng kinh doanh- tiếp thị của doanh nghiệp thì
chỉ tính riêng trên thị trường Hà Nội có khoảng 20 siêu thị lớn nhỏ, 700 đến
900 cửa hàng kinh doanh tổng hợp các mặt hàng tiêu dùng trong đó có kinh
doanh mặt hàng giải khát và phân bố không đều theo từng khu vực. Tập
trung lớn nhất là các khu bán buôn tại quận Hoàn Kiếm, các quận khác là
Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân… thì có hệ thống bán lẻ rất lớn tập
trung nhiều ở các khu đông dân cư, vui chơi giải trí…cũng như vậy với hệ
thống phân phối trên khắp các tỉnh thành : Thành phố Vinh, Huế, Đà Nẵng,
Thành phố Hồ Chí Minh… thì mạng lưới phân phối là vô cùng lớn và rất
nhiều tiềm năng là khách hàng trong hệ thống phân phối sản phẩm cho
doanh nghiệp. Cũng qua khảo sát và nghiên cứu, thì người tiêu dùng trực
tiếp sản phẩm cùng loại được sản xuất thì đối tượng chủ yếu là trẻ em từ 3-
10 tuổi có nhu cầu sử dụng sản phẩm cao hơn các nhóm khách hàng khác từ
20 đến 30% do thói quen ăn quà vặt và với khả năng tài chính có hạn(tiền ăn
quà của bố, mẹ cho buổi sáng hàng ngày)…
- Nhu cầu của khách hàng:
Thói quen tiêu dùng của khách hàng có nhiều thay đổi do điều kiện kinh
tế, khả năng thu nhập, thói quen tiêu dùng hiện đại ( thực phẩm chế biến
sẵn, lựa chọn sản phẩm của các hãng sản xuất có uy tín trên thị trường…).
Cho nên, họ e ngại và rất khắt khe với những sản phẩm mới có mặt trên thị
trường, đặc biệt là những sản phẩm thực phẩm chưa có tên tuổi, không có
nguồn gốc xuất xứ…Điều này khiến cho những nhà sản xuất cơ hội chinh
lý
Nhà
bán
buôn Siêu
thị Nhà
bán
l
ẻ
NGƯỜI
TIÊU
DÙNG
Giá bán dự kiến tới tận tay người tiêu dùng là 2000 đồng/ cốc.
Bảo quản ở nhiệt độ thường.
4. Chiến lược và tiếp cận thị trường:
Để tiếp cận thị trường, sản phẩm sẽ được phân phối trên hệ thống khách
hàng sẵn có của công ty. Điều này sẽ giảm rất nhiều những chi phí quản lý
cũng như củng cố thêm thị phần mà công ty đang nắm giữ là hệ thống kênh
phân phối một cấp và hệ thống kênh phân phối hai cấp như biểu đồ dưới đây
doanh nghiệp đang áp dụng:
- Kênh một cấp: Đó là từ doanh nghiệp sản xuất mang hàng đi bán trực tiếp
thời.
5. Cạnh tranh - thị phần dự kiến:
5.1. Cạnh tranh:
- Với hàng nhập lậu qua biên giới:
Hiện có rất nhiều sản phẩm cùng loại được lưu hành trên thị trường chủ
yếu sản xuất tại Trung Quốc, mặt hàng này tuy giá cả rất rẻ chỉ 40 -45 ngàn
đồng / thùng 10 kg, mẫu mã không đa dạng chất lượng sản phẩm không
được đảm bảo và có sử dụng các phụ gia bảo quản và chế biến bị Bộ Y Tế
cấm sử dụng như chất tạo ngọt hóa học, phẩm màu… Mặt khác tâm lý e
ngại khi sử dụng hàng ăn uống của người tiêu dùng với hàng hóa có nguồn
gốc từ Trung Quốc (đặc biệt là khu vực thành thị- nơi mà thu nhập, mức tiêu
dùng tương đối cao) là rất đáng quan tâm. Mặt hàng này không có một cơ
quan có chức năng của Bộ Y Tế thẩm định an toàn vệ sinh và cấp phép lưu
hành.
Dự đoán: trong thời gian tới họ sẽ mất 30- 40% thị phần.
- Với hàng sản xuất trong nước:
Một nét đặc trưng của các cơ sở trong nước là công nghệ nhập khẩu sử
dụng để chế biến là tương đối giống nhau (vì trong nước ta chưa sản xuất
được) cho nên việc phát triển thương hiệu gắn liền với sản phẩm là hướng đi
cho việc cạnh tranh trong bán hàng(đặc biệt các doanh nghiệp phía Nam).
