Luận văn - nghiên cứu, phân tích và đánh giá các mặt của hoạt động sản xuất và kinh doanh - Pdf 66

Luận văn
Nghiên cứu, phân tích và đánh
giá các mặt của hoạt động sản
xuất và kinh doanh
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Lời mở đầu
Xã hội càng phát triển thì hoạt động sản xuất, kinh doanh càng giữ vai trò
quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công tác nghiên cứu,
phân tích và đánh giá các mặt của hoạt động sản xuất và kinh doanh vì thế mà ngày
càng được quan tâm trong các doanh nghiệp sản xuất. Thông qua phân tích các hoạt
động kinh doanh một cách toàn diện sẽ giúp cho Công ty đánh giá đầy đủ và sâu
sắc các hoạt động kinh tế của mình, tìm ra các mặt mạnh và mặt yếu trong công tác
quản lý của Công ty. Mặt khác qua phân tích kinh doanh sẽ giúp cho các Công ty
tìm ra các biện pháp tăng cường các hoạt động kinh tế và quản lý Công ty nhằm
huy động mọi khả năng tiềm tàng về tiền vốn, lao động, đất đai... của Công ty vào
quá trình sản xuất kinh doanh.
Được sự hướng dẫn của cô Tô Thị Phượng và sự giúp đỡ của Ban giám đốc
và các phòng ban trong Công ty VT, XD và chế biến lương thực Vĩnh Hà em đã
cố gắng hoàn thành báo cáo thực tập tổng hợp của mình. Qua Báo cáo này, em đã
có được cái nhìn tổng quan về các mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của Công
ty. Điều này giúp em có định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn “Chuyên đề thực
tập tốt nghiệp” của mình. Song, do thời gian thực tập còn hạn chế nên em chưa thể
đi sâu vào phân tích từng vấn đề cụ thể của Công ty. Đồng thời, không thể tránh
khỏi những sai sót trong bài báo cáo của mình, em rất mong nhận được sự đóng
góp của Thầy Cô.
Hà Nội 03/2003
Sinh viên

Trần Văn Trường
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
2

Giai đoạn 1986 -1988: Công ty tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực vận chuyển
lương thực, bước đầu làm quen với việc tự hoạt động kinh doanh và khai thác địa
bàn hoạt động trên toàn quốc. Đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến tích cực trong
hoạt động của Công ty từ chỗ được Nhà nước bao cấp toàn bộ sang hoạt động theo
cơ chế tự hạch toán kinh doanh .
Giai đoạn từ 1988- 1990: Công ty tiếp tục thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh, vận tải hàng hoá đông thời tiến hành kinh doanh các mặt hàng lương thực
trên thị trường, chủ yếu là kinh doanh mặt hàng gạo các loại.
Năm 1991 xí nghiệp quyết định mở thêm xưởng sản xuất vật liệu xây dựng.
Trong thời kỳ đầu xưởng làm ăn hiệu quả, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều
lao động. Nhưng sau đó hàng nước ngoài tràn vào, hàng xí nghiệp không cạnh
tranh được do kỹ thuật lạc hậu.
Đến ngày 8/01/1993 Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã ra quyết
định số 44NN/TCCB- quyết định thành lập Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến
lương thực Vĩnh Hà
Đến năm 1995 Công ty mở thêm xưởng sản xuất bia, xưởng này hoạt đông rất
hiệu quả
Năm 1997 do việc sát nhập với Công ty vật tư bao bì đã làm dư thừa lực lượng
lao động và cùng với việc xem xét nhu cầu thị trường Công ty đã quyết định mở
xưởng sản xuất sữa đậu nành và xưởng chế biến gạo chất lượng cao.
Giai đoạn từ 1997 đến nay : Việc mở rông quy mô hoạt động này giúp Công
ty khai thác thêm được thị trường và giúp Công ty giải quyết được số nhân công
dôi dư trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu tổ chức nhân sự của Công ty.
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
4
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Hiện nay, Công ty đang tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên ba
chủng loại chính là Bia hơi, Sữa đậu nành và Gạo các loại. Việc tập trung vào kinh
doanh ba mặt hàng chính đó của Công ty là phù hợp với trình độ trang thiết bị
phục vụ cho sản xuất và khả năng về vốn hiện có của Công ty.

Bắc thực hiện chính sách quản lý thị trường của Nhà nước như bình ổn giá cả,
quản lý chất lượng sản phẩm, chống hàng giả, hàng nhái mẫu, thực hiện hỗ trợ các
Công ty địa phương về nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm trong những lúc khó khăn.
Mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước. Chú trọng phát triển mặt
hàng xuất khẩu qua đó mở rộng sản xuất tạo công ăn việc làm cho người lao động,
góp phần ổn định xã hội.
Bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao, thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào
ngân sách Nhà nước.
IV. kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian qua
Kết quả hoạt động sản xuất king doanh của Công ty trong thời kỳ gần đây đạt
được một số thành tựu đáng kể nhờ vào những nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm; bảng số liệu trình bày dưới
đây cho thấy các tác động tích cực đó lên việc tăng doanh thu, lợi nhuận đạt được,
cải thiện thu nhập bình quân của công nhân
Biểu 2: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong những năm gần đây
Chỉ tiêu ĐVT 2000 2001 2002
Doanh thu Triệu đồng 68.000 70.000 73.100
Giá trị xuất khẩu Triệu USD 3,7827 4,1121 4,28
Nộp ngân sách Triệu đồng 1325 1389 1416
Lãi để lại Triệu đồng 1230 1267 1.310
Sản lượng tiêu thụ
Gạo các loại
Sữa
Bia
Phân bón
Tấn
1000lít
1000lít
Tấn

cách chính xác ta phải căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận. Với chỉ tiêu lợi nhuận ta thấy
năm 2000 lãi để lại là 1230 triệu, sang năm 2001 lãi tăng lên 1267 triệu (tăng 3% so
với năm 2000) và đến năm 2002 cũng lãi đã tăng lên 1310 triệu ( tăng 3,5% so với
năm 2001) và năm 2002 cũng là năm Công ty làm ăn hiệu quả nhất (lãi cao nhất ).
Nếu xét chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ta thấy:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2000 là 1,8%, sang năm 2001 tỷ suất
này là : 1,78 % và năm 2002 là 1.79%. như vậy năm 2001, 2002 tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu đã giảm so với năm 2000, chứng tỏ lãi trên doanh thu đã giảm đi,
chi phí và các khoản khác đã tăng lên.
Xét về chỉ tiêu khối lượng tiêu thụ những sản phẩm chính:
• Gạo là sản phẩm có khối lượng tiêu thụ mạnh nhất hàng năm, nó là thế
mạnh của Công ty. Năm 2000 tiêu thụ được 23000 tấn, đến năm 2001 đã tăng
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
7
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
lên 30.300 tấn (tăng 31% so với năm 2000 ) và năm 2002 tiêu thụ 40.000 tấn
(tăng 32% so với năm 2001). đây là sản phẩm truyền thống mang lại lợi nhuận
cao cho Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà với khối
lượng tiêu thụ sản phẩm khá ổn định đã giúp Công ty hoàn thành kế hoạch xuất
khẩu gạo, bình ổn giá gạo cho khu vực miền Bắc.
• So với gạo, bia hơi và sữa đậu nành có khối lượng tiêu thụ biện động
hơn. năm 2000 tốc độ tăng trưởng có vẻ chậm lại so với năm 1999 và năm 2000
này chỉ đạt 260.000 lít sữa và 300.000 lít bia. Đến năm 2001 sản lượng tiêu thụ
sữa tăng lên 23% và bia tăng lên 6% so với năm 2000. Sang năm 2002 sản
lượng tiêu thụ sữa tăng lên 9% và bia tăng 2% so với năm 2001. Tốc độ tăng 2
mặt hàng này nhìn chung không ổn định và có xu hướng chậm lại. Điều này một
phần do ngành nước giải khát đang gặp khó khăn, mặt khác do cạnh tranh gay
gắt trên thị trường nước giải khát nội địa. Sự cạnh tranh mạnh mẽ của các Công
ty nước giải khát quốc tế (các Công ty liên doanh, Công ty nước ngoài ) là sức
ép cho thị trường nước giải khát nội địa. Nó đã làm giảm thị phần đối với sản