Xu hướng dùng nguyên liệu hoa quả tự nhiên để chế biến nước giải khát
ngày càng tăng do nhu cầu của thị trường và việc phát huy thế mạnh khai
thác nguồn nguyên liệu hoa quả tại chỗ để chế biến vào sản phẩm sẽ tăng
tính cạnh tranh cho sản phẩm. Một số doanh nghiệp như công ty chế biến
thực phẩm Nghĩa Mỹ, Ten Ten (thành phố Hồ Chí Minh) có hệ thống bán
hàng mạnh tại các tỉnh miền Nam, đầu tư cơ sở hạ tầng mạnh và đa dạng
hóa chủng loại hàng cũng chế biến sản phẩm thạch rau câu đã phát huy
nguồn nguyên liệu tại chỗ chôm chôm, dứa, xoài… là hoa quả đặc trưng ở
miền Nam vào sản phẩm của mình. Ước tính mức tăng dự kiến về mặt thị
Nghĩa Mỹ 1700-1800 Khá Khá Miền nam Trung
bình
Hàng T.Quốc 800-1100 Kém Kém Miền Bắc Rẻ
Ten Ten 1250-1400 Khá Khá Miền nam Trung
bình
ABC 2500-2700 Khá Đẹp Toàn quốc Cao
Long Hải 2150-2300 Khá Khá Toàn quốc Trung
bình
Loại khác Còn lại T.bình
Khá Toàn quốc Rẻ
Nguồn : Phòng kế hoạch thị trường Long Hải
Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được sản xuất:
Từ bảng trên cho thấy có một thị trường thích hợp tồn tại cho một cơ sở có
nhiều loại nước giải khát ở mức giá không quá cao, chất lượng tốt, đưa ra
nhiều sự chọn lựa cho khách hàng những sản phẩm tốt như ngoại nhập, giá
thành hạ hơn, và chăm sóc khách hàng tốt hơn.
5.2. Dự kiến về quy mô của thị trường:
Theo số liệu dự đoán, tổng lượng hàng nước giải khát chứa rau câu cùng
loại trên thị trường khoảng 18500 tấn/ năm. Do có sự điều tiết, chủ động về
lượng hàng hóa trên thị trường nên doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm
hàng lưu kho tránh việc tồn đọng vốn lưu động. Trong năm đầu tiên doanh
nghiệp sẽ đẩy mạnh xúc tiến bán hàng như : tăng cường khuyến mãi, tham
gia các hoạt động quảng bá sản phẩm trên các kênh phân phối toàn quốc, ở
các trung tâm hội chợ truyển lãm. Bằng tất cả nguồn lực của mình doanh
nghiệp sẽ cố gắng đạt 4% thị phần cho sản phẩm mới cho năm thứ nhất
(khoảng 740 tấn nước thành phẩm).
IV. CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH:
1. Đầu vào (nguyên vật liệu, lao động):
hàng tại kho nhà sản xuất.
Tem nắp: chỉ sử dụng cho một lần/ một sản phẩm, được cung cấp bởi công
ty bao bì TRAPACO với giá thành được chào bán là 120 000 đồng một cuộn
sử dụng cho 5 tấn sản phẩm.
Bao bì đựng thành phẩm : Bìa carton 3 sóng, kích thước 60x60x50cm , giá
thành 3200 đồng/ hộp, giao hàng sau 3 ngày, cung cấp bởi công ty bao bì
NGỌC DIỆP, địa chỉ tại : Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên. Dự kiến số
lượng bao bì cho năm đầu tiên sản xuất là 16 000 cái.
Cốc đựng sản phẩm: chỉ sử dụng cho một lần/ một sản phẩm. Được công
ty sản xuất nhựa DUY TÂN chế tạo khuôn và đúc mẫu khuôn sản phẩm, giá
thành được chào bán là 40 đồng/ cốc. Với doanh số dự tính khi bán hàng của
sản phẩm rau câu của doanh nghiệp thì số lượng cốc tiêu thụ sẽ là khoảng
500 000 đến 800 000 chiếc.
1.2. Lao động:
Với việc tận dụng nguồn nhân lực sẵn có của công ty nên không mất nhiều
chi phí đào tạo nghề cho công nhân(chủ yếu ở khâu đóng gói thành phẩm).
Hơn nữa, nguồn lao động tại địa phương rất lớn, rẻ so với các địa phương
khác như Hà Nội, Hải Phòng… Nên việc doanh nghiệp có thể thuê
ngoài(qua các trung tâm giới thiệu việc làm) khi thực hiện những đơn đặt
hàng lớn trong thời gian gấp mà không sợ thiếu nhân lực.
2. Các chi phí dự tính:
BẢNG CÁC CHI PHÍ BAN ĐẦU (DỰ KIẾN)
Đơn vị : Triệu đồng
Stt Khoản mục Số tiền
1
Chi phí XDCB
500
2