PHần II
Công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty
I. Đặc điểm về công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty
Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ là yếu tố quyết định cho sự phát triển
của sản xuất kinh doanh, là cơ sở để Công ty khẳng định vị trí của mình trên thị
trường.
Công nghệ và đổi mới công nghệ là động lực, là nhân tố phát triển trong các
Công ty. Đổi mới là yếu tố, là biện pháp cơ bản giữ vai trò quyết định để Công ty
giành thắng lợi trong sản xuất kinh doanh. Công nghệ lạc hậu sẽ tiêu hao nguyên
vật liệu nhiều hơn, chi phí nhân công và lao động nhiều hơn, công nghệ lạc hậu khó
có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của
con người.
Nền kinh tế hàng hoá thực sự đề ra yêu cầu bức bách, buộc các Công ty
muốn tồn tại và phát triển, muốn có vị trí vững chắc trong quá trình cạnh tranh đều
phải gắn khoa học sản xuất với khoa học kỹ thuật và coi chất lượng sản phẩm là vũ
khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường và là phương pháp có hiệu quả tạo
ra nhu cầu mới.
Ngành sản xuất bia hơi, sữa đậu nành là một trong những ngành có công
nghệ tương đối phức tạp. Muốn sản xuất ra một lít sữa đậu nành hay một lít bia từ
các nguyên liệu đầu vào như đậu tương, Búp lông phải trải qua nhiều quy trình và
mỗi quy trình lại gồm nhiều công đoạn, giai đoạn khác nhau. Trong mỗi quy trình
lại đòi hỏi áp dụng các lĩnh vực khoa học khác nhau nên sự kết hợp hài hoà đồng
bộ của các dây chuyền sản xuất là rất quan trọng đối với Công ty.
Trong những năm qua, Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực
Vĩnh Hà bằng nguồn vốn tự có và nguồn vốn Công ty huy động được, Công ty đã
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
10
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
trang bị ba hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm
chính của mình.

qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
12
Bộ
phận
trộn các
nguyên
liệu
Các
thùng
chứa
th nh à
phẩm
L m à
lạnh
Bộ
phận
chưng
cất
Bộ
phận
khử
trùng
Thùng
lên men
Bộ phận phân
loại
Khâu đóng baoLọc sau
Máy đánh bóng
Máy s ng à
chuyển

Sản xuất bia 1980 Việt Nam 1992 1tỷ 800 triệu
(nguồn: báo cáo về tình hình trang thiết bị phục vụ sản xuất của Công ty )
Bên cạnh các yếu tố về trang thiết bị phục vụ sản xuất đã nêu trên, Công ty
còn có những yếu tố cơ sở vật chất khác cũng rất thuận lợi như: diện tích mặt bằng
Công ty rộng, các kho tàng kiên cố ,tập trung và có tổng diện tích cuẩ kho là rất
lớn. Những điểm thuận lợi đó giúp cho Công ty chủ động trong việc dự trữ đầy đủ
các nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất và bảo quản tốt được các thành
phẩm được sản xuất ra.
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
14
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Phần III
Cơ cấu sản xuất của Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương
thực Vĩnh Hà
I. Đặc điểm về cơ cấu sản xuất của Công ty
Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà là một Công ty
lớn vì vậy các bộ phận sản xuất được phân chia dựa trên nguyên tắc về chức năng
và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mỗi bộ phận. Cơ cấu sản xuất của Công ty
được tổ chức phân chia thành những bộ phận sản xuất chính, phụ, phụ trợ và phục
vụ sản xuất.
Bộ phận sản xuất chính bao gồm các dây chuyền sản xuất sữa đậu nành - bia
hơi – chế biến gạo các loại của các phân xưởng tương ứng tương ứng.
Phân xưởng sản xuất sữa đậu nành với tổng diện tích 300 m
2
, 52 công nhân
với nhiệm vụ sản xuất sữa đậu nành để đáp ứng nhu cầu thị trường
Phân xưởng sản xuất bia hơi với diện tích 250 m
2
, 20 công nhân với nhiệm vụ
sản xuất bia để cung ứng cho thị trường nước giải khát

chỉ huy, điều hành, kiểm soát phải tốt. Muốn vậy, Công ty phải có một bộ máy tổ
chức quản lý gọn nhẹ, hợp lý và hoạt động hiệu quả.
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
16
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Phần IV
Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
I. Đặc điểm bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty
Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà được quản lý theo
chế độ một thủ trưởng, trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ tập thể của người lao
động. Theo hình thức này giám đốc Công ty là người quản lý điều hành và chịu
trách nhiệm với cấp trên về quá trình và kết quả hoạt động của Công ty. Giám đốc
là người được Nhà nước giao quyền và chịu trách nhiệm quản lý sử dụng số tài sản
thuộc sở hữu của Nhà nước để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước đề ra. Sự giám
sát theo dõi và những quyết định của giám đốc dựa trên cơ sở báo cáo từ các phòng
ban, mà đứng đầu là các trưởng phòng ban và xí nghiệp thành viên mà đứng đầu là
các quản đốc xí nghiệp.
Trưởng phòng ban và giám đốc xí nghiệp là người có nhiệm vụ tổng hợp báo
cáo thực hiện cụ thể theo yêu cầu nhiệm vụ của phòng ban mình để phân công điều
hành và quản lý các nhân viên cấp dưới và chịu trách nhiệm trước giám đốc Công
ty.
ii. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, bất kỳ Công ty nào đều có bộ
máy tổ chức quản lý với chức năng nhiệm vụ cụ thể để điều hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty mình. Công ty tổ chức quản lý theo mô hình trực
tuyến chức năng, theo cơ cấu này giám đốc trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm
với cấp trên về quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty, giúp việc
giám đốc có 2 phó giám đốc phụ trách từng lĩnh vực cụ thể. Các phòng ban chuyên
môn hoá chức năng và tham mưu cho giám đốc. Với mô hình này, công ty phát huy
được năng lực của phòng ban bộ phận, tạo điều kiện cho họ thực hiện chức năng

Bảo vệ
Xưởng
Chế biến
Gạo
Xưởng
Sản xuất
Bia hơi
Xưởng
sản xuất
sữa đậu
n nhà
Cửa h ngà
dịch vụ I
Cửa h ngà
dịch vụ II
Phòn
g kỹ
thu tậ
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
1.Ban Giám đốc: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc
Giám đốc: là người nắm quyền hành cao nhất chịu trách nhiệm điều hành
chung về các hoạt động sản xuất kinh doanh trong Công ty, chịu trách nhiệm trước
cấp trên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Hai Phó Giám đốc có nhiệm vụ cố vấn, trợ giúp cho Giám đốc trong công tác
chỉ huy, điều hành và quản lý Công ty.
2. Các Phòng ban - chức năng, nhiệm vụ
Phòng kỹ thuật: về chức năng Kế hoạch phòng này chịu trách nhiệm với Kế
hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của Công ty để tiến tới điều độ sản xuất hàng
tháng, hàng quý cho Công ty. Về chức năng kỹ thuật sẽ chịu trách nhiện quản lý
máy móc, thiết bị....cùng với hoàn chỉnh công nghệ đối với các mặt hàng và chịu

thời là nơi trưng bày và giới thiệu sản phẩm của Công ty.
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
20
Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Phần V
Hoạch định chiến lược và kế hoạch
phát triển Công ty
I. ảnh hưởng của các nhân tố đến công tác hoạch định chiến lược và kế hoạch phát
trển doanh nghiệp
1. Môi trường kinh tế và môi trường ngành :
1.1 Môi trường kinh tế quốc dân :
1.1.1 Môi trường kinh tế :
Môi trường kinh tế là môi trường có liên quan trực tiếp đến thị trường tiêu thụ
sản phẩm của Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà , nó
quyết định những đặc điểm chủ yếu của thị trường như: dung lượng, cơ cấu, sự
phát triển trong tương lai của cầu, của cung, khối lượng hàng hoá và giá trị hàng
hoá trao đổi trên thị trường .
Một số nhân tố kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược của
Công ty :
+ Nguồn tài nguyên, nguyên liệu, tài chính.
+ Sự phân bổ và phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Sự phát triển của sản xuất hàng hoá.
+ Thu nhập quốc dân.
+ Thu nhập bình quân đầu người.
1.1.2 Môi trường văn hoá xã hội, dân cư.
a. Văn hoá xã hội :
Các nhân tố văn hoá xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của từng bộ phận dân
cư và sự giao lưu giữa các bộ phận dân cư khác nhau. Các nhân tố này ảnh hưởng
đến thị hiếu tập quán tiêu dùng của dân cư. Trong số các nhân tố văn hoá xã hội
phải kể đến :

Báo cáo tổng hợp trần văn trường
Đây là môi trường có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong cạnh
tranh của Công ty bởi nó ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện trên các lĩnh vực hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Những ảnh hưởng của khoa học công nghệ cho ta thấy được các cơ hội
và thách thức cần phải được xem xét trong việc soạn thảo và thực thi chiến lược sản
xuất kinh doanh.
Những phát minh mới về khoa học công nghệ làm thay đổi nhiều tập quán và
tạo xu thế mới trong tiêu dùng và cho ra nhiều sản phẩm mới.
1.2 Môi trường ngành
1.2.1 Tình hình cạnh tranh trên thị trường của Công ty
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty là thị trường cạnh tranh tự do, có rất
nhiều Công ty cùng hoạt động trên thị trường và các sản phẩm trên thị trường có sự
đồng nhất, các sản phẩm do vậy ít có sự khác biệt lớn. Cho nên sự cạnh tranh trên
thị trường là rất gay gắt. Các sản phẩm của Công ty trên thị trường không chỉ phải
cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các Công ty cạnh tranh khác mà còn
chịu sức ép rất lớn từ các sản phẩm có tính thay thế trong tiêu dùn. Các đối thủ
cạnh tranh của Công ty đối với sản phẩm sữa đậu nành là : Anh Đào, Trường Sinh,
109, 106, Hoa Lư, Ngân Hạnh, Thiên Hương, Hưng Nguyên,... Các đối thủ cạnh
tranh của Công ty đối với bia hơi có : Bia Vi Sinh, bia hơi Hà Nội, bia Việt Hà, bia
của viện thực phẩm. Bên cạnh đó, là sự canh tranh của nhiều cơ sở sản xuất sữa đậu
nành, xưởng sản xuất bia hơi của tư nhân trên thị trường tiêu thụ. Sản phẩm gạo các
loại của Công ty cũng phải chịu sự cạnh tranh với các sản phẩm của các Công ty
kinh doanh lương thực khác và vơí các cơ sở chế biến gạo của tư nhân hiện đang
xuất hiện khá nhiều trên thị trường kinh doanh gạo. Sức ép từ các sản phẩm có tính
thay thế trong tiêu dùng trên các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ trên thị
trường cũng rất lớn. Các sản phẩm đó như : nước ngọt, nước hoa quả, nước khoáng
nước tinh lọc, nước giải khát có ga,...đều là những sản phẩm của những Công ty có
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
23

Báo cáo tổng hợp trần văn trường
- Giá cả hàng hoá có liên quan.
- Giá cả của hàng hoá mà Công ty đã, đang và sẽ sản xuất, tiêu thụ.
- Thị hiếu của người tiêu dùng.
- Kỳ vọng của người tiêu dùng.
Sản phẩm của Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà
thuộc vào loại các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt của con người,
hơn nữa giá thành sản phẩm lại không cao nên phù hợp với người có thu nhập trung
bình, do đó thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty ở các tỉnh chiếm tỷ trọng
hàng hoá tiêu thụ lớn. Do các sản phẩm của Công ty đều là các mặt hàng thông
dụng cho nên thị hiếu người tiêu dùng trên thị trường là thường xuyên thay đổi, và
xu hướng chung là khách hàng đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, mẫu mã và sự
đa dạng của các sản phẩm trên thị trường.
Hiện nay, thị trường của Công ty bao gồm các tỉnh miền Bắc và một số tỉnh ở
miền Trung, do đó Công ty có cơ cấu khách hàng đa dạng xét theo khía cạnh địa
bàn phân phối và quy mô các khách hàng
Bảng 4 : cơ cấu khách hàng của Công ty
Các tiêu chí phân loại Lượng sản phẩm tiêu thụ
Sữa đậu nành Gạo các loại Bia hơi
Tuyệt đối
(1000lít)
Tươn
g đối
(%)
Tuyệt đối
( Tấn )
Tương
đối
(%)
Tuyệt đối

84,6
201,6
27
63
qtkd9-hn khoa kinh tế pháp chế
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status